


BÒ KHO
Cách nấu bò kho ngon đúng điệu đơn giản và dễ làm chứ không hề khó và bí quyết chính là phần chọn thịt bò và ướp sao cho chuẩn. Bớt chút thời gian khoảng 25 phút ướp và 30 phút nấu là bạn đã có món kho hấp dẫn để chiêu đãi cả gia đình thân yêu.
Nguyên liệu làm bò kho
- Thịt nạm bò 1kg (phần thịt có chứa gân bò)
- Cà rốt: 500g
- Bánh mì
- Dầu điều
- 2 Gói bột gia vị bò kho, bột năng
- Sả, gừng, hành khô và tỏi
- Ớt tươi, hoa hồi
- Gia vị: Muối, dầu ăn, đường, hạt tiêu, bột ngọt
- Rau húng quế, ngò gai
Bước 2: Ướp thịt bò
Thịt bò sau khi thái miếng cho vào ướp với 2 thìa cà phê muối, 2 thìa đường, 2 thìa bột gia vị bò kho, hạt tiêu, thêm chút dầu điều sau đó cho ½ tỏi, gừng và hành băm vào rồi trộn đều để khoảng 25 phút cho thịt ngấm đều gia vị. (Thêm ớt, sa tế nếu bạn thích ăn cay).
Bước 3: Nấu bò kho
- Bắc nồi lên bếp, cho dầu ăn vào đun nóng rồi cho sả, ½ tỏi, gừng và hành băm còn lại vào phi thơm. Không nên dùng dầu điều để phi thơm gia vị vì khi gặp nhiệt cao, dầu điều sẽ cháy khét gây biến chất.
- Tiếp đó trút thịt bò đã ướp gia vị vào xào, đảo đều đến khi thịt săn lại thì cho thêm chút dầu điều để lên màu cho món ăn hấp dẫn. Sau đó chế nước lọc vào nồi cho xâm xấp mặt thịt tiếp rồi cho hoa hồi vào đun sôi nhỏ lửa khoảng 20 phút rồi vớt hoa hồi ra. Có thể dùng nồi áp suất để kho cho thịt bò nhanh mềm.
- Vớt hoa hồi xong, lấy 4 thìa bột năng hòa vào bát con nước lọc khuấy đều sau đó chế từ từ vào nồi đun sôi đến khi sền sệt. Nêm nếm gia vị sao cho vừa ăn rồi cho cà rốt vào đun nhỏ lửa trong vòng 10 phút là cà rốt chín mềm.
Như vậy, cách nấu bò kho đã xong, thịt mềm ăn giòn ngọt mà không nát, nước kho sền sệt đậm màu vô cùng hấp dẫn chắc chắn ai ăn cũng tấm tắc khen ngon.
Món bò kho ngon nhất này ăn kèm với bánh mì, xé miếng nhỏ chấm nước sốt kho sền sệt ăn kèm với thịt bò, rau húng quế và chút ngò gai sẽ có vị thơm ngọt bùi béo ngậy mà không ngấy hoặc ăn với cơm nóng sẽ rất tuyệt. Có thể bảo quản thịt bò kho trong ngăn mát tủ lạnh, sử dụng trong 2 đến 3 ngày.
Tham khảo thêm cách nấu bò kho với nước dừa thơm bùi đặc biệt
Thịt bò thái miếng cho vào ướp gia vị với bột gia vị bò kho, muối, đường, hạt tiêu và dầu điều, sa tế. Tỏi gừng đập dập băm nhỏ trộn lẫn để ngấm trong 20 phút. Dùng chảo phi thơm tỏi, hành khô và gừng băm rồi cho thịt bò vào xào đến khi săn lại thì cho sả cắt khúc đập dập vào đảo qua rồi tắt bếp.
Múc thịt vào nồi để nấu bò kho, đổ nước dừa tươi vào xâm xấp mặt thịt, cho tiếp vài thanh quế khô để tăng độ thơm hấp dẫn.Đun sôi nhỏ lửa trong 15 phút.
Tiếp đó hòa bột năng với nước dạng sệt sau đó đổ vào nồi nấu, đảo đều nhỏ lửa đến khi nước sền sệt cho cà rốt và hành tây vào đun 10 phút thì tắt bếp. Nêm gia vị vừa ăn.
==========================================================================================
Hiến máu tình nguyện?tốt hay xấu
1 bệnh nhân sau khi nhân máu sau đợt hiến máu tình nguyện đã nhiễm bệnh giang mai
có triệu chứng sứt môi nói không rõ và bị bệnh giang mai đến đời con cháu-nguyên nhân là người hiến máu tình nguyện bị bệnh giang mai
đây là ảnh của em bé sau truyền máu có vi trùng giang mai và trước truyền máu

====================================
một mùa tết bôi thu củi và cành khô từ cây hoa kiểng chết do phân bón npk 15-5-20 minro có ph=5
nhà sản xuất công ty đức thuận lavamix
địa chỉ 33 đường số 1 -phường phước bình quận 9 -thành phố hồ chí minh
điện thoại:028-37 282 555
www.lavamix.vn
=============================================================================================
Tìm hiểu về Mobile Banking PVcomBank
Mobile Banking PVcomBank là một ứng dụng giúp người dùng thực hiện các giao dịch bằng tài khoản ngân hàng do Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam (PVcomBank) cung cấp.
Tại ứng dụng này sẽ cung cấp nhiều dịch vụ tiện ích giúp người dùng không cần phải đến trực tiếp các địa điểm, chi nhánh ngân hàng mà vẫn có thể thực hiện các giao dịch cơ bản như chuyển tiền, thanh toán các loại hóa đơn (vé máy bay, tiền điện...), đăng ký mở thẻ, sổ tiết kiệm online…
Tiện ích của Mobile Banking PVcomBank2
- Thiết kế giao diện phẳng, thân thiện cũng như phù hợp với xu hướng hiện đại ngày này, các thao tác đơn giản, nhanh chóng và tiện lợi.
- Mobile Banking của PvcomBank đảm bảo an toàn bảo mật giao dịch thông qua 2 lớp xác thực: Mật khẩu đăng nhập và OTP – One Time Password (Mật khẩu sử dụng một lần theo từng giao dịch).
- Thực hiện các giao dịch một cách nhanh chóng, hiệu quả tại mọi nơi trên mọi thiết bị di động có kết nối internet.
- Khả năng giao dịch phi tài chính: Bao gồm các dịch vụ tiện ích không cần ra cây ATM, ngân hàng như:
- Tra cứu, truy vấn số dư tài khoản
- Tra cứu thông tin các tài khoản tiết kiệm, khoản vay bạn đang sử dụng
- Tra cứu sao kê giao dịch trong một khoảng thời gian nhất định đã chọn
- Quản lý thông tin cá nhân, thay đổi các thông tin liên quan và mật khẩu…
-
Khả năng giao dịch tài chính: Mobile Banking của PvcomBank ngoài làm được những vấn đề phi tài chính còn rất xuất sắc ghi điểm trong mắt khách hàng thông qua những tiện ích giao dịch tài chính hàng đầu. Điển hình như:
- Chuyển khoản: Khách hàng có thể chuyển khoản nội bộ cùng hệ thống hoặc chuyển khoản liên ngân hàng nhanh chóng, đơn giản mà không cần ra quầy giao dịch. Không những thế, dịch vụ còn cung cấp chuyển qua số tài khoản hoặc số thẻ ATM tiện lợi trong trường hợp bạn quên một trong hai.
- Tiết kiệm online: Với Mobile Banking PvcomBank, khách hàng sẽ dễ dàng thảnh thơi trong việc mở, nộp thêm tiền hoặc rút sổ tiết kiệm. Không những thế, lãi suất khi gửi tiết kiệm online còn cao hơn rất nhiều so với việc tiết kiệm tại quầy.
- Thanh toán dịch vụ: Sẽ không còn đau đầu với các hóa đơn tiền điện, tiền nước, truyền hình cáp, ADSL, vé máy bay… hàng tháng nữa. Giờ đây, tất cả đã trở nên đơn giản với vài thao tác trên thiết bị di động.
- Nạp tiền điện thoại: Bỗng một ngày, tài khoản điện thoại của bạn hoặc bạn bè, người thân hết tiền thì phải làm sao. Đừng quá lo lắng, dịch vụ ngân hàng điện tử sẽ giải quyết công việc này của bạn trong tích tắc.
- Các tính năng nâng cao khác:
- Dễ dàng tìm kiếm, phân biệt các cây ATM với chi nhánh PVcomBank trên toàn quốc
- Cập nhật thường xuyên các thông tin chương trình khuyến mãi hữu ích
- Chủ động nhận biết, lựa chọn và thay đổi ảnh đại diện tài khoản của bạn theo sở thích
- Mobile Banking PVcomBank sẽ tự động lưu và hiển thị những số điện thoại đã từng được thanh toán trong ứng dụng
- Tự động sao lưu và gợi ý các tài khoản thụ hưởng mà bạn đã chuyển tiền để thao tác nhanh hơn trong những lần sau.
Điều kiện, thủ tục đăng ký3
Điều kiện
Để sử dụng dịch vụ, khách hàng phải có tài khoản thanh toán tại PVcomBank và đăng ký dịch vụ
Thủ tục
Khách hàng mang theo CMND đến chi nhánh, phòng giao dịch PVcomBank gần nhất để được hướng dẫn làm thủ tục đăng ký dịch vụ.
Lưu ý: Khách hàng nên đi vào giờ hành chính để mọi giao dịch diễn ra thuận lợi và nhanh chóng.
-
sau khi đăng ký thành công, ngân hàng sẽ cấp cho khách hàng tài khoản và mật khẩu đăng nhập. Bạn chỉ cần tải ứng dụng và sử dụng các tính năng như bình thường.
Link tải ứng dụng Mobile Banking của PVcomBank:
- Hệ điều hành Android
- Hệ điều hành iOS
-
Phí sử dụng dịch vụ4
Mức phí áp dụng với dịch vụ Mobile Banking PVcomBank như sau:
- Phí đăng ký: Miễn phí
- Phí duy trì dịch vụ: Miễn phí
- Thanh toán QRpay: Miễn phí
- Thanh toán hóa đơn, dịch vụ: Miễn phí
- Nạp tiền điện thoại: Miễn phí
- Chuyển tiền nhận ngay Liên ngân hàng: Miễn phí
Nhìn chung, dịch vụ Mobile Banking PVcomBank có rất nhiều ưu điểm và tính năng hữu ích so với các ngân hàng khác. Đây là một ứng dụng thông minh, rất cần thiết trong cuộc sống hiện nay, nếu đã là khách hàng của PVcomBank, bạn nên ưu tiên sử dụng dịch vụ này.
- ==============================================================================================================
-
DÂN SỰ
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Bộ luật dân sự.
Bộ luật này quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự).
Điều 2. Công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự
1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền dân sự được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.
2. Quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.
Điều 3. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự
1. Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.
2. Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.
3. Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.
4. Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
5. Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự.
Điều 4. Áp dụng Bộ luật dân sự
1. Bộ luật này là luật chung điều chỉnh các quan hệ dân sự.
2. Luật khác có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này.
3. Trường hợp luật khác có liên quan không quy định hoặc có quy định nhưng vi phạm khoản 2 Điều này thì quy định của Bộ luật này được áp dụng.
4. Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Bộ luật này và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế.
1. Tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự.
2. Trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định thì có thể áp dụng tập quán nhưng tập quán áp dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này.
Điều 6. Áp dụng tương tự pháp luật
1. Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự.
2. Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này, án lệ, lẽ công bằng.
Điều 7. Chính sách của Nhà nước đối với quan hệ dân sự
1. Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự phải bảo đảm giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp, tình đoàn kết, tương thân, tương ái, mỗi người vì cộng đồng, cộng đồng vì mỗi người và các giá trị đạo đức cao đẹp của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.
2. Trong quan hệ dân sự, việc hòa giải giữa các bên phù hợp với quy định của pháp luật được khuyến khích.
XÁC LẬP, THỰC HIỆN VÀ BẢO VỆ QUYỀN DÂN SỰ
Điều 8. Căn cứ xác lập quyền dân sự
Quyền dân sự được xác lập từ các căn cứ sau đây:
1. Hợp đồng.
2. Hành vi pháp lý đơn phương.
3. Quyết định của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định của luật.
4. Kết quả của lao động, sản xuất, kinh doanh; kết quả của hoạt động sáng tạo ra đối tượng quyền sở hữu trí tuệ.
5. Chiếm hữu tài sản.
6. Sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
7. Bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật.
8. Thực hiện công việc không có ủy quyền.
9. Căn cứ khác do pháp luật quy định.
Điều 9. Thực hiện quyền dân sự
1. Cá nhân, pháp nhân thực hiện quyền dân sự theo ý chí của mình, không được trái với quy định tại Điều 3 và Điều 10 của Bộ luật này.
2. Việc cá nhân, pháp nhân không thực hiện quyền dân sự của mình không phải là căn cứ làm chấm dứt quyền, trừ trường hợp luật có quy định khác.
Điều 10. Giới hạn việc thực hiện quyền dân sự
1. Cá nhân, pháp nhân không được lạm dụng quyền dân sự của mình gây thiệt hại cho người khác, để vi phạm nghĩa vụ của mình hoặc thực hiện mục đích khác trái pháp luật.
2. Trường hợp cá nhân, pháp nhân không tuân thủ quy định tại khoản 1 Điều này thì Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác căn cứ vào tính chất, hậu quả của hành vi vi phạm mà có thể không bảo vệ một phần hoặc toàn bộ quyền của họ, buộc bồi thường nếu gây thiệt hại và có thể áp dụng chế tài khác do luật quy định.
Điều 11. Các phương thức bảo vệ quyền dân sự
Khi quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền:
1. Công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của mình.
2. Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm.
3. Buộc xin lỗi, cải chính công khai.
4. Buộc thực hiện nghĩa vụ.
5. Buộc bồi thường thiệt hại.
6. Hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền.
7. Yêu cầu khác theo quy định của luật.
Điều 12. Tự bảo vệ quyền dân sự
Việc tự bảo vệ quyền dân sự phải phù hợp với tính chất, mức độ xâm phạm đến quyền dân sự đó và không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này.
Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
Điều 14. Bảo vệ quyền dân sự thông qua cơ quan có thẩm quyền
1. Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân.
Trường hợp quyền dân sự bị xâm phạm hoặc có tranh chấp thì việc bảo vệ quyền được thực hiện theo pháp luật tố tụng tại Tòa án hoặc trọng tài.
Việc bảo vệ quyền dân sự theo thủ tục hành chính được thực hiện trong trường hợp luật quy định. Quyết định giải quyết vụ việc theo thủ tục hành chính có thể được xem xét lại tại Tòa án.
2. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng; trong trường hợp này, quy định tại Điều 5 và Điều 6 của Bộ luật này được áp dụng.
Điều 15. Hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền
Khi giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền dân sự, Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền.
Trường hợp quyết định cá biệt bị hủy thì quyền dân sự bị xâm phạm được khôi phục và có thể được bảo vệ bằng các phương thức quy định tại Điều 11 của Bộ luật này.
Mục 1. NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ, NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ CỦA CÁ NHÂN
Điều 16. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự.
2. Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau.
3. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết.
Điều 17. Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
1. Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản.
2. Quyền sở hữu, quyền thừa kế và quyền khác đối với tài sản.
3. Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó.
Điều 18. Không hạn chế năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
Điều 19. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.
1. Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên.
2. Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các điều 22, 23 và 24 của Bộ luật này.
Điều 21. Người chưa thành niên
1. Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.
2. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.
3. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
4. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.
Điều 22. Mất năng lực hành vi dân sự
1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.
Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.
2. Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.
Điều 23. Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
1. Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
2. Khi không còn căn cứ tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Điều 24. Hạn chế năng lực hành vi dân sự
1. Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện.
2. Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác.
3. Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự.
1. Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.
2. Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải được người đại diện theo pháp luật của người này đồng ý theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan hoặc theo quyết định của Tòa án.
Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết phải được sự đồng ý của vợ, chồng hoặc con thành niên của người đó; trường hợp không có những người này thì phải được sự đồng ý của cha, mẹ của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
1. Cá nhân có quyền có họ, tên (bao gồm cả chữ đệm, nếu có). Họ, tên của một người được xác định theo họ, tên khai sinh của người đó.
2. Họ của cá nhân được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ; nếu không có thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tập quán. Trường hợp chưa xác định được cha đẻ thì họ của con được xác định theo họ của mẹ đẻ.
Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo họ của người đó.
Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người có yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em, nếu trẻ em đang được người đó tạm thời nuôi dưỡng.
Cha đẻ, mẹ đẻ được quy định trong Bộ luật này là cha, mẹ được xác định dựa trên sự kiện sinh đẻ; người nhờ mang thai hộ với người được sinh ra từ việc mang thai hộ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
3. Việc đặt tên bị hạn chế trong trường hợp xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này.
Tên của công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam; không đặt tên bằng số, bằng một ký tự mà không phải là chữ.
4. Cá nhân xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự theo họ, tên của mình.
5. Việc sử dụng bí danh, bút danh không được gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
1. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ trong trường hợp sau đây:
a) Thay đổi họ cho con đẻ từ họ của cha đẻ sang họ của mẹ đẻ hoặc ngược lại;
b) Thay đổi họ cho con nuôi từ họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ sang họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi;
c) Khi người con nuôi thôi làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại họ cho người đó theo họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ;
d) Thay đổi họ cho con theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc của con khi xác định cha, mẹ cho con;
đ) Thay đổi họ của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình;
e) Thay đổi họ theo họ của vợ, họ của chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để phù hợp với pháp luật của nước mà vợ, chồng người nước ngoài là công dân hoặc lấy lại họ trước khi thay đổi;
g) Thay đổi họ của con khi cha, mẹ thay đổi họ;
h) Trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định.
2. Việc thay đổi họ cho người từ đủ chín tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó.
3. Việc thay đổi họ của cá nhân không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập theo họ cũ.
1. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi tên trong trường hợp sau đây:
a) Theo yêu cầu của người có tên mà việc sử dụng tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó;
b) Theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi về việc thay đổi tên cho con nuôi hoặc khi người con nuôi thôi làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại tên mà cha đẻ, mẹ đẻ đã đặt;
c) Theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc người con khi xác định cha, mẹ cho con;
d) Thay đổi tên của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình;
đ) Thay đổi tên của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để phù hợp với pháp luật của nước mà vợ, chồng người nước ngoài là công dân hoặc lấy lại tên trước khi thay đổi;
e) Thay đổi tên của người đã xác định lại giới tính, người đã chuyển đổi giới tính;
g) Trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định.
2. Việc thay đổi tên cho người từ đủ chín tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó.
3. Việc thay đổi tên của cá nhân không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập theo tên cũ.
Điều 29. Quyền xác định, xác định lại dân tộc
1. Cá nhân có quyền xác định, xác định lại dân tộc của mình.
2. Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ. Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha đẻ, mẹ đẻ; trường hợp không có thỏa thuận thì dân tộc của con được xác định theo tập quán; trường hợp tập quán khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo tập quán của dân tộc ít người hơn.
Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo dân tộc của cha nuôi hoặc mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì dân tộc của trẻ em được xác định theo dân tộc của người đó.
Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em vào thời điểm đăng ký khai sinh cho trẻ em.
3. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong trường hợp sau đây:
a) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau;
b) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp con nuôi đã xác định được cha đẻ, mẹ đẻ của mình.
4. Việc xác định lại dân tộc cho người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi phải được sự đồng ý của người đó.
5. Cấm lợi dụng việc xác định lại dân tộc nhằm mục đích trục lợi hoặc gây chia rẽ, phương hại đến sự đoàn kết của các dân tộc Việt Nam.
Điều 30. Quyền được khai sinh, khai tử
1. Cá nhân từ khi sinh ra có quyền được khai sinh.
2. Cá nhân chết phải được khai tử.
3. Trẻ em sinh ra mà sống được từ hai mươi bốn giờ trở lên mới chết thì phải được khai sinh và khai tử; nếu sinh ra mà sống dưới hai mươi bốn giờ thì không phải khai sinh và khai tử, trừ trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ có yêu cầu.
4. Việc khai sinh, khai tử do pháp luật về hộ tịch quy định.
Điều 31. Quyền đối với quốc tịch
1. Cá nhân có quyền có quốc tịch.
2. Việc xác định, thay đổi, nhập, thôi, trở lại quốc tịch Việt Nam do Luật quốc tịch Việt Nam quy định.
3. Quyền của người không quốc tịch cư trú, sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam được bảo đảm theo luật.
Điều 32. Quyền của cá nhân đối với hình ảnh
1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.
Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.
Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
2. Việc sử dụng hình ảnh trong trường hợp sau đây không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ:
a) Hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng;
b) Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.
3. Việc sử dụng hình ảnh mà vi phạm quy định tại Điều này thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật.
Điều 33. Quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể
1. Cá nhân có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật.
2. Khi phát hiện người bị tai nạn, bệnh tật mà tính mạng bị đe dọa thì người phát hiện có trách nhiệm hoặc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có điều kiện cần thiết đưa ngay đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi gần nhất; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.
3. Việc gây mê, mổ, cắt bỏ, cấy ghép mô, bộ phận cơ thể người; thực hiện kỹ thuật, phương pháp khám, chữa bệnh mới trên cơ thể người; thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất cứ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải được sự đồng ý của người đó và phải được tổ chức có thẩm quyền thực hiện.
Trường hợp người được thử nghiệm là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc là bệnh nhân bất tỉnh thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con thành niên hoặc người giám hộ của người đó đồng ý; trường hợp có nguy cơ đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân mà không chờ được ý kiến của những người nêu trên thì phải có quyết định của người có thẩm quyền của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
4. Việc khám nghiệm tử thi được thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có sự đồng ý của người đó trước khi chết;
b) Có sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con thành niên hoặc người giám hộ nếu không có ý kiến của người đó trước khi chết;
c) Theo quyết định của người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp luật quy định.
Điều 34. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín
1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.
2. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.
Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
3. Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.
4. Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng.
5. Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.
Điều 35. Quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác
1. Cá nhân có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể của mình khi còn sống hoặc hiến mô, bộ phận cơ thể, hiến xác của mình sau khi chết vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu y học, dược học và các nghiên cứu khoa học khác.
2. Cá nhân có quyền nhận mô, bộ phận cơ thể của người khác để chữa bệnh cho mình. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, pháp nhân có thẩm quyền về nghiên cứu khoa học có quyền nhận bộ phận cơ thể người, lấy xác để chữa bệnh, thử nghiệm y học, dược học và các nghiên cứu khoa học khác.
3. Việc hiến, lấy mô, bộ phận cơ thể người, hiến, lấy xác phải tuân thủ theo các điều kiện và được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác và luật khác có liên quan.
Điều 36. Quyền xác định lại giới tính
1. Cá nhân có quyền xác định lại giới tính.
Việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ giới tính.
2. Việc xác định lại giới tính được thực hiện theo quy định của pháp luật.
3. Cá nhân đã thực hiện việc xác định lại giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được xác định lại theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.
Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật. Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.
Điều 38. Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
1. Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.
2. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác.
3. Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.
Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật quy định.
4. Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 39. Quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình
1. Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền xác định cha, mẹ, con, quyền được nhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và các quyền nhân thân khác trong quan hệ hôn nhân, quan hệ cha mẹ và con và quan hệ giữa các thành viên gia đình.
Con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha, mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha, mẹ của mình.
2. Cá nhân thực hiện quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình theo quy định của Bộ luật này, Luật hôn nhân và gia đình và luật khác có liên quan.
Điều 40. Nơi cư trú của cá nhân
1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống.
2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó đang sinh sống.
3. Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới.
Điều 41. Nơi cư trú của người chưa thành niên
1. Nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha, mẹ có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha hoặc mẹ mà người chưa thành niên thường xuyên chung sống.
2. Người chưa thành niên có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha, mẹ nếu được cha, mẹ đồng ý hoặc pháp luật có quy định.
Điều 42. Nơi cư trú của người được giám hộ
1. Nơi cư trú của người được giám hộ là nơi cư trú của người giám hộ.
2. Người được giám hộ có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của người giám hộ nếu được người giám hộ đồng ý hoặc pháp luật có quy định.
Điều 43. Nơi cư trú của vợ, chồng
1. Nơi cư trú của vợ, chồng là nơi vợ, chồng thường xuyên chung sống.
2. Vợ, chồng có thể có nơi cư trú khác nhau nếu có thỏa thuận.
Điều 44. Nơi cư trú của quân nhân
1. Nơi cư trú của quân nhân đang thực hiện nghĩa vụ quân sự là nơi đơn vị của quân nhân đó đóng quân.
2. Nơi cư trú của sĩ quan quân đội, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng là nơi đơn vị của người đó đóng quân, trừ trường hợp họ có nơi cư trú theo quy định tại khoản 1 Ðiều 40 của Bộ luật này.
Điều 45. Nơi cư trú của người làm nghề lưu động
Nơi cư trú của người làm nghề lưu động trên tàu, thuyền, phương tiện hành nghề lưu động khác là nơi đăng ký tàu, thuyền, phương tiện đó, trừ trường hợp họ có nơi cư trú theo quy định tại khoản 1 Ðiều 40 của Bộ luật này.
1. Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này (sau đây gọi chung là người giám hộ) để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (sau đây gọi chung là người được giám hộ).
2. Trường hợp giám hộ cho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì phải được sự đồng ý của người đó nếu họ có năng lực thể hiện ý chí của mình tại thời điểm yêu cầu.
3. Việc giám hộ phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
Người giám hộ đương nhiên mà không đăng ký việc giám hộ thì vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của người giám hộ.
1. Người được giám hộ bao gồm:
a) Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ;
b) Người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ;
c) Người mất năng lực hành vi dân sự;
d) Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
2. Một người chỉ có thể được một người giám hộ, trừ trường hợp cha, mẹ cùng giám hộ cho con hoặc ông, bà cùng giám hộ cho cháu.
1. Cá nhân, pháp nhân có đủ điều kiện quy định tại Bộ luật này được làm người giám hộ.
2. Trường hợp người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ lựa chọn người giám hộ cho mình thì khi họ ở tình trạng cần được giám hộ, cá nhân, pháp nhân được lựa chọn là người giám hộ nếu người này đồng ý. Việc lựa chọn người giám hộ phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực.
3. Một cá nhân, pháp nhân có thể giám hộ cho nhiều người.
Điều 49. Điều kiện của cá nhân làm người giám hộ
Cá nhân có đủ các điều kiện sau đây có thể làm người giám hộ:
1. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
2. Có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
3. Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác.
4. Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.
Điều 50. Điều kiện của pháp nhân làm người giám hộ
Pháp nhân có đủ các điều kiện sau đây có thể làm người giám hộ:
1. Có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với việc giám hộ.
2. Có điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
Điều 51. Giám sát việc giám hộ
1. Người thân thích của người được giám hộ thỏa thuận cử người giám sát việc giám hộ trong số những người thân thích hoặc chọn cá nhân, pháp nhân khác làm người giám sát việc giám hộ.
Việc cử, chọn người giám sát việc giám hộ phải được sự đồng ý của người đó. Trường hợp giám sát việc giám hộ liên quan đến quản lý tài sản của người được giám hộ thì người giám sát phải đăng ký tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ.
Người thân thích của người được giám hộ là vợ, chồng, cha, mẹ, con của người được giám hộ; nếu không có ai trong số những người này thì người thân thích của người được giám hộ là ông, bà, anh ruột, chị ruột, em ruột của người được giám hộ; nếu cũng không có ai trong số những người này thì người thân thích của người được giám hộ là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người được giám hộ.
2. Trường hợp không có người thân thích của người được giám hộ hoặc những người thân thích không cử, chọn được người giám sát việc giám hộ theo quy định tại khoản 1 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người giám hộ cử cá nhân hoặc pháp nhân giám sát việc giám hộ. Trường hợp có tranh chấp về việc cử, chọn người giám sát việc giám hộ thì Tòa án quyết định.
3. Người giám sát việc giám hộ phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nếu là cá nhân, có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với việc giám sát nếu là pháp nhân; có điều kiện cần thiết để thực hiện việc giám sát.
4. Người giám sát việc giám hộ có quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Theo dõi, kiểm tra người giám hộ trong việc thực hiện giám hộ;
b) Xem xét, có ý kiến kịp thời bằng văn bản về việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự quy định tại Điều 59 của Bộ luật này;
c) Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giám hộ xem xét thay đổi hoặc chấm dứt việc giám hộ, giám sát việc giám hộ.
Điều 52. Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên
Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật này được xác định theo thứ tự sau đây:
1. Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ.
2. Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 Điều này thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ.
3. Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ.
Điều 53. Người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự
Trường hợp không có người giám hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này thì người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được xác định như sau:
1. Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ.
2. Trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ.
3. Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.
Điều 54. Cử, chỉ định người giám hộ
1. Trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên theo quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật này thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ.
Trường hợp có tranh chấp giữa những người giám hộ quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật này về người giám hộ hoặc tranh chấp về việc cử người giám hộ thì Tòa án chỉ định người giám hộ.
Trường hợp cử, chỉ định người giám hộ cho người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người này.
2. Việc cử người giám hộ phải được sự đồng ý của người được cử làm người giám hộ.
3. Việc cử người giám hộ phải được lập thành văn bản, trong đó ghi rõ lý do cử người giám hộ, quyền, nghĩa vụ cụ thể của người giám hộ, tình trạng tài sản của người được giám hộ.
4. Trừ trường hợp áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này, người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi do Tòa án chỉ định trong số những người giám hộ quy định tại Điều 53 của Bộ luật này. Trường hợp không có người giám hộ theo quy định trên, Tòa án chỉ định người giám hộ hoặc đề nghị một pháp nhân thực hiện việc giám hộ.
Điều 55. Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ chưa đủ mười lăm tuổi
1. Chăm sóc, giáo dục người được giám hộ.
2. Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định người chưa đủ mười lăm tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.
3. Quản lý tài sản của người được giám hộ.
4. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
1. Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.
2. Quản lý tài sản của người được giám hộ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
1. Người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự có các nghĩa vụ sau đây:
a) Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ;
b) Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự;
c) Quản lý tài sản của người được giám hộ;
d) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
2. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có nghĩa vụ theo quyết định của Tòa án trong số các nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 58. Quyền của người giám hộ
1. Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có các quyền sau đây:
a) Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ;
b) Được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ;
c) Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
2. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có quyền theo quyết định của Tòa án trong số các quyền quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 59. Quản lý tài sản của người được giám hộ
1. Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình; được thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ.
Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và giao dịch dân sự khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
Người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác. Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
2. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi được quản lý tài sản của người được giám hộ theo quyết định của Tòa án trong phạm vi được quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 60. Thay đổi người giám hộ
1. Người giám hộ được thay đổi trong trường hợp sau đây:
a) Người giám hộ không còn đủ các điều kiện quy định tại Điều 49, Điều 50 của Bộ luật này;
b) Người giám hộ là cá nhân chết hoặc bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, mất năng lực hành vi dân sự, mất tích; pháp nhân làm giám hộ chấm dứt tồn tại;
c) Người giám hộ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ giám hộ;
d) Người giám hộ đề nghị được thay đổi và có người khác nhận làm giám hộ.
2. Trường hợp thay đổi người giám hộ đương nhiên thì những người được quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật này là người giám hộ đương nhiên; nếu không có người giám hộ đương nhiên thì việc cử, chỉ định người giám hộ được thực hiện theo quy định tại Điều 54 của Bộ luật này.
3. Thủ tục thay đổi người giám hộ được thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
1. Khi thay đổi người giám hộ thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có người giám hộ mới, người đã thực hiện việc giám hộ phải chuyển giao giám hộ cho người thay thế mình.
2. Việc chuyển giao giám hộ phải được lập thành văn bản, trong đó ghi rõ lý do chuyển giao và tình trạng tài sản, vấn đề khác có liên quan của người được giám hộ tại thời điểm chuyển giao. Cơ quan cử, chỉ định người giám hộ, người giám sát việc giám hộ chứng kiến việc chuyển giao giám hộ.
3. Trường hợp thay đổi người giám hộ quy định tại khoản 1 Điều 60 của Bộ luật này thì cơ quan cử, chỉ định người giám hộ lập biên bản, ghi rõ tình trạng tài sản, vấn đề khác có liên quan của người được giám hộ, quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình thực hiện việc giám hộ để chuyển giao cho người giám hộ mới với sự chứng kiến của người giám sát việc giám hộ.
Điều 62. Chấm dứt việc giám hộ
1. Việc giám hộ chấm dứt trong trường hợp sau đây:
a) Người được giám hộ đã có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
b) Người được giám hộ chết;
c) Cha, mẹ của người được giám hộ là người chưa thành niên đã có đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình;
d) Người được giám hộ được nhận làm con nuôi.
2. Thủ tục chấm dứt việc giám hộ thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
Điều 63. Hậu quả chấm dứt việc giám hộ
1. Trường hợp người được giám hộ đã có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày chấm dứt việc giám hộ, người giám hộ thanh toán tài sản với người được giám hộ, chuyển giao quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự vì lợi ích của người được giám hộ cho người được giám hộ.
2. Trường hợp người được giám hộ chết thì trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt việc giám hộ, người giám hộ thanh toán tài sản với người thừa kế hoặc giao tài sản cho người quản lý di sản của người được giám hộ, chuyển giao quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự vì lợi ích của người được giám hộ cho người thừa kế của người được giám hộ; nếu hết thời hạn đó mà chưa xác định được người thừa kế thì người giám hộ tiếp tục quản lý tài sản của người được giám hộ cho đến khi tài sản được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế và thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ.
3. Trường hợp chấm dứt việc giám hộ quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều 62 của Bộ luật này thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày chấm dứt việc giám hộ, người giám hộ thanh toán tài sản và chuyển giao quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự vì lợi ích của người được giám hộ cho cha, mẹ của người được giám hộ.
4. Việc thanh toán tài sản và chuyển giao quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều này được lập thành văn bản với sự giám sát của người giám sát việc giám hộ.
Mục 5. THÔNG BÁO TÌM KIẾM NGƯỜI VẮNG MẶT TẠI NƠI CƯ TRÚ, TUYÊN BỐ MẤT TÍCH, TUYÊN BỐ CHẾT
Điều 64. Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó
Khi một người biệt tích 06 tháng liền trở lên thì những người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự và có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú quy định tại Điều 65 của Bộ luật này.
Điều 65. Quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú
1. Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án giao tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú cho người sau đây quản lý:
a) Đối với tài sản đã được người vắng mặt ủy quyền quản lý thì người được ủy quyền tiếp tục quản lý;
b) Đối với tài sản chung thì do chủ sở hữu chung còn lại quản lý;
c) Đối với tài sản do vợ hoặc chồng đang quản lý thì vợ hoặc chồng tiếp tục quản lý; nếu vợ hoặc chồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì con thành niên hoặc cha, mẹ của người vắng mặt quản lý.
2. Trường hợp không có những người được quy định tại khoản 1 Điều này thì Tòa án chỉ định một người trong số những người thân thích của người vắng mặt tại nơi cư trú quản lý tài sản; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản.
Điều 66. Nghĩa vụ của người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú
1. Giữ gìn, bảo quản tài sản của người vắng mặt như tài sản của chính mình.
2. Bán ngay tài sản là hoa màu, sản phẩm khác có nguy cơ bị hư hỏng.
3. Thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thanh toán nợ đến hạn, nghĩa vụ tài chính khác của người vắng mặt bằng tài sản của người đó theo quyết định của Tòa án.
4. Giao lại tài sản cho người vắng mặt khi người này trở về và phải thông báo cho Tòa án biết; nếu có lỗi trong việc quản lý tài sản mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Điều 67. Quyền của người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú
1. Quản lý tài sản của người vắng mặt.
2. Trích một phần tài sản của người vắng mặt để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn, nghĩa vụ tài chính khác của người vắng mặt.
3. Được thanh toán các chi phí cần thiết trong việc quản lý tài sản của người vắng mặt.
1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.
Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.
2. Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.
3. Quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
Điều 69. Quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích
Người đang quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú quy định tại Điều 65 của Bộ luật này tiếp tục quản lý tài sản của người đó khi người đó bị Tòa án tuyên bố mất tích và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 66 và Điều 67 của Bộ luật này.
Trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích ly hôn thì tài sản của người mất tích được giao cho con thành niên hoặc cha, mẹ của người mất tích quản lý; nếu không có những người này thì giao cho người thân thích của người mất tích quản lý; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản.
Điều 70. Hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích
1. Khi người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích đối với người đó.
2. Người bị tuyên bố mất tích trở về được nhận lại tài sản do người quản lý tài sản chuyển giao sau khi đã thanh toán chi phí quản lý.
3. Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích đã được ly hôn thì dù người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống, quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật.
4. Quyết định của Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
1. Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây:
a) Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
b) Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
c) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này.
2. Căn cứ vào các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết.
3. Quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
Điều 72. Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết
1. Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.
2. Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Điều 73. Hủy bỏ quyết định tuyên bố chết
1. Khi một người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết.
2. Quan hệ nhân thân của người bị tuyên bố là đã chết được khôi phục khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết, trừ trường hợp sau đây:
a) Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã được Tòa án cho ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 68 của Bộ luật này thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật;
b) Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã kết hôn với người khác thì việc kết hôn đó vẫn có hiệu lực pháp luật.
3. Người bị tuyên bố là đã chết mà còn sống có quyền yêu cầu những người đã nhận tài sản thừa kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn.
Trường hợp người thừa kế của người bị tuyên bố là đã chết biết người này còn sống mà cố tình giấu giếm nhằm hưởng thừa kế thì người đó phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã nhận, kể cả hoa lợi, lợi tức; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
4. Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng được giải quyết theo quy định của Bộ luật này, Luật hôn nhân và gia đình.
5. Quyết định của Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
1. Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;
b) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;
c) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;
d) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.
2. Mọi cá nhân, pháp nhân đều có quyền thành lập pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác.
1. Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.
2. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác.
3. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 76. Pháp nhân phi thương mại
1. Pháp nhân phi thương mại là pháp nhân không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên.
2. Pháp nhân phi thương mại bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác.
3. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân phi thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, các luật về tổ chức bộ máy nhà nước và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 77. Điều lệ của pháp nhân
1. Pháp nhân phải có điều lệ trong trường hợp pháp luật có quy định.
2. Điều lệ của pháp nhân có những nội dung chủ yếu sau đây:
a) Tên gọi của pháp nhân;
b) Mục đích và phạm vi hoạt động của pháp nhân;
c) Trụ sở chính; chi nhánh, văn phòng đại diện, nếu có;
d) Vốn điều lệ, nếu có;
đ) Đại diện theo pháp luật của pháp nhân;
e) Cơ cấu tổ chức; thể thức cử, bầu, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, nhiệm vụ và quyền hạn của các chức danh của cơ quan điều hành và các cơ quan khác;
g) Điều kiện trở thành thành viên hoặc không còn là thành viên của pháp nhân, nếu là pháp nhân có thành viên;
h) Quyền, nghĩa vụ của các thành viên, nếu là pháp nhân có thành viên;
i) Thể thức thông qua quyết định của pháp nhân; nguyên tắc giải quyết tranh chấp nội bộ;
k) Thể thức sửa đổi, bổ sung điều lệ;
l) Ðiều kiện hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi hình thức, giải thể pháp nhân.
Điều 78. Tên gọi của pháp nhân
1. Pháp nhân phải có tên gọi bằng tiếng Việt.
2. Tên gọi của pháp nhân phải thể hiện rõ loại hình tổ chức của pháp nhân và phân biệt với các pháp nhân khác trong cùng một lĩnh vực hoạt động.
3. Pháp nhân phải sử dụng tên gọi của mình trong giao dịch dân sự.
4. Tên gọi của pháp nhân được pháp luật công nhận và bảo vệ.
1. Trụ sở của pháp nhân là nơi đặt cơ quan điều hành của pháp nhân. Trường hợp thay đổi trụ sở thì pháp nhân phải công bố công khai.
2. Địa chỉ liên lạc của pháp nhân là địa chỉ trụ sở của pháp nhân. Pháp nhân có thể chọn nơi khác làm địa chỉ liên lạc.
Điều 80. Quốc tịch của pháp nhân
Pháp nhân được thành lập theo pháp luật Việt Nam là pháp nhân Việt Nam.
Điều 81. Tài sản của pháp nhân
Tài sản của pháp nhân bao gồm vốn góp của chủ sở hữu, sáng lập viên, thành viên của pháp nhân và tài sản khác mà pháp nhân được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan.
Điều 82. Thành lập, đăng ký pháp nhân
1. Pháp nhân được thành lập theo sáng kiến của cá nhân, pháp nhân hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Đăng ký pháp nhân bao gồm đăng ký thành lập, đăng ký thay đổi và đăng ký khác theo quy định của pháp luật.
3. Việc đăng ký pháp nhân phải được công bố công khai.
Điều 83. Cơ cấu tổ chức của pháp nhân
1. Pháp nhân phải có cơ quan điều hành. Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan điều hành của pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân.
2. Pháp nhân có cơ quan khác theo quyết định của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật.
Điều 84. Chi nhánh, văn phòng đại diện của pháp nhân
1. Chi nhánh, văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, không phải là pháp nhân.
2. Chi nhánh có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của pháp nhân.
3. Văn phòng đại diện có nhiệm vụ đại diện trong phạm vi do pháp nhân giao, bảo vệ lợi ích của pháp nhân.
4. Việc thành lập, chấm dứt chi nhánh, văn phòng đại diện của pháp nhân phải được đăng ký theo quy định của pháp luật và công bố công khai.
5. Người đứng đầu chi nhánh, văn phòng đại diện thực hiện nhiệm vụ theo ủy quyền của pháp nhân trong phạm vi và thời hạn được ủy quyền.
6. Pháp nhân có quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do chi nhánh, văn phòng đại diện xác lập, thực hiện.
Điều 85. Đại diện của pháp nhân
Đại diện của pháp nhân có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền. Người đại diện của pháp nhân phải tuân theo quy định về đại diện tại Chương IX Phần này.
Điều 86. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân
1. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
2. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; nếu pháp nhân phải đăng ký hoạt động thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm ghi vào sổ đăng ký.
3. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân chấm dứt kể từ thời điểm chấm dứt pháp nhân.
Điều 87. Trách nhiệm dân sự của pháp nhân
1. Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân.
Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự về nghĩa vụ do sáng lập viên hoặc đại diện của sáng lập viên xác lập, thực hiện để thành lập, đăng ký pháp nhân, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
2. Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình; không chịu trách nhiệm thay cho người của pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do người của pháp nhân xác lập, thực hiện không nhân danh pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác.
3. Người của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện, trừ trường hợp luật có quy định khác.
1. Các pháp nhân có thể hợp nhất thành một pháp nhân mới.
2. Sau khi hợp nhất, các pháp nhân cũ chấm dứt tồn tại kể từ thời điểm pháp nhân mới được thành lập; quyền và nghĩa vụ dân sự của pháp nhân cũ được chuyển giao cho pháp nhân mới.
1. Một pháp nhân có thể được sáp nhập (sau đây gọi là pháp nhân được sáp nhập) vào một pháp nhân khác (sau đây gọi là pháp nhân sáp nhập).
2. Sau khi sáp nhập, pháp nhân được sáp nhập chấm dứt tồn tại; quyền và nghĩa vụ dân sự của pháp nhân được sáp nhập được chuyển giao cho pháp nhân sáp nhập.
1. Một pháp nhân có thể chia thành nhiều pháp nhân.
2. Sau khi chia, pháp nhân bị chia chấm dứt tồn tại; quyền, nghĩa vụ dân sự của pháp nhân bị chia được chuyển giao cho các pháp nhân mới.
1. Một pháp nhân có thể tách thành nhiều pháp nhân.
2. Sau khi tách, pháp nhân bị tách và pháp nhân được tách thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự của mình phù hợp với mục đích hoạt động.
Điều 92. Chuyển đổi hình thức của pháp nhân
1. Pháp nhân có thể được chuyển đổi hình thức thành pháp nhân khác.
2. Sau khi chuyển đổi hình thức, pháp nhân được chuyển đổi chấm dứt tồn tại kể từ thời điểm pháp nhân chuyển đổi được thành lập; pháp nhân chuyển đổi kế thừa quyền, nghĩa vụ dân sự của pháp nhân được chuyển đổi.
1. Pháp nhân giải thể trong trường hợp sau đây:
a) Theo quy định của điều lệ;
b) Theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
c) Hết thời hạn hoạt động được ghi trong điều lệ hoặc trong quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
d) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
2. Trước khi giải thể, pháp nhân phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về tài sản.
Điều 94. Thanh toán tài sản của pháp nhân bị giải thể
1. Tài sản của pháp nhân bị giải thể được thanh toán theo thứ tự sau đây:
a) Chi phí giải thể pháp nhân;
b) Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết;
c) Nợ thuế và các khoản nợ khác.
2. Sau khi đã thanh toán hết chi phí giải thể pháp nhân và các khoản nợ, phần còn lại thuộc về chủ sở hữu pháp nhân, các thành viên góp vốn, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này hoặc pháp luật có quy định khác.
3. Trường hợp quỹ xã hội, quỹ từ thiện đã thanh toán hết chi phí giải thể và các khoản nợ quy định tại khoản 1 Điều này, tài sản còn lại được chuyển giao cho quỹ khác có cùng mục đích hoạt động.
Trường hợp không có quỹ khác có cùng mục đích hoạt động nhận tài sản chuyển giao hoặc quỹ bị giải thể do hoạt động vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì tài sản của quỹ bị giải thể thuộc về Nhà nước.
Việc phá sản pháp nhân được thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản.
Điều 96. Chấm dứt tồn tại pháp nhân
1. Pháp nhân chấm dứt tồn tại trong trường hợp sau đây:
a) Hợp nhất, sáp nhập, chia, chuyển đổi hình thức, giải thể pháp nhân theo quy định tại các điều 88, 89, 90, 92 và 93 của Bộ luật này;
b) Bị tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản.
2. Pháp nhân chấm dứt tồn tại kể từ thời điểm xóa tên trong sổ đăng ký pháp nhân hoặc từ thời điểm được xác định trong quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
3. Khi pháp nhân chấm dứt tồn tại, tài sản của pháp nhân được giải quyết theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương khi tham gia quan hệ dân sự thì bình đẳng với các chủ thể khác và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định tại Điều 99 và Điều 100 của Bộ luật này.
Điều 98. Đại diện tham gia quan hệ dân sự
Việc đại diện cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương tham gia quan hệ dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước. Việc đại diện thông qua cá nhân, pháp nhân khác chỉ được thực hiện trong các trường hợp và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
Điều 99. Trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự
1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của mình bằng tài sản mà mình là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, trừ trường hợp tài sản đã được chuyển giao cho pháp nhân theo quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Pháp nhân do Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương thành lập không chịu trách nhiệm về nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ dân sự của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương.
3. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương không chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của pháp nhân do mình thành lập, bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước, trừ trường hợp Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương bảo lãnh cho nghĩa vụ dân sự của pháp nhân này theo quy định của pháp luật.
4. Cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương không chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước khác ở Trung ương, ở địa phương, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự do mình xác lập với nhà nước, pháp nhân, cá nhân nước ngoài trong trường hợp sau đây:
a) Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định về việc từ bỏ quyền miễn trừ;
b) Các bên trong quan hệ dân sự có thỏa thuận từ bỏ quyền miễn trừ;
c) Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương từ bỏ quyền miễn trừ.
2. Trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của nhà nước, cơ quan nhà nước của nước ngoài khi tham gia quan hệ dân sự với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương, pháp nhân, cá nhân Việt Nam được áp dụng tương tự khoản 1 Điều này.
HỘ GIA ĐÌNH, TỔ HỢP TÁC VÀ TỔ CHỨC KHÁC KHÔNG CÓ TƯ CÁCH PHÁP NHÂN TRONG QUAN HỆ DÂN SỰ
1. Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Khi có sự thay đổi người đại diện thì phải thông báo cho bên tham gia quan hệ dân sự biết.
Trường hợp thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự không được các thành viên khác ủy quyền làm người đại diện thì thành viên đó là chủ thể của quan hệ dân sự do mình xác lập, thực hiện.
2. Việc xác định chủ thể của quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình sử dụng đất được thực hiện theo quy định của Luật đất đai.
1. Việc xác định tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, quyền, nghĩa vụ đối với tài sản này được xác định theo quy định tại Điều 212 của Bộ luật này.
2. Việc xác định tài sản chung của các thành viên tổ hợp tác, quyền, nghĩa vụ đối với tài sản này được xác định theo quy định tại Điều 506 của Bộ luật này.
3. Việc xác định tài sản chung của các thành viên của tổ chức khác không có tư cách pháp nhân, quyền, nghĩa vụ đối với tài sản này được xác định theo thỏa thuận của các thành viên, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
1. Nghĩa vụ dân sự phát sinh từ việc tham gia quan hệ dân sự của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân được bảo đảm thực hiện bằng tài sản chung của các thành viên.
2. Trường hợp các thành viên không có hoặc không đủ tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ chung thì người có quyền có thể yêu cầu các thành viên thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 288 của Bộ luật này.
3. Trường hợp các bên không có thỏa thuận, hợp đồng hợp tác hoặc luật không có quy định khác thì các thành viên chịu trách nhiệm dân sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này theo phần tương ứng với phần đóng góp tài sản của mình, nếu không xác định được theo phần tương ứng thì xác định theo phần bằng nhau.
1. Trường hợp thành viên không có quyền đại diện mà xác lập, thực hiện giao dịch dân sự nhân danh các thành viên khác của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân hoặc người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện thì hậu quả pháp lý của giao dịch được áp dụng theo quy định tại các Điều 130, 142 và 143 của Bộ luật này.
2. Giao dịch dân sự do bên không có quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện xác lập, thực hiện mà gây thiệt hại cho thành viên khác của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân hoặc người thứ ba thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.
1. Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng ký tài sản.
2. Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng ký tài sản có quy định khác.
3. Việc đăng ký tài sản phải được công khai.
Điều 107. Bất động sản và động sản
1. Bất động sản bao gồm:
a) Đất đai;
b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;
c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;
d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật.
2. Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.
Điều 108. Tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai
1. Tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch.
2. Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm:
a) Tài sản chưa hình thành;
b) Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch.
1. Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại.
2. Lợi tức là khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản.
Điều 110. Vật chính và vật phụ
1. Vật chính là vật độc lập, có thể khai thác công dụng theo tính năng.
2. Vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính, là một bộ phận của vật chính, nhưng có thể tách rời vật chính.
3. Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật chính thì phải chuyển giao cả vật phụ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 111. Vật chia được và vật không chia được
1. Vật chia được là vật khi bị phân chia vẫn giữ nguyên tính chất và tính năng sử dụng ban đầu.
2. Vật không chia được là vật khi bị phân chia thì không giữ nguyên được tính chất và tính năng sử dụng ban đầu.
Khi cần phân chia vật không chia được thì phải trị giá thành tiền để chia.
Điều 112. Vật tiêu hao và vật không tiêu hao
1. Vật tiêu hao là vật khi đã qua một lần sử dụng thì mất đi hoặc không giữ được tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu.
Vật tiêu hao không thể là đối tượng của hợp đồng cho thuê hoặc hợp đồng cho mượn.
2. Vật không tiêu hao là vật khi đã qua sử dụng nhiều lần mà cơ bản vẫn giữ được tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu.
Điều 113. Vật cùng loại và vật đặc định
1. Vật cùng loại là những vật có cùng hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng và xác định được bằng những đơn vị đo lường.
Vật cùng loại có cùng chất lượng có thể thay thế cho nhau.
2. Vật đặc định là vật phân biệt được với các vật khác bằng những đặc điểm riêng về ký hiệu, hình dáng, màu sắc, chất liệu, đặc tính, vị trí.
Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đặc định thì phải giao đúng vật đó.
Vật đồng bộ là vật gồm các phần hoặc các bộ phận ăn khớp, liên hệ với nhau hợp thành chỉnh thể mà nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận hoặc có phần hoặc bộ phận không đúng quy cách, chủng loại thì không sử dụng được hoặc giá trị sử dụng của vật đó bị giảm sút.
Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đồng bộ thì phải chuyển giao toàn bộ các phần hoặc các bộ phận hợp thành, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.
Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Điều 117. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.
Điều 118. Mục đích của giao dịch dân sự
Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích mà chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó.
Điều 119. Hình thức giao dịch dân sự
1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.
Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.
2. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.
Điều 120. Giao dịch dân sự có điều kiện
1. Trường hợp các bên có thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự thì khi điều kiện đó xảy ra, giao dịch dân sự phát sinh hoặc hủy bỏ.
2. Trường hợp điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự không thể xảy ra được do hành vi cố ý cản trở trực tiếp hoặc gián tiếp của một bên thì coi như điều kiện đó đã xảy ra; trường hợp có sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của một bên cố ý thúc đẩy cho điều kiện xảy ra thì coi như điều kiện đó không xảy ra.
Điều 121. Giải thích giao dịch dân sự
1. Giao dịch dân sự có nội dung không rõ ràng, khó hiểu, được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và không thuộc quy định tại khoản 2 Điều này thì việc giải thích giao dịch dân sự đó được thực hiện theo thứ tự sau đây:
a) Theo ý chí đích thực của các bên khi xác lập giao dịch;
b) Theo nghĩa phù hợp với mục đích của giao dịch;
c) Theo tập quán nơi giao dịch được xác lập.
2. Việc giải thích hợp đồng được thực hiện theo quy định tại Điều 404 của Bộ luật này; việc giải thích nội dung di chúc được thực hiện theo quy định tại Điều 648 của Bộ luật này.
Điều 122. Giao dịch dân sự vô hiệu
Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác.
Điều 123. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội
Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.
Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.
Điều 124. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
1. Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.
2. Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu.
1. Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Giao dịch dân sự của người quy định tại khoản 1 Điều này không bị vô hiệu trong trường hợp sau đây:
a) Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;
b) Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;
c) Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.
Điều 126. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn
1. Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được.
Điều 127. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.
Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.
Điều 128. Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình
Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Điều 129. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:
1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.
2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.
Điều 130. Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần
Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần khi một phần nội dung của giao dịch dân sự vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch.
Điều 131. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu
1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.
2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.
3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.
4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.
Điều 132. Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu
1. Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại các Điều 125, 126, 127, 128 và 129 của Bộ luật này là 02 năm, kể từ ngày:
a) Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;
b) Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;
c) Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép;
d) Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch;
đ) Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức.
2. Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực.
3. Đối với giao dịch dân sự quy định tại Điều 123 và Điều 124 của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế.
Điều 133. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu
1. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng đối tượng của giao dịch là tài sản không phải đăng ký đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch được xác lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 167 của Bộ luật này.
2. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.
Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa.
3. Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều này nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại.
1. Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.
2. Cá nhân, pháp nhân có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện. Cá nhân không được để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó.
3. Trường hợp pháp luật quy định thì người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện.
Điều 135. Căn cứ xác lập quyền đại diện
Quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện (sau đây gọi là đại diện theo ủy quyền); theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là đại diện theo pháp luật).
Điều 136. Đại diện theo pháp luật của cá nhân
1. Cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
2. Người giám hộ đối với người được giám hộ. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định.
3. Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
4. Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Điều 137. Đại diện theo pháp luật của pháp nhân
1. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bao gồm:
a) Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ;
b) Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật;
c) Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án.
2. Một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân theo quy định tại Điều 140 và Điều 141 của Bộ luật này.
Điều 138. Đại diện theo ủy quyền
1. Cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.
2. Các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân.
3. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện.
Điều 139. Hậu quả pháp lý của hành vi đại diện
1. Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện với người thứ ba phù hợp với phạm vi đại diện làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện.
2. Người đại diện có quyền xác lập, thực hiện hành vi cần thiết để đạt được mục đích của việc đại diện.
3. Trường hợp người đại diện biết hoặc phải biết việc xác lập hành vi đại diện là do bị nhầm lẫn, bị lừa dối, bị đe dọa, cưỡng ép mà vẫn xác lập, thực hiện hành vi thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người được đại diện biết hoặc phải biết về việc này mà không phản đối.
1. Thời hạn đại diện được xác định theo văn bản ủy quyền, theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp không xác định được thời hạn đại diện theo quy định tại khoản 1 Điều này thì thời hạn đại diện được xác định như sau:
a) Nếu quyền đại diện được xác định theo giao dịch dân sự cụ thể thì thời hạn đại diện được tính đến thời điểm chấm dứt giao dịch dân sự đó;
b) Nếu quyền đại diện không được xác định với giao dịch dân sự cụ thể thì thời hạn đại diện là 01 năm, kể từ thời điểm phát sinh quyền đại diện.
3. Đại diện theo ủy quyền chấm dứt trong trường hợp sau đây:
a) Theo thỏa thuận;
b) Thời hạn ủy quyền đã hết;
c) Công việc được ủy quyền đã hoàn thành;
d) Người được đại diện hoặc người đại diện đơn phương chấm dứt thực hiện việc ủy quyền;
đ) Người được đại diện, người đại diện là cá nhân chết; người được đại diện, người đại diện là pháp nhân chấm dứt tồn tại;
e) Người đại diện không còn đủ điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 134 của Bộ luật này;
g) Căn cứ khác làm cho việc đại diện không thể thực hiện được.
4. Đại diện theo pháp luật chấm dứt trong trường hợp sau đây:
a) Người được đại diện là cá nhân đã thành niên hoặc năng lực hành vi dân sự đã được khôi phục;
b) Người được đại diện là cá nhân chết;
c) Người được đại diện là pháp nhân chấm dứt tồn tại;
d) Căn cứ khác theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.
1. Người đại diện chỉ được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện theo căn cứ sau đây:
a) Quyết định của cơ quan có thẩm quyền;
b) Điều lệ của pháp nhân;
c) Nội dung ủy quyền;
d) Quy định khác của pháp luật.
2. Trường hợp không xác định được cụ thể phạm vi đại diện theo quy định tại khoản 1 Điều này thì người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Người đại diện phải thông báo cho bên giao dịch biết về phạm vi đại diện của mình.
Điều 142. Hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện
1. Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ một trong các trường hợp sau đây:
a) Người được đại diện đã công nhận giao dịch;
b) Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý;
c) Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diện.
2. Trường hợp giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện thì người không có quyền đại diện vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình, trừ trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện mà vẫn giao dịch.
3. Người đã giao dịch với người không có quyền đại diện có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự đã xác lập và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện mà vẫn giao dịch hoặc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.
4. Trường hợp người không có quyền đại diện và người đã giao dịch cố ý xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà gây thiệt hại cho người được đại diện thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại.
1. Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ một trong các trường hợp sau đây:
a) Người được đại diện đồng ý;
b) Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý;
c) Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình vượt quá phạm vi đại diện.
2. Trường hợp giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện thì người đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện, trừ trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch.
3. Người đã giao dịch với người đại diện có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự đối với phần vượt quá phạm vi đại diện hoặc toàn bộ giao dịch dân sự và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về việc vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch hoặc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.
4. Trường hợp người đại diện và người giao dịch với người đại diện cố ý xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vượt quá phạm vi đại diện mà gây thiệt hại cho người được đại diện thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại.
1. Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác.
2. Thời hạn có thể được xác định bằng phút, giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể sẽ xảy ra.
Điều 145. Áp dụng cách tính thời hạn
1. Cách tính thời hạn được áp dụng theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
2. Thời hạn được tính theo dương lịch, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 146. Quy định về thời hạn, thời điểm tính thời hạn
1. Trường hợp các bên có thỏa thuận về thời hạn là một năm, nửa năm, một tháng, nửa tháng, một tuần, một ngày, một giờ, một phút mà khoảng thời gian diễn ra không liền nhau thì thời hạn đó được tính như sau:
a) Một năm là ba trăm sáu mươi lăm ngày;
b) Nửa năm là sáu tháng;
c) Một tháng là ba mươi ngày;
d) Nửa tháng là mười lăm ngày;
đ) Một tuần là bảy ngày;
e) Một ngày là hai mươi tư giờ;
g) Một giờ là sáu mươi phút;
h) Một phút là sáu mươi giây.
2. Trường hợp các bên thỏa thuận về thời điểm đầu tháng, giữa tháng, cuối tháng thì thời điểm đó được quy định như sau:
a) Đầu tháng là ngày đầu tiên của tháng;
b) Giữa tháng là ngày thứ mười lăm của tháng;
c) Cuối tháng là ngày cuối cùng của tháng.
3. Trường hợp các bên thỏa thuận về thời điểm đầu năm, giữa năm, cuối năm thì thời điểm đó được quy định như sau:
a) Đầu năm là ngày đầu tiên của tháng một;
b) Giữa năm là ngày cuối cùng của tháng sáu;
c) Cuối năm là ngày cuối cùng của tháng mười hai.
Điều 147. Thời điểm bắt đầu thời hạn
1. Khi thời hạn được xác định bằng phút, giờ thì thời hạn được bắt đầu từ thời điểm đã xác định.
2. Khi thời hạn được xác định bằng ngày, tuần, tháng, năm thì ngày đầu tiên của thời hạn không được tính mà tính từ ngày tiếp theo liền kề ngày được xác định.
3. Khi thời hạn bắt đầu bằng một sự kiện thì ngày xảy ra sự kiện không được tính mà tính từ ngày tiếp theo liền kề của ngày xảy ra sự kiện đó.
1. Khi thời hạn tính bằng ngày thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn.
2. Khi thời hạn tính bằng tuần thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày tương ứng của tuần cuối cùng của thời hạn.
3. Khi thời hạn tính bằng tháng thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày tương ứng của tháng cuối cùng của thời hạn; nếu tháng kết thúc thời hạn không có ngày tương ứng thì thời hạn kết thúc vào ngày cuối cùng của tháng đó.
4. Khi thời hạn tính bằng năm thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày, tháng tương ứng của năm cuối cùng của thời hạn.
5. Khi ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày nghỉ lễ thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó.
6. Thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn vào lúc hai mươi tư giờ của ngày đó.
1. Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định.
Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan.
2. Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc.
Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ.
1. Thời hiệu hưởng quyền dân sự là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự.
2. Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó thì người có nghĩa vụ dân sự được miễn việc thực hiện nghĩa vụ.
3. Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.
4. Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là thời hạn mà chủ thể được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu.
Thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên của thời hiệu và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu.
Điều 152. Hiệu lực của thời hiệu hưởng quyền dân sự, miễn trừ nghĩa vụ dân sự
Trường hợp pháp luật quy định cho các chủ thể được hưởng quyền dân sự hoặc được miễn trừ nghĩa vụ dân sự theo thời hiệu thì chỉ sau khi thời hiệu đó kết thúc, việc hưởng quyền dân sự hoặc miễn trừ nghĩa vụ dân sự mới có hiệu lực.
Điều 153. Tính liên tục của thời hiệu hưởng quyền dân sự, miễn trừ nghĩa vụ dân sự
1. Thời hiệu hưởng quyền dân sự, miễn trừ nghĩa vụ dân sự có tính liên tục từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc; nếu có sự kiện làm gián đoạn thì thời hiệu phải được tính lại từ đầu, sau khi sự kiện làm gián đoạn chấm dứt.
2. Thời hiệu hưởng quyền dân sự, miễn trừ nghĩa vụ dân sự bị gián đoạn khi có một trong các sự kiện sau đây:
a) Có sự giải quyết bằng một quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với quyền, nghĩa vụ dân sự đang được áp dụng thời hiệu;
b) Quyền, nghĩa vụ dân sự đang được áp dụng thời hiệu mà bị người có quyền, nghĩa vụ liên quan tranh chấp và đã được giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
3. Thời hiệu cũng được tính liên tục trong trường hợp việc hưởng quyền dân sự, miễn trừ nghĩa vụ dân sự được chuyển giao hợp pháp cho người khác.
Điều 154. Bắt đầu thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự
1. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được tính từ ngày phát sinh quyền yêu cầu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Điều 155. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện
Thời hiệu khởi kiện không áp dụng trong trường hợp sau đây:
1. Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản.
2. Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
3. Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.
4. Trường hợp khác do luật quy định.
Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là khoảng thời gian xảy ra một trong các sự kiện sau đây:
1. Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu.
Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.
Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình;
2. Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, người có quyền yêu cầu là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chưa có người đại diện khác thay thế trong trường hợp sau đây:
a) Người đại diện chết nếu là cá nhân, chấm dứt tồn tại nếu là pháp nhân; b) Người đại diện vì lý do chính đáng mà không thể tiếp tục đại diện được.
b) Người đại diện vì lý do chính đáng mà không thể tiếp tục đại diện được.
Điều 157. Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự
1. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại trong trường hợp sau đây:
a) Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;
b) Bên có nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;
c) Các bên đã tự hòa giải với nhau.
2. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện quy định tại khoản 1 Điều này.
QUYỀN SỞ HỮU VÀ QUYỀN KHÁC ĐỐI VỚI TÀI SẢN
Mục 1. NGUYÊN TẮC XÁC LẬP, THỰC HIỆN QUYỀN SỞ HỮU, QUYỀN KHÁC ĐỐI VỚI TÀI SẢN
Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật.
Điều 159. Quyền khác đối với tài sản
1. Quyền khác đối với tài sản là quyền của chủ thể trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác.
2. Quyền khác đối với tài sản bao gồm:
a) Quyền đối với bất động sản liền kề;
b) Quyền hưởng dụng;
c) Quyền bề mặt.
Điều 160. Nguyên tắc xác lập, thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản
1. Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản được xác lập, thực hiện trong trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.
Quyền khác đối với tài sản vẫn có hiệu lực trong trường hợp quyền sở hữu được chuyển giao, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
2. Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được trái với quy định của luật, gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
3. Chủ thể có quyền khác đối với tài sản được thực hiện mọi hành vi trong phạm vi quyền được quy định tại Bộ luật này, luật khác có liên quan nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản hoặc của người khác.
Điều 161. Thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản
1. Thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thực hiện theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; trường hợp luật không có quy định thì thực hiện theo thỏa thuận của các bên; trường hợp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là thời điểm tài sản được chuyển giao.
Thời điểm tài sản được chuyển giao là thời điểm bên có quyền hoặc người đại diện hợp pháp của họ chiếm hữu tài sản.
2. Trường hợp tài sản chưa được chuyển giao mà phát sinh hoa lợi, lợi tức thì hoa lợi, lợi tức thuộc về bên có tài sản chuyển giao, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 162. Chịu rủi ro về tài sản
1. Chủ sở hữu phải chịu rủi ro về tài sản thuộc sở hữu của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
2. Chủ thể có quyền khác đối với tài sản phải chịu rủi ro về tài sản trong phạm vi quyền của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với chủ sở hữu tài sản hoặc Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
Mục 2. BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU, QUYỀN KHÁC ĐỐI VỚI TÀI SẢN
Điều 163. Bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản
1. Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái luật quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản.
2. Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường.
Điều 164. Biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản
1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền của mình bằng những biện pháp không trái với quy định của pháp luật.
2. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Điều 165. Chiếm hữu có căn cứ pháp luật
1. Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong trường hợp sau đây:
a) Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;
b) Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;
c) Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;
d) Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;
đ) Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;
e) Trường hợp khác do pháp luật quy định.
2. Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều này là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.
Điều 166. Quyền đòi lại tài sản
1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
2. Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó.
Điều 167. Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình
Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.
Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật này.
Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản, chủ thể có quyền yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó hoặc có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm.
Điều 170. Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại
Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản bồi thường thiệt hại.
Mục 3. GIỚI HẠN QUYỀN SỞ HỮU, QUYỀN KHÁC ĐỐI VỚI TÀI SẢN
1. Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa trực tiếp lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải có hành động gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn.
2. Trong tình thế cấp thiết, chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản không được cản trở người khác dùng tài sản của mình hoặc cản trở người khác gây thiệt hại đối với tài sản đó để ngăn chặn, làm giảm mối nguy hiểm hoặc thiệt hại lớn hơn có nguy cơ xảy ra.
3. Gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản bị thiệt hại trong tình thế cấp thiết được bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 595 của Bộ luật này.
Điều 172. Nghĩa vụ bảo vệ môi trường
Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thì chủ thể phải tuân theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; nếu làm ô nhiễm môi trường thì phải chấm dứt hành vi gây ô nhiễm, thực hiện các biện pháp để khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại.
Điều 173. Nghĩa vụ tôn trọng, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội
Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thì chủ thể phải tôn trọng, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, không được lạm dụng quyền để gây mất trật tự, an toàn xã hội, làm thiệt hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
Điều 174. Nghĩa vụ tôn trọng quy tắc xây dựng
Khi xây dựng công trình, chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản phải tuân theo pháp luật về xây dựng, bảo đảm an toàn, không được xây vượt quá độ cao, khoảng cách mà pháp luật về xây dựng quy định và không được xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản là bất động sản liền kề và xung quanh.
Điều 175. Ranh giới giữa các bất động sản
1. Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp.
Không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng. Mọi chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung.
2. Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác.
Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, cắt, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 176. Mốc giới ngăn cách các bất động sản
1. Chủ sở hữu bất động sản chỉ được dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn trên phần đất thuộc quyền sử dụng của mình.
2. Các chủ sở hữu bất động sản liền kề có thể thỏa thuận với nhau về việc dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn trên ranh giới để làm mốc giới ngăn cách giữa các bất động sản; những vật mốc giới này là sở hữu chung của các chủ thể đó.
Trường hợp mốc giới ngăn cách chỉ do một bên tạo nên trên ranh giới và được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý thì mốc giới ngăn cách đó là sở hữu chung, chi phí để xây dựng do bên tạo nên chịu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; nếu chủ sở hữu bất động sản liền kề không đồng ý mà có lý do chính đáng thì chủ sở hữu đã dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn phải dỡ bỏ.
3. Đối với mốc giới là tường nhà chung, chủ sở hữu bất động sản liền kề không được trổ cửa sổ, lỗ thông khí hoặc đục tường để đặt kết cấu xây dựng, trừ trường hợp được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý.
Trường hợp nhà xây riêng biệt nhưng tường sát liền nhau thì chủ sở hữu cũng chỉ được đục tường, đặt kết cấu xây dựng đến giới hạn ngăn cách tường của mình.
Đối với cây là mốc giới chung, các bên đều có nghĩa vụ bảo vệ; hoa lợi thu được từ cây được chia đều, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 177. Bảo đảm an toàn trong trường hợp cây cối, công trình có nguy cơ gây thiệt hại
1. Trường hợp cây cối, công trình xây dựng có nguy cơ sập đổ xuống bất động sản liền kề và xung quanh thì chủ sở hữu tài sản thực hiện ngay các biện pháp khắc phục, chặt cây, sửa chữa hoặc dỡ bỏ công trình xây dựng đó theo yêu cầu của chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; nếu không tự nguyện thực hiện thì chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho chặt cây, phá dỡ. Chi phí chặt cây, phá dỡ do chủ sở hữu cây cối, công trình xây dựng chịu.
2. Khi đào giếng, đào ao hoặc xây dựng công trình dưới mặt đất, chủ sở hữu công trình phải đào, xây cách mốc giới một khoảng cách do pháp luật về xây dựng quy định.
Khi xây dựng công trình vệ sinh, kho chứa chất độc hại và các công trình khác mà việc sử dụng có khả năng gây ô nhiễm môi trường thì chủ sở hữu tài sản đó phải xây cách mốc giới một khoảng cách và ở vị trí hợp lý, phải bảo đảm vệ sinh, an toàn và không làm ảnh hưởng đến chủ sở hữu bất động sản khác.
3. Trường hợp gây thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì chủ sở hữu cây cối, công trình phải bồi thường.
Điều 178. Trổ cửa nhìn sang bất động sản liền kề
1. Chủ sở hữu nhà chỉ được trổ cửa ra vào, cửa sổ quay sang nhà bên cạnh, nhà đối diện và đường đi chung theo quy định của pháp luật về xây dựng.
2. Mặt dưới mái che trên cửa ra vào, mặt dưới mái che cửa sổ quay ra đường đi chung phải cách mặt đất từ 2,5 mét trở lên.
1. Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản.
2. Chiếm hữu bao gồm chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu.
Việc chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu không thể là căn cứ xác lập quyền sở hữu, trừ trường hợp quy định tại các điều 228, 229, 230, 231, 232, 233 và 236 của Bộ luật này.
Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu.
Điều 181. Chiếm hữu không ngay tình
Chiếm hữu không ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu biết hoặc phải biết rằng mình không có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu.
1. Chiếm hữu liên tục là việc chiếm hữu được thực hiện trong một khoảng thời gian mà không có tranh chấp về quyền đối với tài sản đó hoặc có tranh chấp nhưng chưa được giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, kể cả khi tài sản được giao cho người khác chiếm hữu.
2. Việc chiếm hữu không liên tục không được coi là căn cứ để suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu được quy định tại Điều 184 của Bộ luật này.
1. Chiếm hữu công khai là việc chiếm hữu được thực hiện một cách minh bạch, không giấu giếm; tài sản đang chiếm hữu được sử dụng theo tính năng, công dụng và được người chiếm hữu bảo quản, giữ gìn như tài sản của chính mình.
2. Việc chiếm hữu không công khai không được coi là căn cứ để suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu được quy định tại Điều 184 của Bộ luật này.
Điều 184. Suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu
1. Người chiếm hữu được suy đoán là ngay tình; người nào cho rằng người chiếm hữu không ngay tình thì phải chứng minh.
2. Trường hợp có tranh chấp về quyền đối với tài sản thì người chiếm hữu được suy đoán là người có quyền đó. Người có tranh chấp với người chiếm hữu phải chứng minh về việc người chiếm hữu không có quyền.
3. Người chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai được áp dụng thời hiệu hưởng quyền và được hưởng hoa lợi, lợi tức mà tài sản mang lại theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.
Điều 185. Bảo vệ việc chiếm hữu
Trường hợp việc chiếm hữu bị người khác xâm phạm thì người chiếm hữu có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi, khôi phục tình trạng ban đầu, trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi, khôi phục tình trạng ban đầu, trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại.
Điều 186. Quyền chiếm hữu của chủ sở hữu
Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.
Điều 187. Quyền chiếm hữu của người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản
1. Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản thực hiện việc chiếm hữu tài sản đó trong phạm vi, theo cách thức, thời hạn do chủ sở hữu xác định.
2. Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản không thể trở thành chủ sở hữu đối với tài sản được giao theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.
Điều 188. Quyền chiếm hữu của người được giao tài sản thông qua giao dịch dân sự
1. Khi chủ sở hữu giao tài sản cho người khác thông qua giao dịch dân sự mà nội dung không bao gồm việc chuyển quyền sở hữu thì người được giao tài sản phải thực hiện việc chiếm hữu tài sản đó phù hợp với mục đích, nội dung của giao dịch.
2. Người được giao tài sản có quyền sử dụng tài sản được giao, được chuyển quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản đó cho người khác nếu được chủ sở hữu đồng ý.
3. Người được giao tài sản không thể trở thành chủ sở hữu đối với tài sản được giao theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.
Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản.
Quyền sử dụng có thể được chuyển giao cho người khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
Điều 190. Quyền sử dụng của chủ sở hữu
Chủ sở hữu được sử dụng tài sản theo ý chí của mình nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Điều 191. Quyền sử dụng của người không phải là chủ sở hữu
Người không phải là chủ sở hữu được sử dụng tài sản theo thỏa thuận với chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật.
Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản.
Điều 193. Điều kiện thực hiện quyền định đoạt
Việc định đoạt tài sản phải do người có năng lực hành vi dân sự thực hiện không trái quy định của pháp luật.
Trường hợp pháp luật có quy định trình tự, thủ tục định đoạt tài sản thì phải tuân theo trình tự, thủ tục đó.
Điều 194. Quyền định đoạt của chủ sở hữu
Chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng, tiêu hủy hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản.
Điều 195. Quyền định đoạt của người không phải là chủ sở hữu
Người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản theo ủy quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của luật.
Điều 196. Hạn chế quyền định đoạt
1. Quyền định đoạt chỉ bị hạn chế trong trường hợp do luật quy định.
2. Khi tài sản đem bán là tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa thì Nhà nước có quyền ưu tiên mua.
Trường hợp cá nhân, pháp nhân có quyền ưu tiên mua đối với tài sản nhất định theo quy định của pháp luật thì khi bán tài sản, chủ sở hữu phải dành quyền ưu tiên mua cho các chủ thể đó.
Điều 197. Tài sản thuộc sở hữu toàn dân
Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
Điều 198. Thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân
1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đại diện, thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân.
2. Chính phủ thống nhất quản lý và bảo đảm sử dụng đúng mục đích, hiệu quả và tiết kiệm tài sản thuộc sở hữu toàn dân.
Điều 199. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu toàn dân
Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu toàn dân được thực hiện trong phạm vi và theo trình tự do pháp luật quy định.
Điều 200. Thực hiện quyền sở hữu toàn dân đối với tài sản được đầu tư vào doanh nghiệp
1. Khi tài sản thuộc sở hữu toàn dân được đầu tư vào doanh nghiệp thì Nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Doanh nghiệp thực hiện việc quản lý, sử dụng vốn, đất đai, tài nguyên và các tài sản khác do Nhà nước đầu tư theo quy định của pháp luật có liên quan.
1. Khi tài sản thuộc sở hữu toàn dân được giao cho cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân thì Nhà nước thực hiện quyền kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng tài sản đó.
2. Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân thực hiện việc quản lý, sử dụng đúng mục đích, theo quy định của pháp luật đối với tài sản được Nhà nước giao.
1. Khi tài sản thuộc sở hữu toàn dân được giao cho tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp thì Nhà nước thực hiện quyền kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng tài sản đó.
2. Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp thực hiện việc quản lý, sử dụng tài sản được Nhà nước giao đúng mục đích, phạm vi, theo cách thức, trình tự do pháp luật quy định, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được quy định trong điều lệ.
Điều 203. Quyền của cá nhân, pháp nhân đối với việc sử dụng, khai thác tài sản thuộc sở hữu toàn dân
Cá nhân, pháp nhân được sử dụng đất, khai thác nguồn lợi thủy sản, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản khác thuộc sở hữu toàn dân đúng mục đích, có hiệu quả, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Điều 204. Tài sản thuộc sở hữu toàn dân chưa được giao cho cá nhân, pháp nhân quản lý
Đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân mà chưa được giao cho cá nhân, pháp nhân quản lý thì Chính phủ tổ chức thực hiện việc bảo vệ, điều tra, khảo sát và lập quy hoạch đưa vào khai thác.
Điều 205. Sở hữu riêng và tài sản thuộc sở hữu riêng
1. Sở hữu riêng là sở hữu của một cá nhân hoặc một pháp nhân.
2. Tài sản hợp pháp thuộc sở hữu riêng không bị hạn chế về số lượng, giá trị.
Điều 206. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng
1. Chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh và các mục đích khác không trái pháp luật.
2. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Điều 207. Sở hữu chung và các loại sở hữu chung
1. Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ thể đối với tài sản.
2. Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất.
Điều 208. Xác lập quyền sở hữu chung
Quyền sở hữu chung được xác lập theo thỏa thuận, theo quy định của pháp luật hoặc theo tập quán.
Điều 209. Sở hữu chung theo phần
1. Sở hữu chung theo phần là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định đối với tài sản chung.
2. Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền, nghĩa vụ đối với tài sản thuộc sở hữu chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 210. Sở hữu chung hợp nhất
1. Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó, phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung.
Sở hữu chung hợp nhất bao gồm sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia và sở hữu chung hợp nhất không phân chia.
2. Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung.
Điều 211. Sở hữu chung của cộng đồng
1. Sở hữu chung của cộng đồng là sở hữu của dòng họ, thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc, cộng đồng tôn giáo và cộng đồng dân cư khác đối với tài sản được hình thành theo tập quán, tài sản do các thành viên của cộng đồng cùng nhau đóng góp, quyên góp, được tặng cho chung hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật nhằm mục đích thỏa mãn lợi ích chung hợp pháp của cộng đồng.
2. Các thành viên của cộng đồng cùng quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung theo thỏa thuận hoặc theo tập quán vì lợi ích chung của cộng đồng nhưng không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
3. Tài sản chung của cộng đồng là tài sản chung hợp nhất không phân chia.
Điều 212. Sở hữu chung của các thành viên gia đình
1. Tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.
2. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo phương thức thỏa thuận. Trường hợp định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác.
Trường hợp không có thỏa thuận thì áp dụng quy định về sở hữu chung theo phần được quy định tại Bộ luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 213 của Bộ luật này.
Điều 213. Sở hữu chung của vợ chồng
1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia.
2. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
3. Vợ chồng thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
4. Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án.
5. Trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình thì tài sản chung của vợ chồng được áp dụng theo chế độ tài sản này.
Điều 214. Sở hữu chung trong nhà chung cư
1. Phần diện tích, trang thiết bị và các tài sản khác dùng chung trong nhà chung cư theo quy định của Luật nhà ở thuộc sở hữu chung hợp nhất của tất cả chủ sở hữu các căn hộ trong nhà đó và không phân chia, trừ trường hợp luật có quy định khác hoặc tất cả các chủ sở hữu có thỏa thuận khác.
2. Chủ sở hữu các căn hộ trong nhà chung cư có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong việc quản lý, sử dụng tài sản quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp luật có quy định khác hoặc có thỏa thuận khác.
3. Trường hợp nhà chung cư bị tiêu hủy thì quyền của chủ sở hữu căn hộ chung cư thực hiện theo quy định của luật.
Điều 215. Sở hữu chung hỗn hợp
1. Sở hữu chung hỗn hợp là sở hữu đối với tài sản do các chủ sở hữu thuộc các thành phần kinh tế khác nhau góp vốn để sản xuất, kinh doanh thu lợi nhuận.
2. Tài sản được hình thành từ nguồn vốn góp của các chủ sở hữu, lợi nhuận hợp pháp thu được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc từ nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật là tài sản thuộc sở hữu chung hỗn hợp.
3. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung hỗn hợp phải tuân theo quy định tại Điều 209 của Bộ luật này và quy định của pháp luật có liên quan đến việc góp vốn, tổ chức, hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý, điều hành, trách nhiệm về tài sản và phân chia lợi nhuận.
Điều 216. Quản lý tài sản chung
Các chủ sở hữu chung cùng quản lý tài sản chung theo nguyên tắc nhất trí, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Điều 217. Sử dụng tài sản chung
1. Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
2. Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền ngang nhau trong việc khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản chung, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 218. Định đoạt tài sản chung
1. Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình.
2. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp một chủ sở hữu chung theo phần bán phần quyền sở hữu của mình thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua.
Trong thời hạn 03 tháng đối với tài sản chung là bất động sản, 01 tháng đối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở hữu đó được quyền bán cho người khác. Việc thông báo phải được thể hiện bằng văn bản và các điều kiện bán cho chủ sở hữu chung khác phải giống như điều kiện bán cho người không phải là chủ sở hữu chung.
Trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu Tòa án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.
4. Trường hợp một trong các chủ sở hữu chung đối với bất động sản từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc về Nhà nước, trừ trường hợp sở hữu chung của cộng đồng thì thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu chung còn lại.
5. Trường hợp một trong các chủ sở hữu chung đối với động sản từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu còn lại.
6. Trường hợp tất cả các chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với tài sản chung thì việc xác lập quyền sở hữu được áp dụng theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật này.
Điều 219. Chia tài sản thuộc sở hữu chung
1. Trường hợp sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung; nếu tình trạng sở hữu chung phải được duy trì trong một thời hạn theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của luật thì mỗi chủ sở hữu chung chỉ có quyền yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hạn đó; khi tài sản chung không thể chia được bằng hiện vật thì chủ sở hữu chung có yêu cầu chia có quyền bán phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp các chủ sở hữu chung có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp có người yêu cầu một người trong số các chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ thanh toán và chủ sở hữu chung đó không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thanh toán thì người yêu cầu có quyền yêu cầu chia tài sản chung và tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Nếu không thể chia phần quyền sở hữu bằng hiện vật hoặc việc chia này bị các chủ sở hữu chung còn lại phản đối thì người có quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ bán phần quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Điều 220. Chấm dứt sở hữu chung
Sở hữu chung chấm dứt trong trường hợp sau đây:
1. Tài sản chung đã được chia.
2. Một trong số các chủ sở hữu chung được hưởng toàn bộ tài sản chung.
3. Tài sản chung không còn.
4. Trường hợp khác theo quy định của luật.
Mục 3. XÁC LẬP, CHẤM DỨT QUYỀN SỞ HỮU
Tiểu mục 1. XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU
Điều 221. Căn cứ xác lập quyền sở hữu
Quyền sở hữu được xác lập đối với tài sản trong trường hợp sau đây:
1. Do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, do hoạt động sáng tạo ra đối tượng quyền sở hữu trí tuệ.
2. Được chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác.
3. Thu hoa lợi, lợi tức.
4. Tạo thành tài sản mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến.
5. Được thừa kế.
6. Chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu; tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy; tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên; gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên.
7. Chiếm hữu, được lợi về tài sản theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.
8. Trường hợp khác do luật quy định.
Người lao động, người tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp có quyền sở hữu đối với tài sản có được từ lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, kể từ thời điểm có được tài sản đó.
Người tiến hành hoạt động sáng tạo có quyền sở hữu đối với tài sản có được từ hoạt động sáng tạo theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ.
Điều 223. Xác lập quyền sở hữu theo hợp đồng
Người được giao tài sản thông qua hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, cho vay hoặc hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật thì có quyền sở hữu tài sản đó.
Điều 224. Xác lập quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức
Chủ sở hữu, người sử dụng tài sản có quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật, kể từ thời điểm thu được hoa lợi, lợi tức đó.
Điều 225. Xác lập quyền sở hữu trong trường hợp sáp nhập
1. Trường hợp tài sản của nhiều chủ sở hữu khác nhau được sáp nhập với nhau tạo thành vật không chia được và không thể xác định tài sản đem sáp nhập là vật chính hoặc vật phụ thì vật mới được tạo thành là tài sản thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu đó; nếu tài sản đem sáp nhập là vật chính và vật phụ thì vật mới được tạo thành thuộc chủ sở hữu vật chính, kể từ thời điểm vật mới được tạo thành, chủ sở hữu tài sản mới phải thanh toán cho chủ sở hữu vật phụ phần giá trị của vật phụ đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Khi một người sáp nhập tài sản là động sản của người khác vào tài sản là động sản của mình, mặc dù đã biết hoặc phải biết tài sản đó không phải là của mình và cũng không được sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản bị sáp nhập thì chủ sở hữu tài sản bị sáp nhập có một trong các quyền sau đây:
a) Yêu cầu người sáp nhập tài sản giao tài sản mới cho mình và thanh toán cho người sáp nhập giá trị tài sản của người đó;
b) Yêu cầu người sáp nhập tài sản thanh toán giá trị phần tài sản của mình và bồi thường thiệt hại nếu không nhận tài sản mới;
c) Quyền khác theo quy định của luật.
3. Khi một người sáp nhập tài sản là động sản của người khác vào tài sản là bất động sản của mình, mặc dù đã biết hoặc phải biết tài sản đó không phải là của mình và cũng không được sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản bị sáp nhập thì chủ sở hữu tài sản bị sáp nhập có một trong các quyền sau đây:
a) Yêu cầu người sáp nhập tài sản thanh toán giá trị phần tài sản của mình và bồi thường thiệt hại;
b) Quyền khác theo quy định của luật.
4. Khi một người sáp nhập tài sản là động sản của mình vào một bất động sản của người khác thì chủ sở hữu bất động sản có quyền yêu cầu người sáp nhập dỡ bỏ tài sản sáp nhập trái phép và bồi thường thiệt hại hoặc giữ lại tài sản và thanh toán cho người sáp nhập giá trị tài sản sáp nhập, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 226. Xác lập quyền sở hữu trong trường hợp trộn lẫn
1. Trường hợp tài sản của nhiều chủ sở hữu khác nhau được trộn lẫn với nhau tạo thành vật mới không chia được thì vật mới là tài sản thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu đó, kể từ thời điểm trộn lẫn.
2. Khi một người đã trộn lẫn tài sản của người khác vào tài sản của mình, mặc dù đã biết hoặc phải biết tài sản đó không phải của mình và không được sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản bị trộn lẫn thì chủ sở hữu tài sản bị trộn lẫn có một trong các quyền sau đây:
a) Yêu cầu người đã trộn lẫn tài sản giao tài sản mới cho mình và thanh toán cho người đã trộn lẫn phần giá trị tài sản của người đó;
b) Yêu cầu người đã trộn lẫn tài sản thanh toán giá trị phần tài sản của mình và bồi thường thiệt hại nếu không nhận tài sản mới.
Điều 227. Xác lập quyền sở hữu trong trường hợp chế biến
1. Chủ sở hữu của nguyên vật liệu được đem chế biến tạo thành vật mới là chủ sở hữu của vật mới được tạo thành.
2. Người dùng nguyên vật liệu thuộc sở hữu của người khác để chế biến mà ngay tình thì trở thành chủ sở hữu của tài sản mới nhưng phải thanh toán giá trị nguyên vật liệu, bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu nguyên vật liệu đó.
3. Trường hợp người chế biến không ngay tình thì chủ sở hữu nguyên vật liệu có quyền yêu cầu giao lại vật mới; nếu có nhiều chủ sở hữu nguyên vật liệu thì những người này là đồng chủ sở hữu theo phần đối với vật mới được tạo thành, tương ứng với giá trị nguyên vật liệu của mỗi người. Chủ sở hữu nguyên vật liệu bị chế biến không ngay tình có quyền yêu cầu người chế biến bồi thường thiệt hại.
Điều 228. Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu
1. Tài sản vô chủ là tài sản mà chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản đó.
Người đã phát hiện, người đang quản lý tài sản vô chủ là động sản thì có quyền sở hữu tài sản đó, trừ trường hợp luật có quy định khác; nếu tài sản là bất động sản thì thuộc về Nhà nước.
2. Người phát hiện tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại.
Việc giao nộp phải được lập biên bản, trong đó ghi rõ họ, tên, địa chỉ của người giao nộp, người nhận, tình trạng, số lượng, khối lượng tài sản giao nộp.
Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã đã nhận tài sản phải thông báo cho người phát hiện về kết quả xác định chủ sở hữu.
Sau 01 năm, kể từ ngày thông báo công khai mà không xác định được ai là chủ sở hữu tài sản là động sản thì quyền sở hữu đối với động sản đó thuộc về người phát hiện tài sản.
Sau 05 năm, kể từ ngày thông báo công khai mà không xác định được ai là chủ sở hữu tài sản là bất động sản thì bất động sản đó thuộc về Nhà nước; người phát hiện được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật.
Điều 229. Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy
1. Người phát hiện tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phải thông báo hoặc trả lại ngay cho chủ sở hữu; nếu không biết ai là chủ sở hữu thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật.
2. Tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy mà không có hoặc không xác định được ai là chủ sở hữu thì sau khi trừ chi phí tìm kiếm, bảo quản, quyền sở hữu đối với tài sản này được xác định như sau:
a) Tài sản được tìm thấy là tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa thì thuộc về Nhà nước; người tìm thấy tài sản đó được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật;
b) Tài sản được tìm thấy không phải là tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa mà có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì thuộc sở hữu của người tìm thấy; nếu tài sản tìm thấy có giá trị lớn hơn mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì người tìm thấy được hưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước.
Điều 230. Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên
1. Người phát hiện tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà biết được địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc trả lại tài sản cho người đó; nếu không biết địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại.
Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã đã nhận tài sản phải thông báo cho người đã giao nộp về kết quả xác định chủ sở hữu.
2. Sau 01 năm, kể từ ngày thông báo công khai về tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì quyền sở hữu đối với tài sản này được xác định như sau:
a) Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bỏ quên có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì người nhặt được được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của Bộ luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; trường hợp tài sản có giá trị lớn hơn mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì sau khi trừ chi phí bảo quản, người nhặt được được hưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước;
b) Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên là tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa thì tài sản đó thuộc về Nhà nước; người nhặt được tài sản được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật.
Điều 231. Xác lập quyền sở hữu đối với gia súc bị thất lạc
1. Người bắt được gia súc bị thất lạc phải nuôi giữ và báo ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại. Sau 06 tháng, kể từ ngày thông báo công khai hoặc sau 01 năm đối với gia súc thả rông theo tập quán thì quyền sở hữu đối với gia súc và số gia súc được sinh ra trong thời gian nuôi giữ thuộc về người bắt được gia súc.
2. Trường hợp chủ sở hữu được nhận lại gia súc bị thất lạc thì phải thanh toán tiền công nuôi giữ và các chi phí khác cho người bắt được gia súc. Trong thời gian nuôi giữ gia súc bị thất lạc, nếu gia súc có sinh con thì người bắt được gia súc được hưởng một nửa số gia súc sinh ra hoặc 50% giá trị số gia súc sinh ra và phải bồi thường thiệt hại nếu có lỗi cố ý làm chết gia súc.
Điều 232. Xác lập quyền sở hữu đối với gia cầm bị thất lạc
1. Trường hợp gia cầm của một người bị thất lạc mà người khác bắt được thì người bắt được phải thông báo công khai để chủ sở hữu gia cầm biết mà nhận lại. Sau 01 tháng, kể từ ngày thông báo công khai mà không có người đến nhận thì quyền sở hữu đối với gia cầm và hoa lợi do gia cầm sinh ra trong thời gian nuôi giữ thuộc về người bắt được gia cầm.
2. Trường hợp chủ sở hữu được nhận lại gia cầm bị thất lạc thì phải thanh toán tiền công nuôi giữ và chi phí khác cho người bắt được gia cầm. Trong thời gian nuôi giữ gia cầm bị thất lạc, người bắt được gia cầm được hưởng hoa lợi do gia cầm sinh ra và phải bồi thường thiệt hại nếu có lỗi cố ý làm chết gia cầm.
Điều 233. Xác lập quyền sở hữu đối với vật nuôi dưới nước
Khi vật nuôi dưới nước của một người di chuyển tự nhiên vào ruộng, ao, hồ của người khác thì thuộc sở hữu của người có ruộng, ao, hồ đó. Trường hợp vật nuôi dưới nước có dấu hiệu riêng biệt để có thể xác định vật nuôi không thuộc sở hữu của mình thì người có ruộng, ao, hồ đó phải thông báo công khai để chủ sở hữu biết mà nhận lại. Sau 01 tháng, kể từ ngày thông báo công khai mà không có người đến nhận thì quyền sở hữu vật nuôi dưới nước đó thuộc về người có ruộng, ao, hồ.
Điều 234. Xác lập quyền sở hữu do được thừa kế
Người thừa kế được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản thừa kế theo quy định tại Phần thứ tư của Bộ luật này.
Quyền sở hữu có thể được xác lập căn cứ vào bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác.
Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
Tiểu mục 2. CHẤM DỨT QUYỀN SỞ HỮU
Điều 237. Căn cứ chấm dứt quyền sở hữu
Quyền sở hữu chấm dứt trong trường hợp sau đây:
1. Chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu của mình cho người khác.
2. Chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình.
3. Tài sản đã được tiêu dùng hoặc bị tiêu hủy.
4. Tài sản bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu.
5. Tài sản bị trưng mua.
6. Tài sản bị tịch thu.
7. Tài sản đã được xác lập quyền sở hữu cho người khác theo quy định của Bộ luật này.
8. Trường hợp khác do luật quy định.
Điều 238. Chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu của mình cho người khác
Khi chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu của mình cho người khác thông qua hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật hoặc thông qua việc để thừa kế thì quyền sở hữu đối với tài sản của người đó chấm dứt kể từ thời điểm phát sinh quyền sở hữu của người được chuyển giao.
Chủ sở hữu có thể tự chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản của mình bằng cách tuyên bố công khai hoặc thực hiện hành vi chứng tỏ việc mình từ bỏ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản đó.
Đối với tài sản mà việc từ bỏ tài sản đó có thể gây hại đến trật tự, an toàn xã hội, ô nhiễm môi trường thì việc từ bỏ quyền sở hữu phải tuân theo quy định của pháp luật.
Điều 240. Tài sản đã được xác lập quyền sở hữu cho người khác
Tài sản không xác định được chủ sở hữu; tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy; tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên; gia súc, gia cầm bị thất lạc; vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên đã được xác lập quyền sở hữu cho người khác theo quy định tại các điều từ Điều 228 đến Điều 233 của Bộ luật này thì quyền sở hữu của những người có tài sản đó chấm dứt.
Khi quyền sở hữu của người chiếm hữu, người được lợi về tài sản đã được xác lập theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này hoặc quy định khác của luật có liên quan thì chấm dứt quyền sở hữu của người có tài sản bị chiếm hữu.
Điều 241. Xử lý tài sản để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu
1. Quyền sở hữu đối với một tài sản chấm dứt khi tài sản đó bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, nếu pháp luật không có quy định khác.
2. Việc xử lý tài sản để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu không áp dụng đối với tài sản không thuộc diện kê biên theo quy định của pháp luật.
3. Quyền sở hữu đối với tài sản bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu chấm dứt tại thời điểm phát sinh quyền sở hữu của người nhận tài sản đó.
4. Việc xử lý quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai.
Điều 242. Tài sản được tiêu dùng hoặc bị tiêu hủy
Khi tài sản được tiêu dùng hoặc bị tiêu hủy thì quyền sở hữu đối với tài sản đó chấm dứt.
Điều 243. Tài sản bị trưng mua
Trường hợp Nhà nước trưng mua tài sản theo quy định của luật thì quyền sở hữu đối với tài sản của chủ sở hữu đó chấm dứt kể từ thời điểm quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực pháp luật.
Khi tài sản của chủ sở hữu do phạm tội, vi phạm hành chính mà bị tịch thu, sung quỹ nhà nước thì quyền sở hữu đối với tài sản đó chấm dứt kể từ thời điểm bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác có hiệu lực pháp luật.
Mục 1. QUYỀN ĐỐI VỚI BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ
Điều 245. Quyền đối với bất động sản liền kề
Quyền đối với bất động sản liền kề là quyền được thực hiện trên một bất động sản (gọi là bất động sản chịu hưởng quyền) nhằm phục vụ cho việc khai thác một bất động sản khác thuộc quyền sở hữu của người khác (gọi là bất động sản hưởng quyền).
Điều 246. Căn cứ xác lập quyền đối với bất động sản liền kề
Quyền đối với bất động sản liền kề được xác lập do địa thế tự nhiên, theo quy định của luật, theo thỏa thuận hoặc theo di chúc.
Điều 247. Hiệu lực của quyền đối với bất động sản liền kề
Quyền đối với bất động sản liền kề có hiệu lực đối với mọi cá nhân, pháp nhân và được chuyển giao khi bất động sản được chuyển giao, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
Điều 248. Nguyên tắc thực hiện quyền đối với bất động sản liền kề
Việc thực hiện quyền đối với bất động sản liền kề theo thỏa thuận của các bên. Trường hợp các bên không có thỏa thuận thì thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:
1. Bảo đảm nhu cầu hợp lý của việc khai thác bất động sản hưởng quyền phù hợp với mục đích sử dụng của cả bất động sản hưởng quyền và bất động sản chịu hưởng quyền.
2. Không được lạm dụng quyền đối với bất động sản chịu hưởng quyền.
3. Không được thực hiện hành vi ngăn cản hoặc làm cho việc thực hiện quyền đối với bất động sản hưởng quyền trở nên khó khăn.
Điều 249. Thay đổi việc thực hiện quyền đối với bất động sản liền kề
Trường hợp có sự thay đổi về sử dụng, khai thác bất động sản chịu hưởng quyền dẫn đến thay đổi việc thực hiện quyền đối với bất động sản hưởng quyền thì chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền phải thông báo trước cho chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền trong một thời hạn hợp lý. Chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền phải tạo điều kiện thuận lợi cho chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền phù hợp với thay đổi này.
Điều 250. Nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc thoát nước mưa
Chủ sở hữu nhà, công trình xây dựng khác phải lắp đặt đường dẫn nước sao cho nước mưa từ mái nhà, công trình xây dựng của mình không được chảy xuống bất động sản của chủ sở hữu bất động sản liền kề.
Điều 251. Nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc thoát nước thải
Chủ sở hữu nhà, công trình xây dựng khác phải làm cống ngầm hoặc rãnh thoát nước để đưa nước thải ra nơi quy định, sao cho nước thải không chảy tràn sang bất động sản của chủ sở hữu bất động sản liền kề, ra đường công cộng hoặc nơi sinh hoạt công cộng.
Điều 252. Quyền về cấp, thoát nước qua bất động sản liền kề
Trường hợp do vị trí tự nhiên của bất động sản mà việc cấp, thoát nước buộc phải qua một bất động sản khác thì chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua phải dành một lối cấp, thoát nước thích hợp, không được cản trở hoặc ngăn chặn dòng nước chảy.
Người sử dụng lối cấp, thoát nước phải hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua khi lắp đặt đường dẫn nước; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường. Trường hợp nước tự nhiên chảy từ vị trí cao xuống vị trí thấp mà gây thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua thì người sử dụng lối cấp, thoát nước không phải bồi thường thiệt hại.
Điều 253. Quyền về tưới nước, tiêu nước trong canh tác
Người có quyền sử dụng đất canh tác khi có nhu cầu về tưới nước, tiêu nước, có quyền yêu cầu những người sử dụng đất xung quanh để cho mình một lối dẫn nước thích hợp, thuận tiện cho việc tưới, tiêu; người được yêu cầu có nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu đó; nếu người sử dụng lối dẫn nước gây thiệt hại cho người sử dụng đất xung quanh thì phải bồi thường.
1. Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.
Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.
Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thỏa thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác xác định.
3. Trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều này mà không có đền bù.
Điều 255. Mắc đường dây tải điện, thông tin liên lạc qua bất động sản khác
Chủ sở hữu bất động sản có quyền mắc đường dây tải điện, thông tin liên lạc qua bất động sản của các chủ sở hữu khác một cách hợp lý, nhưng phải bảo đảm an toàn và thuận tiện cho các chủ sở hữu đó; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Điều 256. Chấm dứt quyền đối với bất động sản liền kề
Quyền đối với bất động sản liền kề chấm dứt trong trường hợp sau đây:
1. Bất động sản hưởng quyền và bất động sản chịu hưởng quyền thuộc quyền sở hữu của một người.
2. Việc sử dụng, khai thác bất động sản không còn làm phát sinh nhu cầu hưởng quyền.
3. Theo thỏa thuận của các bên.
4. Trường hợp khác theo quy định của luật.
Quyền hưởng dụng là quyền của chủ thể được khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác trong một thời hạn nhất định.
Điều 258. Căn cứ xác lập quyền hưởng dụng
Quyền hưởng dụng được xác lập theo quy định của luật, theo thỏa thuận hoặc theo di chúc.
Điều 259. Hiệu lực của quyền hưởng dụng
Quyền hưởng dụng được xác lập từ thời điểm nhận chuyển giao tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác.
Quyền hưởng dụng đã được xác lập có hiệu lực đối với mọi cá nhân, pháp nhân, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
Điều 260. Thời hạn của quyền hưởng dụng
1. Thời hạn của quyền hưởng dụng do các bên thỏa thuận hoặc do luật quy định nhưng tối đa đến hết cuộc đời của người hưởng dụng đầu tiên nếu người hưởng dụng là cá nhân và đến khi pháp nhân chấm dứt tồn tại nhưng tối đa 30 năm nếu người hưởng dụng đầu tiên là pháp nhân.
2. Người hưởng dụng có quyền cho thuê quyền hưởng dụng trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 261. Quyền của người hưởng dụng
1. Tự mình hoặc cho phép người khác khai thác, sử dụng, thu hoa lợi, lợi tức từ đối tượng của quyền hưởng dụng.
2. Yêu cầu chủ sở hữu tài sản thực hiện nghĩa vụ sửa chữa đối với tài sản theo quy định tại khoản 4 Điều 263 của Bộ luật này; trường hợp thực hiện nghĩa vụ thay cho chủ sở hữu tài sản thì có quyền yêu cầu chủ sở hữu tài sản hoàn trả chi phí.
3. Cho thuê quyền hưởng dụng đối với tài sản.
Điều 262. Nghĩa vụ của người hưởng dụng
1. Tiếp nhận tài sản theo hiện trạng và thực hiện đăng ký nếu luật có quy định.
2. Khai thác tài sản phù hợp với công dụng, mục đích sử dụng của tài sản.
3. Giữ gìn, bảo quản tài sản như tài sản của mình.
4. Bảo dưỡng, sửa chữa tài sản theo định kỳ để bảo đảm cho việc sử dụng bình thường; khôi phục tình trạng của tài sản và khắc phục các hậu quả xấu đối với tài sản do việc không thực hiện tốt nghĩa vụ của mình phù hợp với yêu cầu kỹ thuật hoặc theo tập quán về bảo quản tài sản.
5. Hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu khi hết thời hạn hưởng dụng.
Điều 263. Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu tài sản
1. Định đoạt tài sản nhưng không được làm thay đổi quyền hưởng dụng đã được xác lập.
2. Yêu cầu Tòa án truất quyền hưởng dụng trong trường hợp người hưởng dụng vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của mình.
3. Không được cản trở, thực hiện hành vi khác gây khó khăn hoặc xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người hưởng dụng.
4. Thực hiện nghĩa vụ sửa chữa tài sản để bảo đảm không bị suy giảm đáng kể dẫn tới tài sản không thể sử dụng được hoặc mất toàn bộ công dụng, giá trị của tài sản.
Điều 264. Quyền hưởng hoa lợi, lợi tức
1. Người hưởng dụng có quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng trong thời gian quyền này có hiệu lực.
2. Trường hợp quyền hưởng dụng chấm dứt mà chưa đến kỳ hạn thu hoa lợi, lợi tức thì khi đến kỳ hạn thu hoa lợi, lợi tức, người hưởng dụng được hưởng giá trị của hoa lợi, lợi tức thu được tương ứng với thời gian người đó được quyền hưởng dụng.
Điều 265. Chấm dứt quyền hưởng dụng
Quyền hưởng dụng chấm dứt trong trường hợp sau đây:
1. Thời hạn của quyền hưởng dụng đã hết.
2. Theo thỏa thuận của các bên.
3. Người hưởng dụng trở thành chủ sở hữu tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng.
4. Người hưởng dụng từ bỏ hoặc không thực hiện quyền hưởng dụng trong thời hạn do luật quy định.
5. Tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng không còn.
6. Theo quyết định của Tòa án.
7. Căn cứ khác theo quy định của luật.
Điều 266. Hoàn trả tài sản khi chấm dứt quyền hưởng dụng
Tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng phải được hoàn trả cho chủ sở hữu khi chấm dứt quyền hưởng dụng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
Quyền bề mặt là quyền của một chủ thể đối với mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất mà quyền sử dụng đất đó thuộc về chủ thể khác.
Điều 268. Căn cứ xác lập quyền bề mặt
Quyền bề mặt được xác lập theo quy định của luật, theo thỏa thuận hoặc theo di chúc.
Điều 269. Hiệu lực của quyền bề mặt
Quyền bề mặt có hiệu lực từ thời điểm chủ thể có quyền sử dụng đất chuyển giao mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất cho chủ thể có quyền bề mặt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác.
Quyền bề mặt có hiệu lực đối với mọi cá nhân, pháp nhân, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
Điều 270. Thời hạn của quyền bề mặt
1. Thời hạn của quyền bề mặt được xác định theo quy định của luật, theo thỏa thuận hoặc di chúc nhưng không vượt quá thời hạn của quyền sử dụng đất.
2. Trường hợp thỏa thuận hoặc di chúc không xác định thời hạn của quyền bề mặt thì mỗi bên có quyền chấm dứt quyền này bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên kia biết trước ít nhất là 06 tháng.
Điều 271. Nội dung của quyền bề mặt
1. Chủ thể quyền bề mặt có quyền khai thác, sử dụng mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất thuộc quyền sử dụng đất của người khác để xây dựng công trình, trồng cây, canh tác nhưng không được trái với quy định của Bộ luật này, pháp luật về đất đai, xây dựng, quy hoạch, tài nguyên, khoáng sản và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Chủ thể quyền bề mặt có quyền sở hữu đối với tài sản được tạo lập theo quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Trường hợp quyền bề mặt được chuyển giao một phần hoặc toàn bộ thì chủ thể nhận chuyển giao được kế thừa quyền bề mặt theo điều kiện và trong phạm vi tương ứng với phần quyền bề mặt được chuyển giao.
Điều 272. Chấm dứt quyền bề mặt
Quyền bề mặt chấm dứt trong trường hợp sau đây:
1. Thời hạn hưởng quyền bề mặt đã hết.
2. Chủ thể có quyền bề mặt và chủ thể có quyền sử dụng đất là một.
3. Chủ thể có quyền bề mặt từ bỏ quyền của mình.
4. Quyền sử dụng đất có quyền bề mặt bị thu hồi theo quy định của Luật đất đai.
5. Theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của luật.
Điều 273. Xử lý tài sản khi quyền bề mặt chấm dứt
1. Khi quyền bề mặt chấm dứt, chủ thể quyền bề mặt phải trả lại mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất cho chủ thể có quyền sử dụng đất theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
2. Chủ thể quyền bề mặt phải xử lý tài sản thuộc sở hữu của mình trước khi quyền bề mặt chấm dứt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Trường hợp chủ thể quyền bề mặt không xử lý tài sản trước khi quyền bề mặt chấm dứt thì quyền sở hữu tài sản đó thuộc về chủ thể có quyền sử dụng đất kể từ thời điểm quyền bề mặt chấm dứt, trừ trường hợp chủ thể có quyền sử dụng đất không nhận tài sản đó.
Trường hợp chủ thể có quyền sử dụng đất không nhận tài sản mà phải xử lý tài sản thì chủ thể có quyền bề mặt phải thanh toán chi phí xử lý tài sản.
Mục 1. CĂN CỨ PHÁT SINH VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA NGHĨA VỤ
Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền).
Điều 275. Căn cứ phát sinh nghĩa vụ
Nghĩa vụ phát sinh từ căn cứ sau đây:
1. Hợp đồng.
2. Hành vi pháp lý đơn phương.
3. Thực hiện công việc không có ủy quyền.
4. Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
5. Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật.
6. Căn cứ khác do pháp luật quy định.
Điều 276. Đối tượng của nghĩa vụ
1. Đối tượng của nghĩa vụ là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện.
2. Đối tượng của nghĩa vụ phải được xác định.
Điều 277. Địa điểm thực hiện nghĩa vụ
1. Địa điểm thực hiện nghĩa vụ do các bên thỏa thuận.
2. Trường hợp không có thỏa thuận thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ được xác định như sau:
a) Nơi có bất động sản, nếu đối tượng của nghĩa vụ là bất động sản;
b) Nơi cư trú hoặc trụ sở của bên có quyền, nếu đối tượng của nghĩa vụ không phải là bất động sản.
Khi bên có quyền thay đổi nơi cư trú hoặc trụ sở thì phải báo cho bên có nghĩa vụ và phải chịu chi phí tăng lên do việc thay đổi nơi cư trú hoặc trụ sở, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 278. Thời hạn thực hiện nghĩa vụ
1. Thời hạn thực hiện nghĩa vụ do các bên thỏa thuận, theo quy định của pháp luật hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
2. Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
Trường hợp bên có nghĩa vụ đã tự ý thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn và bên có quyền đã chấp nhận việc thực hiện nghĩa vụ thì nghĩa vụ được coi là đã hoàn thành đúng thời hạn.
3. Trường hợp không xác định được thời hạn thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 Điều này thì mỗi bên có thể thực hiện nghĩa vụ hoặc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ vào bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho bên kia biết trước một thời gian hợp lý.
Điều 279. Thực hiện nghĩa vụ giao vật
1. Bên có nghĩa vụ giao vật phải bảo quản, giữ gìn vật cho đến khi giao.
2. Khi vật phải giao là vật đặc định thì bên có nghĩa vụ phải giao đúng vật đó và đúng tình trạng như đã cam kết; nếu là vật cùng loại thì phải giao đúng số lượng và chất lượng như đã thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận về chất lượng thì phải giao vật đó với chất lượng trung bình; nếu là vật đồng bộ thì phải giao đồng bộ.
3. Bên có nghĩa vụ phải chịu mọi chi phí về việc giao vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 280. Thực hiện nghĩa vụ trả tiền
1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận.
2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 281. Nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc
1. Nghĩa vụ phải thực hiện một công việc là nghĩa vụ mà theo đó bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng công việc đó.
2. Nghĩa vụ không được thực hiện một công việc là nghĩa vụ mà theo đó bên có nghĩa vụ không được thực hiện công việc đó.
Điều 282. Thực hiện nghĩa vụ theo định kỳ
Nghĩa vụ được thực hiện theo định kỳ theo thỏa thuận, theo quy định của pháp luật hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Việc chậm thực hiện nghĩa vụ theo từng kỳ cũng bị coi là chậm thực hiện nghĩa vụ.
Điều 283. Thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba
Khi được bên có quyền đồng ý, bên có nghĩa vụ có thể ủy quyền cho người thứ ba thay mình thực hiện nghĩa vụ nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm với bên có quyền, nếu người thứ ba không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Điều 284. Thực hiện nghĩa vụ có điều kiện
1. Trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định về điều kiện thực hiện nghĩa vụ thì khi điều kiện phát sinh, bên có nghĩa vụ phải thực hiện.
2. Trường hợp điều kiện không xảy ra hoặc xảy ra do có sự tác động của một bên thì áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 120 của Bộ luật này.
Điều 285. Thực hiện nghĩa vụ có đối tượng tùy ý lựa chọn
1. Nghĩa vụ có đối tượng tùy ý lựa chọn là nghĩa vụ mà đối tượng là một trong nhiều tài sản hoặc công việc khác nhau và bên có nghĩa vụ có thể tùy ý lựa chọn, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định dành quyền lựa chọn cho bên có quyền.
2. Bên có nghĩa vụ phải thông báo cho bên có quyền biết về việc tài sản hoặc công việc được lựa chọn để thực hiện nghĩa vụ. Trường hợp bên có quyền đã xác định thời hạn thực hiện nghĩa vụ được lựa chọn thì bên có nghĩa vụ phải hoàn thành đúng thời hạn.
3. Trường hợp chỉ còn một tài sản hoặc một công việc thì bên có nghĩa vụ phải giao tài sản đó hoặc thực hiện công việc đó.
Điều 286. Thực hiện nghĩa vụ thay thế được
Nghĩa vụ thay thế được là nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ ban đầu thì có thể thực hiện một nghĩa vụ khác đã được bên có quyền chấp nhận để thay thế nghĩa vụ đó.
Điều 287. Thực hiện nghĩa vụ riêng rẽ
Khi nhiều người cùng thực hiện một nghĩa vụ, nhưng mỗi người có một phần nghĩa vụ nhất định và riêng rẽ thì mỗi người chỉ phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình.
Điều 288. Thực hiện nghĩa vụ liên đới
1. Nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.
2. Trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình.
3. Trường hợp bên có quyền đã chỉ định một trong số những người có nghĩa vụ liên đới thực hiện toàn bộ nghĩa vụ, nhưng sau đó lại miễn cho người đó thì những người còn lại cũng được miễn thực hiện nghĩa vụ.
4. Trường hợp bên có quyền chỉ miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho một trong số những người có nghĩa vụ liên đới không phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình thì những người còn lại vẫn phải liên đới thực hiện phần nghĩa vụ của họ.
Điều 289. Thực hiện nghĩa vụ đối với nhiều người có quyền liên đới
1. Nghĩa vụ đối với nhiều người có quyền liên đới là nghĩa vụ mà theo đó mỗi người trong số những người có quyền đều có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.
2. Bên có nghĩa vụ có thể thực hiện nghĩa vụ của mình đối với bất cứ ai trong số những người có quyền liên đới.
3. Trường hợp một trong số những người có quyền liên đới miễn cho bên có nghĩa vụ không phải thực hiện phần nghĩa vụ đối với mình thì bên có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện phần nghĩa vụ còn lại đối với những người có quyền liên đới khác.
Điều 290. Thực hiện nghĩa vụ phân chia được theo phần
1. Nghĩa vụ phân chia được theo phần là nghĩa vụ mà đối tượng của nghĩa vụ có thể chia thành nhiều phần để thực hiện.
2. Bên có nghĩa vụ có thể thực hiện từng phần nghĩa vụ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 291. Thực hiện nghĩa vụ không phân chia được theo phần
1. Nghĩa vụ không phân chia được theo phần là nghĩa vụ mà đối tượng của nghĩa vụ phải được thực hiện cùng một lúc.
2. Trường hợp nhiều người cùng phải thực hiện một nghĩa vụ không phân chia được theo phần thì họ phải thực hiện nghĩa vụ cùng một lúc.
Mục 3. BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ
Điều 292. Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bao gồm:
1. Cầm cố tài sản.
2. Thế chấp tài sản.
3. Đặt cọc.
4. Ký cược.
5. Ký quỹ.
6. Bảo lưu quyền sở hữu.
7. Bảo lãnh.
8. Tín chấp.
9. Cầm giữ tài sản.
Điều 293. Phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm
1. Nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại.
2. Nghĩa vụ được bảo đảm có thể là nghĩa vụ hiện tại, nghĩa vụ trong tương lai hoặc nghĩa vụ có điều kiện.
3. Trường hợp bảo đảm nghĩa vụ trong tương lai thì nghĩa vụ được hình thành trong thời hạn bảo đảm là nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 294. Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai
1. Trường hợp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai, các bên có quyền thỏa thuận cụ thể về phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm và thời hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Khi nghĩa vụ trong tương lai được hình thành, các bên không phải xác lập lại biện pháp bảo đảm đối với nghĩa vụ đó.
1. Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu.
2. Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được.
3. Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai.
4. Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm.
Điều 296. Một tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ
1. Một tài sản có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, nếu có giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
2. Trường hợp một tài sản được bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì bên bảo đảm phải thông báo cho bên nhận bảo đảm sau biết về việc tài sản bảo đảm đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác. Mỗi lần bảo đảm phải được lập thành văn bản.
3. Trường hợp phải xử lý tài sản để thực hiện một nghĩa vụ đến hạn thì các nghĩa vụ khác tuy chưa đến hạn đều được coi là đến hạn và tất cả các bên cùng nhận bảo đảm đều được tham gia xử lý tài sản. Bên nhận bảo đảm đã thông báo về việc xử lý tài sản có trách nhiệm xử lý tài sản, nếu các bên cùng nhận bảo đảm không có thỏa thuận khác.
Trường hợp các bên muốn tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ chưa đến hạn thì có thể thỏa thuận về việc bên bảo đảm dùng tài sản khác để bảo đảm việc thực hiện các nghĩa vụ chưa đến hạn.
Điều 297. Hiệu lực đối kháng với người thứ ba
1. Biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba từ khi đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc bên nhận bảo đảm nắm giữ hoặc chiếm giữ tài sản bảo đảm.
2. Khi biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì bên nhận bảo đảm được quyền truy đòi tài sản bảo đảm và được quyền thanh toán theo quy định tại Điều 308 của Bộ luật này và luật khác có liên quan.
Điều 298. Đăng ký biện pháp bảo đảm
1. Biện pháp bảo đảm được đăng ký theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.
Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp luật có quy định.
2. Trường hợp được đăng ký thì biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.
3. Việc đăng ký biện pháp bảo đảm được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm.
Điều 299. Các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm
1. Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
2. Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.
3. Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định.
Điều 300. Thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm
1. Trước khi xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm phải thông báo bằng văn bản trong một thời hạn hợp lý về việc xử lý tài sản bảo đảm cho bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm khác.
Đối với tài sản bảo đảm có nguy cơ bị hư hỏng dẫn đến bị giảm sút giá trị hoặc mất toàn bộ giá trị thì bên nhận bảo đảm có quyền xử lý ngay, đồng thời phải thông báo cho bên bảo đảm và các bên nhận bảo đảm khác về việc xử lý tài sản đó.
2. Trường hợp bên nhận bảo đảm không thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại khoản 1 Điều này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho bên bảo đảm, các bên cùng nhận bảo đảm khác.
Điều 301. Giao tài sản bảo đảm để xử lý
Người đang giữ tài sản bảo đảm có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm để xử lý khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 299 của Bộ luật này.
Trường hợp người đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
Điều 302. Quyền nhận lại tài sản bảo đảm
Trước thời điểm xử lý tài sản bảo đảm mà bên bảo đảm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với bên nhận bảo đảm và thanh toán chi phí phát sinh do việc chậm thực hiện nghĩa vụ thì có quyền nhận lại tài sản đó, trừ trường hợp luật có quy định khác.
Điều 303. Phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp
1. Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận một trong các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau đây:
a) Bán đấu giá tài sản;
b) Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản;
c) Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm;
d) Phương thức khác.
2. Trường hợp không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại khoản 1 Điều này thì tài sản được bán đấu giá, trừ trường hợp luật có quy định khác.
Điều 304. Bán tài sản cầm cố, thế chấp
1. Việc bán đấu giá tài sản cầm cố, thế chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.
2. Việc tự bán tài sản cầm cố, thế chấp của bên nhận bảo đảm được thực hiện theo quy định về bán tài sản trong Bộ luật này và quy định sau đây:
a) Việc thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản được thực hiện theo quy định tại Điều 307 của Bộ luật này;
b) Sau khi có kết quả bán tài sản thì chủ sở hữu tài sản và bên có quyền xử lý tài sản phải thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật để chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua tài sản.
Điều 305. Nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm
1. Bên nhận bảo đảm được quyền nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm nếu có thỏa thuận khi xác lập giao dịch bảo đảm.
2. Trường hợp không có thỏa thuận theo quy định tại khoản 1 Điều này thì bên nhận bảo đảm chỉ được nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ khi bên bảo đảm đồng ý bằng văn bản.
3. Trường hợp giá trị của tài sản bảo đảm lớn hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm thì bên nhận bảo đảm phải thanh toán số tiền chênh lệch đó cho bên bảo đảm; trường hợp giá trị tài sản bảo đảm nhỏ hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán trở thành nghĩa vụ không có bảo đảm.
4. Bên bảo đảm có nghĩa vụ thực hiện các thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên nhận bảo đảm theo quy định của pháp luật.
Điều 306. Định giá tài sản bảo đảm
1. Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận về giá tài sản bảo đảm hoặc định giá thông qua tổ chức định giá tài sản khi xử lý tài sản bảo đảm.
Trường hợp không có thỏa thuận thì tài sản được định giá thông qua tổ chức định giá tài sản.
2. Việc định giá tài sản bảo đảm phải bảo đảm khách quan, phù hợp với giá thị trường.
3. Tổ chức định giá phải bồi thường thiệt hại nếu có hành vi trái pháp luật mà gây thiệt hại cho bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm trong quá trình định giá tài sản bảo đảm.
Điều 307. Thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp
1. Số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp được thanh toán theo thứ tự ưu tiên quy định tại Điều 308 của Bộ luật này.
2. Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì số tiền chênh lệch phải được trả cho bên bảo đảm.
3. Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán được xác định là nghĩa vụ không có bảo đảm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bổ sung tài sản bảo đảm. Bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ được bảo đảm phải thực hiện phần nghĩa vụ chưa được thanh toán.
Điều 308. Thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận tài sản bảo đảm
1. Khi một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm được xác định như sau:
a) Trường hợp các biện pháp bảo đảm đều phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập hiệu lực đối kháng;
b) Trường hợp có biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba và có biện pháp bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm có hiệu lực đối kháng với người thứ ba được thanh toán trước;
c) Trường hợp các biện pháp bảo đảm đều không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập biện pháp bảo đảm.
2. Thứ tự ưu tiên thanh toán quy định tại khoản 1 Điều này có thể thay đổi, nếu các bên cùng nhận bảo đảm có thỏa thuận thay đổi thứ tự ưu tiên thanh toán cho nhau. Bên thế quyền ưu tiên thanh toán chỉ được ưu tiên thanh toán trong phạm vi bảo đảm của bên mà mình thế quyền.
Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Điều 310. Hiệu lực của cầm cố tài sản
1. Hợp đồng cầm cố tài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
2. Cầm cố tài sản có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm bên nhận cầm cố nắm giữ tài sản cầm cố.
Trường hợp bất động sản là đối tượng của cầm cố theo quy định của luật thì việc cầm cố bất động sản có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.
Điều 311. Nghĩa vụ của bên cầm cố
1. Giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố theo đúng thỏa thuận.
2. Báo cho bên nhận cầm cố về quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố, nếu có; trường hợp không thông báo thì bên nhận cầm cố có quyền hủy hợp đồng cầm cố tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố.
3. Thanh toán cho bên nhận cầm cố chi phí hợp lý để bảo quản tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 312. Quyền của bên cầm cố
1. Yêu cầu bên nhận cầm cố chấm dứt việc sử dụng tài sản cầm cố trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 314 của Bộ luật này nếu do sử dụng mà tài sản cầm cố có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị.
2. Yêu cầu bên nhận cầm cố trả lại tài sản cầm cố và giấy tờ liên quan, nếu có khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt.
3. Yêu cầu bên nhận cầm cố bồi thường thiệt hại xảy ra đối với tài sản cầm cố.
4. Được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản cầm cố nếu được bên nhận cầm cố đồng ý hoặc theo quy định của luật.
Điều 313. Nghĩa vụ của bên nhận cầm cố
1. Bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố; nếu làm mất, thất lạc hoặc hư hỏng tài sản cầm cố thì phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố.
2. Không được bán, trao đổi, tặng cho, sử dụng tài sản cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác.
3. Không được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Trả lại tài sản cầm cố và giấy tờ liên quan, nếu có khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.
Điều 314. Quyền của bên nhận cầm cố
1. Yêu cầu người đang chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật tài sản cầm cố trả lại tài sản đó.
2. Xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
3. Được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu có thỏa thuận.
4. Được thanh toán chi phí hợp lý bảo quản tài sản cầm cố khi trả lại tài sản cho bên cầm cố.
Điều 315. Chấm dứt cầm cố tài sản
Cầm cố tài sản chấm dứt trong trường hợp sau đây:
1. Nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt.
2. Việc cầm cố tài sản được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.
3. Tài sản cầm cố đã được xử lý.
4. Theo thỏa thuận của các bên.
Điều 316. Trả lại tài sản cầm cố
Khi việc cầm cố tài sản chấm dứt theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 315 của Bộ luật này hoặc theo thỏa thuận của các bên thì tài sản cầm cố, giấy tờ liên quan đến tài sản cầm cố được trả lại cho bên cầm cố. Hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản cầm cố cũng được trả lại cho bên cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
1. Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp).
2. Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp.
1. Trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp thế chấp một phần bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ gắn với tài sản đó thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
3. Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp thì tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Trường hợp tài sản thế chấp được bảo hiểm thì bên nhận thế chấp phải thông báo cho tổ chức bảo hiểm biết về việc tài sản bảo hiểm đang được dùng để thế chấp. Tổ chức bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm trực tiếp cho bên nhận thế chấp khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Trường hợp bên nhận thế chấp không thông báo cho tổ chức bảo hiểm biết về việc tài sản bảo hiểm đang được dùng để thế chấp thì tổ chức bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm và bên thế chấp có nghĩa vụ thanh toán cho bên nhận thế chấp.
Điều 319. Hiệu lực của thế chấp tài sản
1. Hợp đồng thế chấp tài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
2. Thế chấp tài sản phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.
Điều 320. Nghĩa vụ của bên thế chấp
1. Giao giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp trong trường hợp các bên có thỏa thuận, trừ trường hợp luật có quy định khác.
2. Bảo quản, giữ gìn tài sản thế chấp.
3. Áp dụng các biện pháp cần thiết để khắc phục, kể cả phải ngừng việc khai thác công dụng tài sản thế chấp nếu do việc khai thác đó mà tài sản thế chấp có nguy cơ mất giá trị hoặc giảm sút giá trị.
4. Khi tài sản thế chấp bị hư hỏng thì trong một thời gian hợp lý bên thế chấp phải sửa chữa hoặc thay thế bằng tài sản khác có giá trị tương đương, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
5. Cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp.
6. Giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp để xử lý khi thuộc một trong các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm quy định tại Điều 299 của Bộ luật này.
7. Thông báo cho bên nhận thế chấp về các quyền của người thứ ba đối với tài sản thế chấp, nếu có; trường hợp không thông báo thì bên nhận thế chấp có quyền hủy hợp đồng thế chấp tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản thế chấp.
8. Không được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 321 của Bộ luật này.
Điều 321. Quyền của bên thế chấp
1. Khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản thế chấp, trừ trường hợp hoa lợi, lợi tức cũng là tài sản thế chấp theo thỏa thuận.
2. Đầu tư để làm tăng giá trị của tài sản thế chấp.
3. Nhận lại tài sản thế chấp do người thứ ba giữ và giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp do bên nhận thế chấp giữ khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.
4. Được bán, thay thế, trao đổi tài sản thế chấp, nếu tài sản đó là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Trong trường hợp này, quyền yêu cầu bên mua thanh toán tiền, số tiền thu được, tài sản hình thành từ số tiền thu được, tài sản được thay thế hoặc được trao đổi trở thành tài sản thế chấp.
Trường hợp tài sản thế chấp là kho hàng thì bên thế chấp được quyền thay thế hàng hóa trong kho, nhưng phải bảo đảm giá trị của hàng hóa trong kho đúng như thỏa thuận.
5. Được bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp không phải là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh, nếu được bên nhận thế chấp đồng ý hoặc theo quy định của luật.
6. Được cho thuê, cho mượn tài sản thế chấp nhưng phải thông báo cho bên thuê, bên mượn biết về việc tài sản cho thuê, cho mượn đang được dùng để thế chấp và phải thông báo cho bên nhận thế chấp biết.
Điều 322. Nghĩa vụ của bên nhận thế chấp
1. Trả các giấy tờ cho bên thế chấp sau khi chấm dứt thế chấp đối với trường hợp các bên thỏa thuận bên nhận thế chấp giữ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp.
2. Thực hiện thủ tục xử lý tài sản thế chấp theo đúng quy định của pháp luật.
Điều 323. Quyền của bên nhận thế chấp
1. Xem xét, kiểm tra trực tiếp tài sản thế chấp, nhưng không được cản trở hoặc gây khó khăn cho việc hình thành, sử dụng, khai thác tài sản thế chấp.
2. Yêu cầu bên thế chấp phải cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp.
3. Yêu cầu bên thế chấp áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo toàn tài sản, giá trị tài sản trong trường hợp có nguy cơ làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của tài sản do việc khai thác, sử dụng.
4. Thực hiện việc đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật.
5. Yêu cầu bên thế chấp hoặc người thứ ba giữ tài sản thế chấp giao tài sản đó cho mình để xử lý khi bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
6. Giữ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp trong trường hợp các bên có thỏa thuận, trừ trường hợp luật có quy định khác.
7. Xử lý tài sản thế chấp khi thuộc trường hợp quy định tại Điều 299 của Bộ luật này.
Điều 324. Quyền và nghĩa vụ của người thứ ba giữ tài sản thế chấp
1. Người thứ ba giữ tài sản thế chấp có các quyền sau đây:
a) Được khai thác công dụng tài sản thế chấp, nếu có thỏa thuận;
b) Được trả thù lao và chi phí bảo quản, giữ gìn tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Người thứ ba giữ tài sản thế chấp có các nghĩa vụ sau đây:
a) Bảo quản, giữ gìn tài sản thế chấp; nếu làm mất tài sản thế chấp, làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của tài sản thế chấp thì phải bồi thường;
b) Không được tiếp tục khai thác công dụng tài sản thế chấp nếu việc tiếp tục khai thác có nguy cơ làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của tài sản thế chấp;
c) Giao lại tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp hoặc bên thế chấp theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
Điều 325. Thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất
1. Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì khi xử lý quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình; quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao cho người nhận chuyển quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 326. Thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất
1. Trường hợp chỉ thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đồng thời là người sử dụng đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp chỉ thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không đồng thời là người sử dụng đất thì khi xử lý tài sản gắn liền với đất, người nhận chuyển quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 327. Chấm dứt thế chấp tài sản
Thế chấp tài sản chấm dứt trong trường hợp sau đây:
1. Nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp chấm dứt.
2. Việc thế chấp tài sản được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.
3. Tài sản thế chấp đã được xử lý.
4. Theo thỏa thuận của các bên.
Tiểu mục 4. ĐẶT CỌC, KÝ CƯỢC, KÝ QUỸ
1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.
2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
1. Ký cược là việc bên thuê tài sản là động sản giao cho bên cho thuê một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản ký cược) trong một thời hạn để bảo đảm việc trả lại tài sản thuê.
2. Trường hợp tài sản thuê được trả lại thì bên thuê được nhận lại tài sản ký cược sau khi trả tiền thuê; nếu bên thuê không trả lại tài sản thuê thì bên cho thuê có quyền đòi lại tài sản thuê; nếu tài sản thuê không còn để trả lại thì tài sản ký cược thuộc về bên cho thuê.
1. Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá vào tài khoản phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ.
2. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên có quyền được tổ chức tín dụng nơi ký quỹ thanh toán, bồi thường thiệt hại do bên có nghĩa vụ gây ra, sau khi trừ chi phí dịch vụ.
3. Thủ tục gửi và thanh toán thực hiện theo quy định của pháp luật.
Tiểu mục 5. BẢO LƯU QUYỀN SỞ HỮU
Điều 331. Bảo lưu quyền sở hữu
1. Trong hợp đồng mua bán, quyền sở hữu tài sản có thể được bên bán bảo lưu cho đến khi nghĩa vụ thanh toán được thực hiện đầy đủ.
2. Bảo lưu quyền sở hữu phải được lập thành văn bản riêng hoặc được ghi trong hợp đồng mua bán.
3. Bảo lưu quyền sở hữu phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.
Điều 332. Quyền đòi lại tài sản
Trường hợp bên mua không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán cho bên bán theo thỏa thuận thì bên bán có quyền đòi lại tài sản. Bên bán hoàn trả cho bên mua số tiền bên mua đã thanh toán sau khi trừ giá trị hao mòn tài sản do sử dụng. Trường hợp bên mua làm mất, hư hỏng tài sản thì bên bán có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Điều 333. Quyền và nghĩa vụ của bên mua tài sản
1. Sử dụng tài sản và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản trong thời hạn bảo lưu quyền sở hữu có hiệu lực.
2. Chịu rủi ro về tài sản trong thời hạn bảo lưu quyền sở hữu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 334. Chấm dứt bảo lưu quyền sở hữu
Bảo lưu quyền sở hữu chấm dứt trong trường hợp sau đây:
1. Nghĩa vụ thanh toán cho bên bán được thực hiện xong.
2. Bên bán nhận lại tài sản bảo lưu quyền sở hữu.
3. Theo thỏa thuận của các bên.
1. Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
2. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
1. Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh.
2. Nghĩa vụ bảo lãnh bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại, lãi trên số tiền chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
3. Các bên có thể thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
4. Trường hợp nghĩa vụ được bảo lãnh là nghĩa vụ phát sinh trong tương lai thì phạm vi bảo lãnh không bao gồm nghĩa vụ phát sinh sau khi người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân bảo lãnh chấm dứt tồn tại.
Bên bảo lãnh được hưởng thù lao nếu bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh có thỏa thuận.
Điều 338. Nhiều người cùng bảo lãnh
Khi nhiều người cùng bảo lãnh một nghĩa vụ thì phải liên đới thực hiện việc bảo lãnh, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định bảo lãnh theo các phần độc lập; bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người bảo lãnh liên đới phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.
Khi một người trong số những người bảo lãnh liên đới đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh thì có quyền yêu cầu những người bảo lãnh còn lại phải thực hiện phần nghĩa vụ của họ đối với mình.
Điều 339. Quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh
1. Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ.
2. Bên nhận bảo lãnh không được yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh khi nghĩa vụ chưa đến hạn.
3. Bên bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong trường hợp bên nhận bảo lãnh có thể bù trừ nghĩa vụ với bên được bảo lãnh.
Điều 340. Quyền yêu cầu của bên bảo lãnh
Bên bảo lãnh có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với mình trong phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh đã thực hiện, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 341. Miễn việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
1. Trường hợp bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh mà bên nhận bảo lãnh miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho bên bảo lãnh thì bên được bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.
2. Trường hợp chỉ một trong số nhiều người cùng bảo lãnh liên đới được miễn việc thực hiện phần nghĩa vụ bảo lãnh của mình thì những người khác vẫn phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của họ.
3. Trường hợp một trong số những người nhận bảo lãnh liên đới miễn cho bên bảo lãnh không phải thực hiện phần nghĩa vụ đối với mình thì bên bảo lãnh vẫn phải thực hiện phần nghĩa vụ còn lại đối với những người nhận bảo lãnh liên đới còn lại.
Điều 342. Trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh
1. Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đó.
2. Trường hợp bên bảo lãnh không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo lãnh thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thanh toán giá trị nghĩa vụ vi phạm và bồi thường thiệt hại.
Bảo lãnh chấm dứt trong trường hợp sau đây:
1. Nghĩa vụ được bảo lãnh chấm dứt.
2. Việc bảo lãnh được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.
3. Bên bảo lãnh đã thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
4. Theo thỏa thuận của các bên.
Điều 344. Bảo đảm bằng tín chấp của tổ chức chính trị - xã hội
Tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở có thể bảo đảm bằng tín chấp cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại tổ chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng theo quy định của pháp luật.
Điều 345. Hình thức, nội dung tín chấp
Việc cho vay có bảo đảm bằng tín chấp phải được lập thành văn bản có xác nhận của tổ chức chính trị - xã hội bảo đảm bằng tín chấp về điều kiện, hoàn cảnh của bên vay vốn.
Thỏa thuận bảo đảm bằng tín chấp phải cụ thể về số tiền, mục đích, thời hạn vay, lãi suất, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người vay, tổ chức tín dụng cho vay và tổ chức chính trị - xã hội bảo đảm bằng tín chấp.
Cầm giữ tài sản là việc bên có quyền (sau đây gọi là bên cầm giữ) đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Điều 347. Xác lập cầm giữ tài sản
1. Cầm giữ tài sản phát sinh từ thời điểm đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
2. Cầm giữ tài sản phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm bên cầm giữ chiếm giữ tài sản.
Điều 348. Quyền của bên cầm giữ
1. Yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng song vụ.
2. Yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thanh toán chi phí cần thiết cho việc bảo quản, giữ gìn tài sản cầm giữ.
3. Được khai thác tài sản cầm giữ để thu hoa lợi, lợi tức nếu được bên có nghĩa vụ đồng ý.
Giá trị của việc khai thác tài sản cầm giữ được bù trừ vào giá trị nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ.
Điều 349. Nghĩa vụ của bên cầm giữ
1. Giữ gìn, bảo quản tài sản cầm giữ.
2. Không được thay đổi tình trạng của tài sản cầm giữ.
3. Không được chuyển giao, sử dụng tài sản cầm giữ nếu không có sự đồng ý của bên có nghĩa vụ.
4. Giao lại tài sản cầm giữ khi nghĩa vụ đã được thực hiện.
5. Bồi thường thiệt hại nếu làm mất hoặc hư hỏng tài sản cầm giữ.
Cầm giữ tài sản chấm dứt trong trường hợp sau đây:
1. Bên cầm giữ không còn chiếm giữ tài sản trên thực tế.
2. Các bên thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm khác để thay thế cho cầm giữ.
3. Nghĩa vụ đã được thực hiện xong.
4. Tài sản cầm giữ không còn.
5. Theo thỏa thuận của các bên.
Điều 351. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ
1. Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.
Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.
2. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
3. Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền.
Điều 352. Trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ
Khi bên có nghĩa vụ thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thì bên có quyền được yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ.
Điều 353. Chậm thực hiện nghĩa vụ
1. Chậm thực hiện nghĩa vụ là nghĩa vụ vẫn chưa được thực hiện hoặc chỉ được thực hiện một phần khi thời hạn thực hiện nghĩa vụ đã hết.
2. Bên chậm thực hiện nghĩa vụ phải thông báo ngay cho bên có quyền về việc không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn.
Điều 354. Hoãn thực hiện nghĩa vụ
1. Khi không thể thực hiện được nghĩa vụ đúng thời hạn thì bên có nghĩa vụ phải thông báo ngay cho bên có quyền biết và đề nghị được hoãn việc thực hiện nghĩa vụ.
Trường hợp không thông báo cho bên có quyền thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại phát sinh, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc do nguyên nhân khách quan không thể thông báo.
2. Bên có nghĩa vụ được hoãn việc thực hiện nghĩa vụ, nếu được bên có quyền đồng ý. Việc thực hiện nghĩa vụ khi được hoãn vẫn được coi là thực hiện đúng thời hạn.
Điều 355. Chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ
1. Chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ là khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ đã thực hiện nhưng bên có quyền không tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ đó.
2. Trường hợp chậm tiếp nhận đối tượng của nghĩa vụ là tài sản thì bên có nghĩa vụ có thể gửi tài sản tại nơi nhận gửi giữ tài sản hoặc áp dụng biện pháp cần thiết khác để bảo quản tài sản và có quyền yêu cầu thanh toán chi phí hợp lý. Trường hợp tài sản được gửi giữ thì bên có nghĩa vụ phải thông báo ngay cho bên có quyền.
3. Đối với tài sản có nguy cơ bị hư hỏng thì bên có nghĩa vụ có quyền bán tài sản đó và phải thông báo ngay cho bên có quyền, trả cho bên có quyền khoản tiền thu được từ việc bán tài sản sau khi trừ chi phí hợp lý để bảo quản và bán tài sản đó.
Điều 356. Trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ giao vật
1. Trường hợp nghĩa vụ giao vật đặc định không được thực hiện thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm phải giao đúng vật đó; nếu vật không còn hoặc bị hư hỏng thì phải thanh toán giá trị của vật.
2. Trường hợp nghĩa vụ giao vật cùng loại không được thực hiện thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm phải giao vật cùng loại khác; nếu không có vật cùng loại khác thay thế thì phải thanh toán giá trị của vật.
3. Trường hợp việc vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà gây thiệt hại cho bên bị vi phạm thì bên vi phạm phải bồi thường thiệt hại.
Điều 357. Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền
1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.
Điều 358. Trách nhiệm do không thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc
1. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện một công việc mà mình phải thực hiện thì bên có quyền có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hoặc tự mình thực hiện hoặc giao người khác thực hiện công việc đó và yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán chi phí hợp lý, bồi thường thiệt hại.
2. Khi bên có nghĩa vụ không được thực hiện một công việc mà lại thực hiện công việc đó thì bên có quyền được quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải chấm dứt việc thực hiện, khôi phục tình trạng ban đầu và bồi thường thiệt hại.
Điều 359. Trách nhiệm do chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ
Bên có quyền chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ làm phát sinh thiệt hại cho bên có nghĩa vụ thì phải bồi thường thiệt hại cho bên đó và phải chịu mọi rủi ro, chi phí phát sinh kể từ thời điểm chậm tiếp nhận, trừ trường hợp luật có quy định khác.
Điều 360. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ
Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
Điều 361. Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ
1. Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.
2. Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.
3. Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể.
Điều 362. Nghĩa vụ ngăn chặn, hạn chế thiệt hại
Bên có quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để thiệt hại không xảy ra hoặc hạn chế thiệt hại cho mình.
Điều 363. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị vi phạm có lỗi
Trường hợp vi phạm nghĩa vụ và có thiệt hại là do một phần lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình.
Điều 364. Lỗi trong trách nhiệm dân sự
Lỗi trong trách nhiệm dân sự bao gồm lỗi cố ý, lỗi vô ý.
Lỗi cố ý là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.
Lỗi vô ý là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.
Mục 5. CHUYỂN GIAO QUYỀN YÊU CẦU VÀ CHUYỂN GIAO NGHĨA VỤ
Điều 365. Chuyển giao quyền yêu cầu
1. Bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ có thể chuyển giao quyền yêu cầu đó cho người thế quyền theo thỏa thuận, trừ trường hợp sau đây:
a) Quyền yêu cầu cấp dưỡng, yêu cầu bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín;
b) Bên có quyền và bên có nghĩa vụ có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định về việc không được chuyển giao quyền yêu cầu.
2. Khi bên có quyền yêu cầu chuyển giao quyền yêu cầu cho người thế quyền thì người thế quyền trở thành bên có quyền yêu cầu. Việc chuyển giao quyền yêu cầu không cần có sự đồng ý của bên có nghĩa vụ.
Người chuyển giao quyền yêu cầu phải thông báo bằng văn bản cho bên có nghĩa vụ biết về việc chuyển giao quyền yêu cầu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp bên chuyển giao quyền yêu cầu không thông báo về việc chuyển giao quyền mà phát sinh chi phí cho bên có nghĩa vụ thì bên chuyển giao quyền yêu cầu phải thanh toán chi phí này.
Điều 366. Nghĩa vụ cung cấp thông tin và chuyển giao giấy tờ
1. Người chuyển giao quyền yêu cầu phải cung cấp thông tin cần thiết, chuyển giao giấy tờ có liên quan cho người thế quyền.
2. Người chuyển giao quyền yêu cầu vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại.
Điều 367. Không chịu trách nhiệm sau khi chuyển giao quyền yêu cầu
Người chuyển giao quyền yêu cầu không phải chịu trách nhiệm về khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ sau khi chuyển giao quyền yêu cầu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 368. Chuyển giao quyền yêu cầu có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
Trường hợp quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm thì việc chuyển giao quyền yêu cầu bao gồm cả biện pháp bảo đảm đó.
Điều 369. Quyền từ chối của bên có nghĩa vụ
1. Trường hợp bên có nghĩa vụ không được thông báo về việc chuyển giao quyền yêu cầu và người thế quyền không chứng minh về tính xác thực của việc chuyển giao quyền yêu cầu thì bên có nghĩa vụ có quyền từ chối việc thực hiện nghĩa vụ đối với người thế quyền.
2. Trường hợp bên có nghĩa vụ do không được thông báo về việc chuyển giao quyền yêu cầu mà đã thực hiện nghĩa vụ đối với người chuyển giao quyền yêu cầu thì người thế quyền không được yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình.
Điều 370. Chuyển giao nghĩa vụ
1. Bên có nghĩa vụ có thể chuyển giao nghĩa vụ cho người thế nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý, trừ trường hợp nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của bên có nghĩa vụ hoặc pháp luật có quy định không được chuyển giao nghĩa vụ.
2. Khi được chuyển giao nghĩa vụ thì người thế nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa vụ.
Điều 371. Chuyển giao nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm
Trường hợp nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm được chuyển giao thì biện pháp bảo đảm đó chấm dứt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 372. Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ
Nghĩa vụ chấm dứt trong trường hợp sau đây:
1. Nghĩa vụ được hoàn thành;
2. Theo thỏa thuận của các bên;
3. Bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ;
4. Nghĩa vụ được thay thế bằng nghĩa vụ khác;
5. Nghĩa vụ được bù trừ;
6. Bên có quyền và bên có nghĩa vụ hòa nhập làm một;
7. Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ đã hết;
8. Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện;
9. Bên có quyền là cá nhân chết mà quyền yêu cầu không thuộc di sản thừa kế hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà quyền yêu cầu không được chuyển giao cho pháp nhân khác;
10. Vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ không còn và được thay thế bằng nghĩa vụ khác;
11. Trường hợp khác do luật quy định.
Nghĩa vụ được hoàn thành khi bên có nghĩa vụ đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hoặc thực hiện một phần nghĩa vụ nhưng phần còn lại được bên có quyền cho miễn thực hiện.
Điều 374. Hoàn thành nghĩa vụ trong trường hợp bên có quyền chậm tiếp nhận đối tượng của nghĩa vụ
Khi bên có quyền chậm tiếp nhận đối tượng của nghĩa vụ là tài sản thì nghĩa vụ hoàn thành tại thời điểm tài sản đã được gửi giữ tại nơi nhận gửi giữ theo quy định tại khoản 2 Điều 355 của Bộ luật này.
Điều 375. Chấm dứt nghĩa vụ theo thỏa thuận
Các bên có thể thỏa thuận chấm dứt nghĩa vụ bất cứ lúc nào, nhưng không được gây thiệt hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Điều 376. Chấm dứt nghĩa vụ do được miễn thực hiện nghĩa vụ
1. Nghĩa vụ chấm dứt khi bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Khi nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm được miễn thì biện pháp bảo đảm cũng chấm dứt.
Điều 377. Chấm dứt nghĩa vụ do được thay thế bằng nghĩa vụ khác
1. Trường hợp các bên thỏa thuận thay thế nghĩa vụ ban đầu bằng nghĩa vụ khác thì nghĩa vụ ban đầu chấm dứt.
2. Nghĩa vụ cũng chấm dứt, nếu bên có quyền đã tiếp nhận tài sản hoặc công việc khác thay thế cho tài sản hoặc công việc đã thỏa thuận trước.
3. Trường hợp nghĩa vụ là nghĩa vụ cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các nghĩa vụ khác gắn liền với nhân thân không thể chuyển cho người khác được thì không được thay thế bằng nghĩa vụ khác.
Điều 378. Chấm dứt nghĩa vụ do bù trừ nghĩa vụ
1. Trường hợp các bên cùng có nghĩa vụ về tài sản cùng loại đối với nhau thì khi cùng đến hạn họ không phải thực hiện nghĩa vụ đối với nhau và nghĩa vụ được xem là chấm dứt, trừ trường hợp luật có quy định khác.
2. Trường hợp giá trị của tài sản hoặc công việc không tương đương với nhau thì các bên thanh toán cho nhau phần giá trị chênh lệch.
3. Những vật được định giá thành tiền cũng có thể bù trừ với nghĩa vụ trả tiền.
Điều 379. Những trường hợp không được bù trừ nghĩa vụ
Nghĩa vụ không được bù trừ trong trường hợp sau đây:
1. Nghĩa vụ đang có tranh chấp;
2. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín;
3. Nghĩa vụ cấp dưỡng;
4. Nghĩa vụ khác do luật quy định.
Điều 380. Chấm dứt nghĩa vụ do hòa nhập bên có nghĩa vụ và bên có quyền
Khi bên có nghĩa vụ trở thành bên có quyền đối với chính nghĩa vụ đó thì nghĩa vụ chấm dứt.
Điều 381. Chấm dứt nghĩa vụ do hết thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ
Khi thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ đã hết thì nghĩa vụ chấm dứt.
Điều 382. Chấm dứt nghĩa vụ khi bên có quyền là cá nhân chết hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại
Khi các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định về việc nghĩa vụ được thực hiện chỉ dành cho cá nhân hoặc pháp nhân là bên có quyền mà cá nhân chết hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại thì nghĩa vụ cũng chấm dứt.
Điều 383. Chấm dứt nghĩa vụ khi vật đặc định không còn
Nghĩa vụ giao vật chấm dứt trong trường hợp vật phải giao là vật đặc định không còn.
Các bên có thể thỏa thuận thay thế vật khác hoặc bồi thường thiệt hại.
Điều 384. Chấm dứt nghĩa vụ trong trường hợp phá sản
Trường hợp phá sản thì nghĩa vụ chấm dứt theo quy định của Luật phá sản.
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Điều 386. Đề nghị giao kết hợp đồng
1. Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng (sau đây gọi chung là bên được đề nghị).
2. Trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh.
Điều 387. Thông tin trong giao kết hợp đồng
1. Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết.
2. Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác.
3. Bên vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Điều 388. Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực
1. Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực được xác định như sau:
a) Do bên đề nghị ấn định;
b) Nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
2. Các trường hợp sau đây được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng:
a) Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá nhân; được chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân;
b) Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị;
c) Khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các phương thức khác.
Điều 389. Thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng
1. Bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trong trường hợp sau đây:
a) Bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị;
b) Điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợp bên đề nghị có nêu rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh.
2. Khi bên đề nghị thay đổi nội dung của đề nghị thì đó là đề nghị mới.
Điều 390. Hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng
Bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể hủy bỏ đề nghị nếu đã nêu rõ quyền này trong đề nghị và bên được đề nghị nhận được thông báo về việc hủy bỏ đề nghị trước khi người này gửi thông báo chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Điều 391. Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng
Đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt trong trường hợp sau đây:
1. Bên được đề nghị chấp nhận giao kết hợp đồng;
2. Bên được đề nghị trả lời không chấp nhận;
3. Hết thời hạn trả lời chấp nhận;
4. Khi thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực;
5. Khi thông báo về việc hủy bỏ đề nghị có hiệu lực;
6. Theo thỏa thuận của bên đề nghị và bên được đề nghị trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời.
Điều 392. Sửa đổi đề nghị do bên được đề nghị đề xuất
Khi bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới.
Điều 393. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
1. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị.
2. Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên.
Điều 394. Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng
1. Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời.
Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý.
2. Trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị.
3. Khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoại hoặc qua phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặc không chấp nhận, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận về thời hạn trả lời.
Trường hợp bên đề nghị chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi sau khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng thì đề nghị giao kết hợp đồng vẫn có giá trị, trừ trường hợp nội dung giao kết gắn liền với nhân thân bên đề nghị.
Trường hợp bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng sau đó chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì việc trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có giá trị, trừ trường hợp nội dung giao kết gắn liền với nhân thân bên được đề nghị.
Điều 397. Rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng
Bên được đề nghị giao kết hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng, nếu thông báo về việc rút lại này đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng.
Điều 398. Nội dung của hợp đồng
1. Các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng.
2. Hợp đồng có thể có các nội dung sau đây:
a) Đối tượng của hợp đồng;
b) Số lượng, chất lượng;
c) Giá, phương thức thanh toán;
d) Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;
đ) Quyền, nghĩa vụ của các bên;
e) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;
g) Phương thức giải quyết tranh chấp.
Điều 399. Địa điểm giao kết hợp đồng
Địa điểm giao kết hợp đồng do các bên thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận thì địa điểm giao kết hợp đồng là nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân đã đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng.
Điều 400. Thời điểm giao kết hợp đồng
1. Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết.
2. Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó.
3. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng.
4. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản.
Trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lập bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định theo khoản 3 Điều này.
Điều 401. Hiệu lực của hợp đồng
1. Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác.
2. Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết. Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật.
Điều 402. Các loại hợp đồng chủ yếu
Hợp đồng gồm các loại chủ yếu sau đây:
1. Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau.
2. Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ.
3. Hợp đồng chính là hợp đồng mà hiệu lực không phụ thuộc vào hợp đồng phụ.
4. Hợp đồng phụ là hợp đồng mà hiệu lực phụ thuộc vào hợp đồng chính.
5. Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà các bên giao kết hợp đồng đều phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghĩa vụ đó.
6. Hợp đồng có điều kiện là hợp đồng mà việc thực hiện phụ thuộc vào việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một sự kiện nhất định.
1. Hợp đồng có thể có phụ lục kèm theo để quy định chi tiết một số điều khoản của hợp đồng. Phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng. Nội dung của phụ lục hợp đồng không được trái với nội dung của hợp đồng.
2. Trường hợp phụ lục hợp đồng có điều khoản trái với nội dung của điều khoản trong hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp các bên chấp nhận phụ lục hợp đồng có điều khoản trái với điều khoản trong hợp đồng thì coi như điều khoản đó trong hợp đồng đã được sửa đổi.
1. Khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì việc giải thích điều khoản đó không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí của các bên được thể hiện trong toàn bộ quá trình trước, tại thời điểm xác lập, thực hiện hợp đồng.
2. Khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau thì phải giải thích theo nghĩa phù hợp nhất với mục đích, tính chất của hợp đồng.
3. Khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ khó hiểu thì phải được giải thích theo tập quán tại địa điểm giao kết hợp đồng.
4. Các điều khoản trong hợp đồng phải được giải thích trong mối liên hệ với nhau, sao cho ý nghĩa của các điều khoản đó phù hợp với toàn bộ nội dung hợp đồng.
5. Trường hợp có sự mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên với ngôn từ sử dụng trong hợp đồng thì ý chí chung của các bên được dùng để giải thích hợp đồng.
6. Trường hợp bên soạn thảo đưa vào hợp đồng nội dung bất lợi cho bên kia thì khi giải thích hợp đồng phải theo hướng có lợi cho bên kia.
1. Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa ra.
Hợp đồng theo mẫu phải được công khai để bên được đề nghị biết hoặc phải biết về những nội dung của hợp đồng.
Trình tự, thể thức công khai hợp đồng theo mẫu thực hiện theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó.
3. Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 406. Điều kiện giao dịch chung trong giao kết hợp đồng
1. Điều kiện giao dịch chung là những điều khoản ổn định do một bên công bố để áp dụng chung cho bên được đề nghị giao kết hợp đồng; nếu bên được đề nghị chấp nhận giao kết hợp đồng thì coi như chấp nhận các điều khoản này.
2. Điều kiện giao dịch chung chỉ có hiệu lực với bên xác lập giao dịch trong trường hợp điều kiện giao dịch này đã được công khai để bên xác lập giao dịch biết hoặc phải biết về điều kiện đó.
Trình tự, thể thức công khai điều kiện giao dịch chung thực hiện theo quy định của pháp luật.
3. Điều kiện giao dịch chung phải bảo đảm sự bình đẳng giữa các bên. Trường hợp điều kiện giao dịch chung có quy định về miễn trách nhiệm của bên đưa ra điều kiện giao dịch chung, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì quy định này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
1. Quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 123 đến Điều 133 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu.
2. Sự vô hiệu của hợp đồng chính làm chấm dứt hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hợp đồng phụ được thay thế hợp đồng chính. Quy định này không áp dụng đối với biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
3. Sự vô hiệu của hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính, trừ trường hợp các bên thỏa thuận hợp đồng phụ là một phần không thể tách rời của hợp đồng chính.
Điều 408. Hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được
1. Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu.
2. Trường hợp khi giao kết hợp đồng mà một bên biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được nhưng không thông báo cho bên kia biết nên bên kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường hợp bên kia biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được.
3. Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn có hiệu lực.
Tiểu mục 2. THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG
Điều 409. Thực hiện hợp đồng đơn vụ
Đối với hợp đồng đơn vụ, bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng như đã thỏa thuận, chỉ được thực hiện trước hoặc sau thời hạn nếu được bên có quyền đồng ý.
Điều 410. Thực hiện hợp đồng song vụ
1. Trong hợp đồng song vụ, khi các bên đã thỏa thuận thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì mỗi bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn; không được hoãn thực hiện với lý do bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đối với mình, trừ trường hợp quy định tại Điều 411 và Điều 413 của Bộ luật này.
2. Trường hợp các bên không thỏa thuận bên nào thực hiện nghĩa vụ trước thì các bên phải đồng thời thực hiện nghĩa vụ đối với nhau; nếu nghĩa vụ không thể thực hiện đồng thời thì nghĩa vụ nào khi thực hiện mất nhiều thời gian hơn thì nghĩa vụ đó phải được thực hiện trước.
Điều 411. Quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ
1. Bên phải thực hiện nghĩa vụ trước có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ, nếu khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên kia đã bị giảm sút nghiêm trọng đến mức không thể thực hiện được nghĩa vụ như đã cam kết cho đến khi bên kia có khả năng thực hiện được nghĩa vụ hoặc có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
2. Bên phải thực hiện nghĩa vụ sau có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ đến hạn nếu bên thực hiện nghĩa vụ trước chưa thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn.
Điều 412. Cầm giữ tài sản trong hợp đồng song vụ
Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình thì bên có quyền xác lập quyền cầm giữ tài sản đối với tài sản của bên có nghĩa vụ theo quy định từ Điều 346 đến Điều 350 của Bộ luật này.
Điều 413. Nghĩa vụ không thực hiện được do lỗi của một bên
Trong hợp đồng song vụ, khi một bên không thực hiện được nghĩa vụ của mình do lỗi của bên kia thì có quyền yêu cầu bên kia vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình hoặc hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Điều 414. Không thực hiện được nghĩa vụ nhưng không do lỗi của các bên
Trong hợp đồng song vụ, nếu một bên không thực hiện được nghĩa vụ mà các bên đều không có lỗi thì bên không thực hiện được nghĩa vụ không có quyền yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình. Trường hợp một bên đã thực hiện được một phần nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu bên kia thực hiện phần nghĩa vụ tương ứng đối với mình.
Điều 415. Thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba
Khi thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba thì người thứ ba có quyền trực tiếp yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình; nếu các bên trong hợp đồng có tranh chấp về việc thực hiện hợp đồng thì người thứ ba không có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cho đến khi tranh chấp được giải quyết.
Bên có quyền cũng có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba.
Điều 416. Quyền từ chối của người thứ ba
1. Trường hợp người thứ ba từ chối lợi ích của mình trước khi bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ thì bên có nghĩa vụ không phải thực hiện nghĩa vụ, nhưng phải thông báo cho bên có quyền và hợp đồng được coi là bị hủy bỏ, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
2. Trường hợp người thứ ba từ chối lợi ích của mình sau khi bên có nghĩa vụ đã thực hiện nghĩa vụ thì nghĩa vụ được xem là đã hoàn thành và bên có quyền vẫn phải thực hiện cam kết đối với bên có nghĩa vụ. Trong trường hợp này, lợi ích phát sinh từ hợp đồng thuộc về bên mà nếu hợp đồng không vì lợi ích của người thứ ba thì họ là người thụ hưởng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 417. Không được sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba
Khi người thứ ba đã đồng ý hưởng lợi ích thì dù hợp đồng chưa được thực hiện, các bên giao kết hợp đồng cũng không được sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng, trừ trường hợp được người thứ ba đồng ý.
Điều 418. Thỏa thuận phạt vi phạm
1. Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.
2. Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
3. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.
Điều 419. Thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng
1. Thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều này, Điều 13 và Điều 360 của Bộ luật này.
2. Người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại. Người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại.
3. Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền. Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc.
Điều 420. Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản
1. Hoàn cảnh thay đổi cơ bản khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng;
b) Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh;
c) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác;
d) Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên;
đ) Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích.
2. Trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý.
3. Trường hợp các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án:
a) Chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định;
b) Sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Tòa án chỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi.
4. Trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Tiểu mục 3. SỬA ĐỔI, CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG
1. Các bên có thể thỏa thuận sửa đổi hợp đồng.
2. Hợp đồng có thể được sửa đổi theo quy định tại Điều 420 của Bộ luật này.
3. Hợp đồng sửa đổi phải tuân theo hình thức của hợp đồng ban đầu.
Hợp đồng chấm dứt trong trường hợp sau đây:
1. Hợp đồng đã được hoàn thành;
2. Theo thỏa thuận của các bên;
3. Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân giao kết hợp đồng chấm dứt tồn tại mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện;
4. Hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện;
5. Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn;
6. Hợp đồng chấm dứt theo quy định tại Điều 420 của Bộ luật này;
7. Trường hợp khác do luật quy định.
1. Một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại trong trường hợp sau đây:
a) Bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận;
b) Bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng;
c) Trường hợp khác do luật quy định.
2. Vi phạm nghiêm trọng là việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của một bên đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng.
3. Bên hủy bỏ hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc hủy bỏ, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Điều 424. Hủy bỏ hợp đồng do chậm thực hiện nghĩa vụ
1. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ mà bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trong một thời hạn hợp lý nhưng bên có nghĩa vụ không thực hiện thì bên có quyền có thể hủy bỏ hợp đồng.
2. Trường hợp do tính chất của hợp đồng hoặc do ý chí của các bên, hợp đồng sẽ không đạt được mục đích nếu không được thực hiện trong thời hạn nhất định mà hết thời hạn đó bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp đồng mà không phải tuân theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 425. Hủy bỏ hợp đồng do không có khả năng thực hiện
Trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình làm cho mục đích của bên có quyền không thể đạt được thì bên có quyền có thể hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Điều 426. Hủy bỏ hợp đồng trong trường hợp tài sản bị mất, bị hư hỏng
Trường hợp một bên làm mất, làm hư hỏng tài sản là đối tượng của hợp đồng mà không thể hoàn trả, đền bù bằng tài sản khác hoặc không thể sửa chữa, thay thế bằng tài sản cùng loại thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp đồng.
Bên vi phạm phải bồi thường bằng tiền ngang với giá trị của tài sản bị mất, bị hư hỏng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 351 và Điều 363 của Bộ luật này.
Điều 427. Hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng
1. Khi hợp đồng bị hủy bỏ thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp.
2. Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận sau khi trừ chi phí hợp lý trong thực hiện hợp đồng và chi phí bảo quản, phát triển tài sản.
Việc hoàn trả được thực hiện bằng hiện vật. Trường hợp không hoàn trả được bằng hiện vật thì được trị giá thành tiền để hoàn trả.
Trường hợp các bên cùng có nghĩa vụ hoàn trả thì việc hoàn trả phải được thực hiện cùng một thời điểm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
3. Bên bị thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên kia được bồi thường.
4. Việc giải quyết hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này và luật khác có liên quan quy định.
5. Trường hợp việc hủy bỏ hợp đồng không có căn cứ quy định tại các điều 423, 424, 425 và 426 của Bộ luật này thì bên hủy bỏ hợp đồng được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ và phải thực hiện trách nhiệm dân sự do không thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan.
Điều 428. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng
1. Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
2. Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
3. Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện.
4. Bên bị thiệt hại do hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng của bên kia được bồi thường.
5. Trường hợp việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng không có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này thì bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ và phải thực hiện trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan do không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng.
Điều 429. Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng
Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Mục 1. HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN
Điều 430. Hợp đồng mua bán tài sản
Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.
Hợp đồng mua bán nhà ở, mua bán nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật nhà ở và luật khác có liên quan.
Điều 431. Đối tượng của hợp đồng mua bán
1. Tài sản được quy định tại Bộ luật này đều có thể là đối tượng của hợp đồng mua bán. Trường hợp theo quy định của luật, tài sản bị cấm hoặc bị hạn chế chuyển nhượng thì tài sản là đối tượng của hợp đồng mua bán phải phù hợp với các quy định đó.
2. Tài sản bán thuộc sở hữu của người bán hoặc người bán có quyền bán.
Điều 432. Chất lượng của tài sản mua bán
1. Chất lượng của tài sản mua bán do các bên thỏa thuận.
2. Trường hợp tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định thì thỏa thuận của các bên về chất lượng của tài sản không được thấp hơn chất lượng của tài sản được xác định theo tiêu chuẩn đã công bố hoặc theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
3. Khi các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng về chất lượng tài sản mua bán thì chất lượng của tài sản mua bán được xác định theo tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố, quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo tiêu chuẩn ngành nghề.
Trường hợp không có tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố, quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tiêu chuẩn ngành nghề thì chất lượng của tài sản mua bán được xác định theo tiêu chuẩn thông thường hoặc theo tiêu chuẩn riêng phù hợp với mục đích giao kết hợp đồng và theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Điều 433. Giá và phương thức thanh toán
1. Giá, phương thức thanh toán do các bên thỏa thuận hoặc do người thứ ba xác định theo yêu cầu của các bên. Trường hợp pháp luật quy định giá, phương thức thanh toán phải theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì thỏa thuận của các bên phải phù hợp với quy định đó.
2. Trường hợp không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng về giá, phương thức thanh toán thì giá được xác định theo giá thị trường, phương thức thanh toán được xác định theo tập quán tại địa điểm và thời điểm giao kết hợp đồng.
Điều 434. Thời hạn thực hiện hợp đồng mua bán
1. Thời hạn thực hiện hợp đồng mua bán do các bên thỏa thuận. Bên bán phải giao tài sản cho bên mua đúng thời hạn đã thỏa thuận; bên bán chỉ được giao tài sản trước hoặc sau thời hạn nếu được bên mua đồng ý.
2. Khi các bên không thỏa thuận thời hạn giao tài sản thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán giao tài sản và bên bán cũng có quyền yêu cầu bên mua nhận tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho nhau một thời gian hợp lý.
3. Bên mua thanh toán tiền mua theo thời gian thỏa thuận. Nếu không xác định hoặc xác định không rõ ràng thời gian thanh toán thì bên mua phải thanh toán ngay tại thời điểm nhận tài sản mua hoặc nhận giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản.
Điều 435. Địa điểm giao tài sản
Địa điểm giao tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận thì áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 277 của Bộ luật này.
Điều 436. Phương thức giao tài sản
1. Tài sản được giao theo phương thức do các bên thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận thì tài sản do bên bán giao một lần và trực tiếp cho bên mua.
2. Trường hợp theo thỏa thuận, bên bán giao tài sản cho bên mua thành nhiều lần mà bên bán thực hiện không đúng nghĩa vụ ở một lần nhất định thì bên mua có thể hủy bỏ phần hợp đồng liên quan đến lần vi phạm đó và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Điều 437. Trách nhiệm do giao tài sản không đúng số lượng
1. Trường hợp bên bán giao tài sản với số lượng nhiều hơn số lượng đã thỏa thuận thì bên mua có quyền nhận hoặc không nhận phần dôi ra; nếu nhận thì phải thanh toán đối với phần dôi ra theo giá được thỏa thuận trong hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp bên bán giao ít hơn số lượng đã thỏa thuận thì bên mua có một trong các quyền sau đây:
a) Nhận phần đã giao và định thời hạn để bên bán giao tiếp phần còn thiếu;
b) Nhận phần đã giao và yêu cầu bồi thường thiệt hại;
c) Hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu việc vi phạm làm cho bên mua không đạt được mục đích giao kết hợp đồng.
Điều 438. Trách nhiệm do giao vật không đồng bộ
1. Trường hợp vật được giao không đồng bộ làm cho mục đích sử dụng của vật không đạt được thì bên mua có một trong các quyền sau đây:
a) Nhận và yêu cầu bên bán giao tiếp phần hoặc bộ phận còn thiếu, yêu cầu bồi thường thiệt hại và hoãn thanh toán phần hoặc bộ phận đã nhận cho đến khi vật được giao đồng bộ;
b) Hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
2. Trường hợp bên mua đã trả tiền nhưng chưa nhận vật do giao không đồng bộ thì được trả lãi đối với số tiền đã trả theo lãi suất thỏa thuận giữa các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này và yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại do giao vật không đồng bộ, kể từ thời điểm phải thực hiện hợp đồng cho đến khi vật được giao đồng bộ.
Điều 439. Trách nhiệm giao tài sản không đúng chủng loại
Trường hợp tài sản được giao không đúng chủng loại thì bên mua có một trong các quyền sau đây:
1. Nhận và thanh toán theo giá do các bên thỏa thuận.
2. Yêu cầu giao tài sản đúng chủng loại và bồi thường thiệt hại.
3. Hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu việc giao không đúng chủng loại làm cho bên mua không đạt được mục đích giao kết hợp đồng.
Trường hợp tài sản gồm nhiều chủng loại mà bên bán không giao đúng với thỏa thuận đối với một hoặc một số loại thì bên mua có thể hủy bỏ phần hợp đồng liên quan đến loại tài sản đó và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
1. Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền theo thời hạn, địa điểm và mức tiền được quy định trong hợp đồng.
2. Trường hợp các bên chỉ có thỏa thuận về thời hạn giao tài sản thì thời hạn thanh toán tiền cũng được xác định tương ứng với thời hạn giao tài sản. Nếu các bên không có thỏa thuận về thời hạn giao tài sản và thời hạn thanh toán tiền thì bên mua phải thanh toán tiền tại thời điểm nhận tài sản.
3. Trường hợp bên mua không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật này.
Điều 441. Thời điểm chịu rủi ro
1. Bên bán chịu rủi ro đối với tài sản trước khi tài sản được giao cho bên mua, bên mua chịu rủi ro đối với tài sản kể từ thời điểm nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
2. Đối với hợp đồng mua bán tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải đăng ký quyền sở hữu thì bên bán chịu rủi ro cho đến khi hoàn thành thủ tục đăng ký, bên mua chịu rủi ro kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 442. Chi phí vận chuyển và chi phí liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu
1. Chi phí vận chuyển và chi phí liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Trường hợp các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì chi phí vận chuyển và chi phí liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu được xác định theo chi phí đã được công bố, quy định của cơ quan có thẩm quyền hoặc theo tiêu chuẩn ngành nghề.
3. Trường hợp không có căn cứ xác định theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì chi phí vận chuyển và chi phí liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu được xác định theo tiêu chuẩn thông thường hoặc theo tiêu chuẩn riêng phù hợp với mục đích giao kết hợp đồng.
4. Trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định về chi phí vận chuyển và chi phí liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu thì bên bán phải chịu chi phí vận chuyển đến địa điểm giao tài sản và chi phí liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu.
Điều 443. Nghĩa vụ cung cấp thông tin và hướng dẫn cách sử dụng
Bên bán có nghĩa vụ cung cấp cho bên mua thông tin cần thiết về tài sản mua bán và hướng dẫn cách sử dụng tài sản đó; nếu bên bán không thực hiện nghĩa vụ này thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán phải thực hiện trong một thời hạn hợp lý; nếu bên bán vẫn không thực hiện làm cho bên mua không đạt được mục đích giao kết hợp đồng thì bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Điều 444. Bảo đảm quyền sở hữu của bên mua đối với tài sản mua bán
1. Bên bán có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu đối với tài sản đã bán cho bên mua không bị người thứ ba tranh chấp.
2. Trường hợp tài sản bị người thứ ba tranh chấp thì bên bán phải đứng về phía bên mua để bảo vệ quyền lợi của bên mua; nếu người thứ ba có quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tài sản mua bán thì bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại.
3. Trường hợp bên mua biết hoặc phải biết tài sản mua bán thuộc sở hữu của người thứ ba mà vẫn mua thì phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu và không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Điều 445. Bảo đảm chất lượng vật mua bán
1. Bên bán phải bảo đảm giá trị sử dụng hoặc các đặc tính của vật mua bán; nếu sau khi mua mà bên mua phát hiện khuyết tật làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị sử dụng của vật đã mua thì phải báo ngay cho bên bán khi phát hiện ra khuyết tật và có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa, đổi vật có khuyết tật lấy vật khác, giảm giá và bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Bên bán phải bảo đảm vật bán phù hợp với sự mô tả trên bao bì, nhãn hiệu hàng hóa hoặc phù hợp với mẫu mà bên mua đã lựa chọn.
3. Bên bán không chịu trách nhiệm về khuyết tật của vật trong trường hợp sau đây:
a) Khuyết tật mà bên mua đã biết hoặc phải biết khi mua;
b) Vật bán đấu giá, vật bán ở cửa hàng đồ cũ;
c) Bên mua có lỗi gây ra khuyết tật của vật.
Bên bán có nghĩa vụ bảo hành đối với vật mua bán trong một thời hạn, gọi là thời hạn bảo hành, nếu việc bảo hành do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Thời hạn bảo hành được tính kể từ thời điểm bên mua có nghĩa vụ phải nhận vật.
Điều 447. Quyền yêu cầu bảo hành
Trong thời hạn bảo hành, nếu bên mua phát hiện được khuyết tật của vật mua bán thì có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa không phải trả tiền, giảm giá, đổi vật có khuyết tật lấy vật khác hoặc trả lại vật và lấy lại tiền.
Điều 448. Sửa chữa vật trong thời hạn bảo hành
1. Bên bán phải sửa chữa vật và bảo đảm vật có đủ các tiêu chuẩn chất lượng hoặc có đủ các đặc tính đã cam kết.
2. Bên bán chịu chi phí về sửa chữa và vận chuyển vật đến nơi sửa chữa và từ nơi sửa chữa đến nơi cư trú hoặc trụ sở của bên mua.
3. Bên mua có quyền yêu cầu bên bán hoàn thành việc sửa chữa trong thời hạn do các bên thỏa thuận hoặc trong một thời gian hợp lý; nếu bên bán không thể sửa chữa được hoặc không thể hoàn thành việc sửa chữa trong thời hạn đó thì bên mua có quyền yêu cầu giảm giá, đổi vật có khuyết tật lấy vật khác hoặc trả lại vật và lấy lại tiền.
Điều 449. Bồi thường thiệt hại trong thời hạn bảo hành
1. Ngoài việc yêu cầu thực hiện các biện pháp bảo hành, bên mua có quyền yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại do khuyết tật về kỹ thuật của vật gây ra trong thời hạn bảo hành.
2. Bên bán không phải bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được thiệt hại xảy ra do lỗi của bên mua. Bên bán được giảm mức bồi thường thiệt hại nếu bên mua không áp dụng các biện pháp cần thiết mà khả năng cho phép nhằm ngăn chặn, hạn chế thiệt hại.
Điều 450. Mua bán quyền tài sản
1. Trường hợp mua bán quyền tài sản thì bên bán phải chuyển giấy tờ và làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho bên mua, bên mua phải trả tiền cho bên bán.
2. Trường hợp quyền tài sản là quyền đòi nợ và bên bán cam kết bảo đảm khả năng thanh toán của người mắc nợ thì bên bán phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán, nếu khi đến hạn mà người mắc nợ không trả.
3. Thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với quyền tài sản là thời điểm bên mua nhận được giấy tờ về quyền sở hữu đối với quyền tài sản đó hoặc từ thời điểm đăng ký việc chuyển quyền sở hữu, nếu pháp luật có quy định.
Tài sản có thể được đem bán đấu giá theo ý chí của chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật. Tài sản thuộc sở hữu chung đem bán đấu giá phải có sự đồng ý của tất cả các chủ sở hữu chung, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Việc bán đấu giá tài sản phải đảm bảo nguyên tắc khách quan, công khai, minh bạch, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia và được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.
Điều 452. Mua sau khi sử dụng thử
1. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên mua được dùng thử vật mua trong một thời hạn gọi là thời hạn dùng thử. Trong thời hạn dùng thử, bên mua có thể trả lời mua hoặc không mua; nếu hết thời hạn dùng thử mà bên mua không trả lời thì coi như đã chấp nhận mua theo các điều kiện đã thỏa thuận trước khi nhận vật dùng thử.
Trường hợp các bên không thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng về thời hạn dùng thử thì thời hạn này được xác định theo tập quán của giao dịch có đối tượng cùng loại.
2. Trong thời hạn dùng thử, vật vẫn thuộc sở hữu của bên bán. Bên bán phải chịu mọi rủi ro xảy ra đối với vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trong thời hạn dùng thử, bên bán không được bán, tặng cho, cho thuê, trao đổi, thế chấp, cầm cố tài sản khi bên mua chưa trả lời.
3. Trường hợp bên dùng thử trả lời không mua thì phải trả lại vật cho bên bán và phải bồi thường thiệt hại cho bên bán, nếu làm mất, hư hỏng vật dùng thử. Bên dùng thử không phải chịu trách nhiệm về những hao mòn thông thường do việc dùng thử gây ra và không phải hoàn trả hoa lợi do việc dùng thử mang lại.
Điều 453. Mua trả chậm, trả dần
1. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên mua trả chậm hoặc trả dần tiền mua trong một thời hạn sau khi nhận tài sản mua. Bên bán được bảo lưu quyền sở hữu đối với tài sản bán cho đến khi bên mua trả đủ tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Hợp đồng mua trả chậm hoặc trả dần phải được lập thành văn bản. Bên mua có quyền sử dụng tài sản mua trả chậm, trả dần và phải chịu rủi ro trong thời gian sử dụng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 454. Chuộc lại tài sản đã bán
1. Bên bán có thể thỏa thuận với bên mua về quyền chuộc lại tài sản đã bán sau một thời hạn gọi là thời hạn chuộc lại.
Thời hạn chuộc lại tài sản do các bên thỏa thuận; trường hợp không có thỏa thuận thì thời hạn chuộc lại không quá 01 năm đối với động sản và 05 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm giao tài sản, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Trong thời hạn này, bên bán có quyền chuộc lại bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên mua trong một thời gian hợp lý. Giá chuộc lại là giá thị trường tại thời điểm và địa điểm chuộc lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trong thời hạn chuộc lại, bên mua không được xác lập giao dịch chuyển quyền sở hữu tài sản cho chủ thể khác và phải chịu rủi ro đối với tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Mục 2. HỢP ĐỒNG TRAO ĐỔI TÀI SẢN
Điều 455. Hợp đồng trao đổi tài sản
1. Hợp đồng trao đổi tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó các bên giao tài sản và chuyển quyền sở hữu đối với tài sản cho nhau.
2. Hợp đồng trao đổi tài sản phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký, nếu pháp luật có quy định.
3. Trường hợp một bên trao đổi cho bên kia tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình hoặc không được chủ sở hữu ủy quyền thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
4. Mỗi bên đều được coi là người bán đối với tài sản giao cho bên kia và là người mua đối với tài sản nhận về. Các quy định về hợp đồng mua bán từ Điều 430 đến Điều 439, từ Điều 441 đến Điều 449 và Điều 454 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng trao đổi tài sản.
Điều 456. Thanh toán giá trị chênh lệch
Trường hợp tài sản trao đổi chênh lệch về giá trị thì các bên phải thanh toán cho nhau phần chênh lệch đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Mục 3. HỢP ĐỒNG TẶNG CHO TÀI SẢN
Điều 457. Hợp đồng tặng cho tài sản
Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận.
1. Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Đối với động sản mà luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký.
Điều 459. Tặng cho bất động sản
1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật.
2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.
Điều 460. Trách nhiệm do cố ý tặng cho tài sản không thuộc sở hữu của mình
Trường hợp bên tặng cho cố ý tặng cho tài sản không thuộc sở hữu của mình mà bên được tặng cho không biết hoặc không thể biết về việc đó thì bên tặng cho phải thanh toán chi phí để làm tăng giá trị của tài sản cho bên được tặng cho khi chủ sở hữu lấy lại tài sản.
Điều 461. Thông báo khuyết tật của tài sản tặng cho
Bên tặng cho có nghĩa vụ thông báo cho bên được tặng cho khuyết tật của tài sản tặng cho. Trường hợp bên tặng cho biết tài sản có khuyết tật mà không thông báo thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại xảy ra cho người được tặng cho; nếu bên tặng cho không biết về khuyết tật của tài sản tặng cho thì không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Điều 462. Tặng cho tài sản có điều kiện
1. Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện.
3. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Điều 463. Hợp đồng vay tài sản
Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Điều 464. Quyền sở hữu đối với tài sản vay
Bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó.
Điều 465. Nghĩa vụ của bên cho vay
1. Giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng chất lượng, số lượng vào thời điểm và địa điểm đã thỏa thuận.
2. Bồi thường thiệt hại cho bên vay, nếu bên cho vay biết tài sản không bảo đảm chất lượng mà không báo cho bên vay biết, trừ trường hợp bên vay biết mà vẫn nhận tài sản đó.
3. Không được yêu cầu bên vay trả lại tài sản trước thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Điều 470 của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan quy định khác.
Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay
1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.
3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Các bên có thể thỏa thuận về việc tài sản vay phải được sử dụng đúng mục đích vay. Bên cho vay có quyền kiểm tra việc sử dụng tài sản và có quyền đòi lại tài sản vay trước thời hạn nếu đã nhắc nhở mà bên vay vẫn sử dụng tài sản trái mục đích.
1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.
Điều 469. Thực hiện hợp đồng vay không kỳ hạn
1. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản, còn bên vay cũng có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào và chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ, nhưng cũng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý.
Điều 470. Thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn
1. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và không có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý, còn bên cho vay chỉ được đòi lại tài sản trước kỳ hạn, nếu được bên vay đồng ý.
2. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản trước kỳ hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
Điều 471. Họ, hụi, biêu, phường
1. Họ, hụi, biêu, phường (sau đây gọi chung là họ) là hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên cơ sở thỏa thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại cùng định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ của các thành viên.
2. Việc tổ chức họ nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân được thực hiện theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp việc tổ chức họ có lãi thì mức lãi suất phải tuân theo quy định của Bộ luật này.
4. Nghiêm cấm việc tổ chức họ dưới hình thức cho vay nặng lãi.
Tiểu mục 1. QUY ĐỊNH CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG THUÊ TÀI SẢN
Điều 472. Hợp đồng thuê tài sản
Hợp đồng thuê tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, bên thuê phải trả tiền thuê.
Hợp đồng thuê nhà ở, hợp đồng thuê nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật nhà ở và quy định khác của pháp luật có liên quan.
1. Giá thuê do các bên thỏa thuận hoặc do người thứ ba xác định theo yêu cầu của các bên, trừ trường hợp luật có quy định khác.
2. Trường hợp không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì giá thuê được xác định theo giá thị trường tại địa điểm và thời điểm giao kết hợp đồng thuê.
1. Thời hạn thuê do các bên thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận thì được xác định theo mục đích thuê.
2. Trường hợp các bên không thỏa thuận về thời hạn thuê và thời hạn thuê không thể xác định được theo mục đích thuê thì mỗi bên có quyền chấm dứt hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải thông báo cho bên kia trước một thời gian hợp lý.
Bên thuê có quyền cho thuê lại tài sản mà mình đã thuê, nếu được bên cho thuê đồng ý.
1. Bên cho thuê phải giao tài sản cho bên thuê đúng số lượng, chất lượng, chủng loại, tình trạng, thời điểm, địa điểm đã thỏa thuận và cung cấp thông tin cần thiết về việc sử dụng tài sản đó.
2. Trường hợp bên cho thuê chậm giao tài sản thì bên thuê có thể gia hạn giao tài sản hoặc hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại; nếu tài sản thuê không đúng chất lượng như thỏa thuận thì bên thuê có quyền yêu cầu bên cho thuê sửa chữa, giảm giá thuê hoặc hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Điều 477. Nghĩa vụ bảo đảm giá trị sử dụng của tài sản thuê
1. Bên cho thuê phải bảo đảm tài sản thuê trong tình trạng như đã thỏa thuận, phù hợp với mục đích thuê trong suốt thời gian cho thuê; phải sửa chữa những hư hỏng, khuyết tật của tài sản thuê, trừ hư hỏng nhỏ mà theo tập quán bên thuê phải tự sửa chữa.
2. Trường hợp tài sản thuê bị giảm sút giá trị sử dụng mà không do lỗi của bên thuê thì bên thuê có quyền yêu cầu bên cho thuê thực hiện một hoặc một số biện pháp sau đây:
a) Sửa chữa tài sản;
b) Giảm giá thuê;
c) Đổi tài sản khác hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại, nếu tài sản thuê có khuyết tật mà bên thuê không biết hoặc tài sản thuê không thể sửa chữa được mà do đó mục đích thuê không đạt được.
3. Trường hợp bên cho thuê đã được thông báo mà không sửa chữa hoặc sửa chữa không kịp thời thì bên thuê có quyền tự sửa chữa tài sản thuê với chi phí hợp lý, nhưng phải báo cho bên cho thuê và có quyền yêu cầu bên cho thuê thanh toán chi phí sửa chữa.
Điều 478. Nghĩa vụ bảo đảm quyền sử dụng tài sản cho bên thuê
1. Bên cho thuê phải bảo đảm quyền sử dụng tài sản ổn định cho bên thuê.
2. Trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với tài sản thuê mà bên thuê không được sử dụng tài sản ổn định thì bên thuê có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Điều 479. Nghĩa vụ bảo quản tài sản thuê
1. Bên thuê phải bảo quản tài sản thuê, phải bảo dưỡng và sửa chữa nhỏ; nếu làm mất, hư hỏng thì phải bồi thường.
Bên thuê không chịu trách nhiệm về những hao mòn tự nhiên do sử dụng tài sản thuê.
2. Bên thuê có thể tu sửa và làm tăng giá trị tài sản thuê, nếu được bên cho thuê đồng ý và có quyền yêu cầu bên cho thuê thanh toán chi phí hợp lý.
Điều 480. Nghĩa vụ sử dụng tài sản thuê đúng công dụng, mục đích
1. Bên thuê phải sử dụng tài sản thuê theo đúng công dụng của tài sản và đúng mục đích đã thỏa thuận.
2. Trường hợp bên thuê sử dụng tài sản không đúng mục đích, không đúng công dụng thì bên cho thuê có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
1. Bên thuê phải trả đủ tiền thuê đúng thời hạn đã thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận về thời hạn trả tiền thuê thì thời hạn trả tiền thuê được xác định theo tập quán nơi trả tiền; nếu không thể xác định được thời hạn theo tập quán thì bên thuê phải trả tiền khi trả lại tài sản thuê.
2. Trường hợp các bên thỏa thuận việc trả tiền thuê theo kỳ hạn thì bên cho thuê có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, nếu bên thuê không trả tiền trong ba kỳ liên tiếp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Điều 482. Trả lại tài sản thuê
1. Bên thuê phải trả lại tài sản thuê trong tình trạng như khi nhận, trừ hao mòn tự nhiên hoặc theo đúng như tình trạng đã thỏa thuận; nếu giá trị của tài sản thuê bị giảm sút so với tình trạng khi nhận thì bên cho thuê có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ hao mòn tự nhiên.
2. Trường hợp tài sản thuê là động sản thì địa điểm trả lại tài sản thuê là nơi cư trú hoặc trụ sở của bên cho thuê, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
3. Trường hợp tài sản thuê là gia súc thì bên thuê phải trả lại gia súc đã thuê và cả gia súc được sinh ra trong thời gian thuê, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Bên cho thuê phải thanh toán chi phí chăm sóc gia súc được sinh ra cho bên thuê.
4. Khi bên thuê chậm trả tài sản thuê thì bên cho thuê có quyền yêu cầu bên thuê trả lại tài sản thuê, trả tiền thuê trong thời gian chậm trả và phải bồi thường thiệt hại; bên thuê phải trả tiền phạt vi phạm do chậm trả tài sản thuê, nếu có thỏa thuận.
5. Bên thuê phải chịu rủi ro xảy ra đối với tài sản thuê trong thời gian chậm trả.
Tiểu mục 2. HỢP ĐỒNG THUÊ KHOÁN TÀI SẢN
Điều 483. Hợp đồng thuê khoán tài sản
Hợp đồng thuê khoán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê khoán giao tài sản cho bên thuê khoán để khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản thuê khoán và bên thuê khoán có nghĩa vụ trả tiền thuê.
Điều 484. Đối tượng của hợp đồng thuê khoán
Đối tượng của hợp đồng thuê khoán có thể là đất đai, rừng, mặt nước chưa khai thác, gia súc, cơ sở sản xuất, kinh doanh, tư liệu sản xuất khác cùng trang thiết bị cần thiết để khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Thời hạn thuê khoán do các bên thỏa thuận. Trường hợp không có thỏa thuận hoặc có thỏa thuận nhưng không rõ ràng thì thời hạn thuê khoán được xác định theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh phù hợp với tính chất của đối tượng thuê khoán.
Giá thuê khoán do các bên thỏa thuận; nếu thuê khoán thông qua đấu thầu thì giá thuê khoán là giá được xác định theo kết quả đấu thầu.
Điều 487. Giao tài sản thuê khoán
Khi giao tài sản thuê khoán, các bên phải lập biên bản đánh giá tình trạng của tài sản thuê khoán và xác định giá trị tài sản thuê khoán.
Trường hợp các bên không xác định được giá trị thì mời người thứ ba xác định giá trị và phải lập thành văn bản.
Điều 488. Trả tiền thuê khoán và phương thức trả
1. Tiền thuê khoán có thể bằng hiện vật, bằng tiền hoặc bằng việc thực hiện một công việc.
2. Bên thuê khoán phải trả đủ tiền thuê khoán cho dù không khai thác công dụng tài sản thuê khoán.
3. Khi giao kết hợp đồng thuê khoán, các bên có thể thỏa thuận điều kiện về việc giảm tiền thuê khoán; nếu hoa lợi, lợi tức bị mất ít nhất là một phần ba do sự kiện bất khả kháng thì bên thuê khoán có quyền yêu cầu giảm hoặc miễn tiền thuê khoán, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Trường hợp bên thuê khoán phải trả hiện vật theo thời vụ hoặc theo chu kỳ khai thác công dụng của tài sản thuê khoán thì phải trả vào thời điểm kết thúc thời vụ hoặc kết thúc chu kỳ khai thác, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
5. Trường hợp bên thuê khoán phải thực hiện một công việc thì phải thực hiện đúng công việc đó.
6. Thời hạn trả tiền thuê khoán do các bên thỏa thuận, trường hợp các bên không có thỏa thuận thì bên thuê khoán phải thanh toán vào ngày cuối cùng của mỗi tháng; trường hợp thuê khoán theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh thì phải thanh toán chậm nhất khi kết thúc chu kỳ sản xuất, kinh doanh đó.
Điều 489. Khai thác tài sản thuê khoán
Bên thuê khoán phải khai thác tài sản thuê khoán đúng mục đích đã thỏa thuận và báo cho bên thuê khoán theo định kỳ về tình trạng tài sản và tình hình khai thác tài sản; nếu bên cho thuê khoán có yêu cầu hoặc cần báo đột xuất thì bên thuê khoán phải báo kịp thời. Khi bên thuê khoán khai thác công dụng tài sản thuê khoán không đúng mục đích thì bên cho thuê khoán có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Điều 490. Bảo quản, bảo dưỡng, định đoạt tài sản thuê khoán
1. Trong thời hạn khai thác tài sản thuê khoán, bên thuê khoán phải bảo quản, bảo dưỡng tài sản thuê khoán và trang thiết bị kèm theo bằng chi phí của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; nếu bên thuê khoán làm mất, hư hỏng hoặc làm mất giá trị, giảm sút giá trị tài sản thuê khoán thì phải bồi thường thiệt hại. Bên thuê khoán không chịu trách nhiệm về những hao mòn tự nhiên do sử dụng tài sản thuê khoán.
2. Bên thuê khoán có thể tự mình sửa chữa, cải tạo tài sản thuê khoán, nếu có thỏa thuận và phải bảo toàn giá trị tài sản thuê khoán.
Bên cho thuê khoán phải thanh toán cho bên thuê khoán chi phí hợp lý để sửa chữa, cải tạo tài sản thuê khoán theo thỏa thuận.
3. Bên thuê khoán không được cho thuê khoán lại, trừ trường hợp được bên cho thuê khoán đồng ý.
Điều 491. Hưởng hoa lợi, chịu thiệt hại về gia súc thuê khoán
Trong thời hạn thuê khoán gia súc, bên thuê khoán được hưởng một nửa số gia súc sinh ra và phải chịu một nửa thiệt hại về gia súc thuê khoán do sự kiện bất khả kháng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 492. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê khoán
1. Trường hợp một bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thì phải báo cho bên kia biết trước một thời gian hợp lý; nếu thuê khoán theo thời vụ hoặc theo chu kỳ khai thác thì thời hạn báo trước phải phù hợp với thời vụ hoặc chu kỳ khai thác.
2. Trường hợp bên thuê khoán vi phạm nghĩa vụ mà việc khai thác đối tượng thuê khoán là nguồn sống duy nhất của bên thuê khoán và việc tiếp tục thuê khoán không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của bên cho thuê khoán thì bên cho thuê khoán không được đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng; bên thuê khoán phải cam kết với bên cho thuê khoán không được tiếp tục vi phạm hợp đồng.
Điều 493. Trả lại tài sản thuê khoán
Khi chấm dứt hợp đồng thuê khoán, bên thuê khoán phải trả lại tài sản thuê khoán ở tình trạng phù hợp với mức độ khấu hao đã thỏa thuận; nếu làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của tài sản thuê khoán thì phải bồi thường thiệt hại.
Điều 494. Hợp đồng mượn tài sản
Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được.
Điều 495. Đối tượng của hợp đồng mượn tài sản
Tất cả những tài sản không tiêu hao đều có thể là đối tượng của hợp đồng mượn tài sản.
Điều 496. Nghĩa vụ của bên mượn tài sản
1. Giữ gìn, bảo quản tài sản mượn, không được tự ý thay đổi tình trạng của tài sản; nếu tài sản bị hư hỏng thông thường thì phải sửa chữa.
2. Không được cho người khác mượn lại, nếu không có sự đồng ý của bên cho mượn.
3. Trả lại tài sản mượn đúng thời hạn; nếu không có thỏa thuận về thời hạn trả lại tài sản thì bên mượn phải trả lại tài sản ngay sau khi mục đích mượn đã đạt được.
4. Bồi thường thiệt hại, nếu làm mất, hư hỏng tài sản mượn.
5. Bên mượn tài sản phải chịu rủi ro đối với tài sản mượn trong thời gian chậm trả.
Điều 497. Quyền của bên mượn tài sản
1. Được sử dụng tài sản mượn theo đúng công dụng của tài sản và đúng mục đích đã thỏa thuận.
2. Yêu cầu bên cho mượn thanh toán chi phí hợp lý về việc sửa chữa hoặc làm tăng giá trị tài sản mượn, nếu có thỏa thuận.
3. Không phải chịu trách nhiệm về những hao mòn tự nhiên của tài sản mượn.
Điều 498. Nghĩa vụ của bên cho mượn tài sản
1. Cung cấp thông tin cần thiết về việc sử dụng tài sản và khuyết tật của tài sản, nếu có.
2. Thanh toán cho bên mượn chi phí sửa chữa, chi phí làm tăng giá trị tài sản, nếu có thỏa thuận.
3. Bồi thường thiệt hại cho bên mượn nếu biết tài sản có khuyết tật mà không báo cho bên mượn biết dẫn đến gây thiệt hại cho bên mượn, trừ những khuyết tật mà bên mượn biết hoặc phải biết.
Điều 499. Quyền của bên cho mượn tài sản
1. Đòi lại tài sản ngay sau khi bên mượn đạt được mục đích nếu không có thỏa thuận về thời hạn mượn; nếu bên cho mượn có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng tài sản cho mượn thì được đòi lại tài sản đó mặc dù bên mượn chưa đạt được mục đích, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý.
2. Đòi lại tài sản khi bên mượn sử dụng không đúng mục đích, công dụng, không đúng cách thức đã thỏa thuận hoặc cho người khác mượn lại mà không có sự đồng ý của bên cho mượn.
3. Yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tài sản do bên mượn gây ra.
Mục 7. HỢP ĐỒNG VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Điều 500. Hợp đồng về quyền sử dụng đất
Hợp đồng về quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất hoặc thực hiện quyền khác theo quy định của Luật đất đai cho bên kia; bên kia thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người sử dụng đất.
Điều 501. Nội dung của hợp đồng về quyền sử dụng đất
1. Quy định chung về hợp đồng và nội dung của hợp đồng thông dụng có liên quan trong Bộ luật này cũng được áp dụng với hợp đồng về quyền sử dụng đất, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Nội dung của hợp đồng về quyền sử dụng đất không được trái với quy định về mục đích sử dụng, thời hạn sử dụng đất, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 502. Hình thức, thủ tục thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất
1. Hợp đồng về quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Việc thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất phải đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 503. Hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất
Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký theo quy định của Luật đất đai.
1. Hợp đồng hợp tác là sự thỏa thuận giữa các cá nhân, pháp nhân về việc cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm.
2. Hợp đồng hợp tác phải được lập thành văn bản.
Điều 505. Nội dung của hợp đồng hợp tác
Hợp đồng hợp tác có nội dung chủ yếu sau đây:
1. Mục đích, thời hạn hợp tác;
2. Họ, tên, nơi cư trú của cá nhân; tên, trụ sở của pháp nhân;
3. Tài sản đóng góp, nếu có;
4. Đóng góp bằng sức lao động, nếu có;
5. Phương thức phân chia hoa lợi, lợi tức;
6. Quyền, nghĩa vụ của thành viên hợp tác;
7. Quyền, nghĩa vụ của người đại diện, nếu có;
8. Điều kiện tham gia và rút khỏi hợp đồng hợp tác của thành viên, nếu có;
9. Điều kiện chấm dứt hợp tác.
Điều 506. Tài sản chung của các thành viên hợp tác
1. Tài sản do các thành viên đóng góp, cùng tạo lập và tài sản khác theo quy định của pháp luật là tài sản chung theo phần của các thành viên hợp tác.
Trường hợp có thỏa thuận về góp tiền mà thành viên hợp tác chậm thực hiện thì phải có trách nhiệm trả lãi đối với phần tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật này và phải bồi thường thiệt hại.
2. Việc định đoạt tài sản là quyền sử dụng đất, nhà, xưởng sản xuất, tư liệu sản xuất khác phải có thỏa thuận bằng văn bản của tất cả các thành viên; việc định đoạt tài sản khác do đại diện của các thành viên quyết định, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
3. Không được phân chia tài sản chung trước khi chấm dứt hợp đồng hợp tác, trừ trường hợp tất cả các thành viên hợp tác có thỏa thuận.
Việc phân chia tài sản chung quy định tại khoản này không làm thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ được xác lập, thực hiện trước thời điểm tài sản được phân chia.
Điều 507. Quyền, nghĩa vụ của thành viên hợp tác
1. Được hưởng hoa lợi, lợi tức thu được từ hoạt động hợp tác.
2. Tham gia quyết định các vấn đề liên quan đến thực hiện hợp đồng hợp tác, giám sát hoạt động hợp tác.
3. Bồi thường thiệt hại cho các thành viên hợp tác khác do lỗi của mình gây ra.
4. Thực hiện quyền, nghĩa vụ khác theo hợp đồng.
Điều 508. Xác lập, thực hiện giao dịch dân sự
1. Trường hợp các thành viên hợp tác cử người đại diện thì người này là người đại diện trong xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.
2. Trường hợp các thành viên hợp tác không cử ra người đại diện thì các thành viên hợp tác phải cùng tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
3. Giao dịch dân sự do chủ thể quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này xác lập, thực hiện làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của tất cả thành viên hợp tác.
Điều 509. Trách nhiệm dân sự của thành viên hợp tác
Các thành viên hợp tác chịu trách nhiệm dân sự chung bằng tài sản chung; nếu tài sản chung không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung thì thành viên hợp tác phải chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng theo phần tương ứng với phần đóng góp của mình, trừ trường hợp hợp đồng hợp tác hoặc luật có quy định khác.
Điều 510. Rút khỏi hợp đồng hợp tác
1. Thành viên có quyền rút khỏi hợp đồng hợp tác trong trường hợp sau đây:
a) Theo điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng hợp tác;
b) Có lý do chính đáng và được sự đồng ý của hơn một nửa tổng số thành viên hợp tác.
2. Thành viên rút khỏi hợp đồng hợp tác có quyền yêu cầu nhận lại tài sản đã đóng góp, được chia phần tài sản trong khối tài sản chung và phải thanh toán các nghĩa vụ theo thỏa thuận. Trường hợp việc phân chia tài sản bằng hiện vật làm ảnh hưởng đến hoạt động hợp tác thì tài sản được tính giá trị thành tiền để chia.
Việc rút khỏi hợp đồng hợp tác không làm chấm dứt quyền, nghĩa vụ của người này được xác lập, thực hiện trước thời điểm rút khỏi hợp đồng hợp tác.
3. Việc rút khỏi hợp đồng hợp tác không thuộc trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều này thì thành viên rút khỏi hợp đồng được xác định là bên vi phạm hợp đồng và phải thực hiện trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan.
Điều 511. Gia nhập hợp đồng hợp tác
Trường hợp hợp đồng hợp tác không quy định khác thì một cá nhân, pháp nhân trở thành thành viên mới của hợp đồng nếu được sự đồng ý của hơn một nửa tổng số thành viên hợp tác.
Điều 512. Chấm dứt hợp đồng hợp tác
1. Hợp đồng hợp tác chấm dứt trong trường hợp sau đây:
a) Theo thỏa thuận của các thành viên hợp tác;
b) Hết thời hạn ghi trong hợp đồng hợp tác;
c) Mục đích hợp tác đã đạt được;
d) Theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
đ) Trường hợp khác theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan.
2. Khi chấm dứt hợp đồng hợp tác, các khoản nợ phát sinh từ hợp đồng phải được thanh toán; nếu tài sản chung không đủ để trả nợ thì phải lấy tài sản riêng của các thành viên hợp tác để thanh toán theo quy định tại Điều 509 của Bộ luật này.
Trường hợp các khoản nợ đã được thanh toán xong mà tài sản chung vẫn còn thì được chia cho các thành viên hợp tác theo tỷ lệ tương ứng với phần đóng góp của mỗi người, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ.
Điều 514. Đối tượng của hợp đồng dịch vụ
Đối tượng của hợp đồng dịch vụ là công việc có thể thực hiện được, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Điều 515. Nghĩa vụ của bên sử dụng dịch vụ
1. Cung cấp cho bên cung ứng dịch vụ thông tin, tài liệu và các phương tiện cần thiết để thực hiện công việc, nếu có thỏa thuận hoặc việc thực hiện công việc đòi hỏi.
2. Trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ theo thỏa thuận.
Điều 516. Quyền của bên sử dụng dịch vụ
1. Yêu cầu bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc theo đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và thỏa thuận khác.
2. Trường hợp bên cung ứng dịch vụ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì bên sử dụng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Điều 517. Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ
1. Thực hiện công việc đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và thỏa thuận khác.
2. Không được giao cho người khác thực hiện thay công việc nếu không có sự đồng ý của bên sử dụng dịch vụ.
3. Bảo quản và phải giao lại cho bên sử dụng dịch vụ tài liệu và phương tiện được giao sau khi hoàn thành công việc.
4. Báo ngay cho bên sử dụng dịch vụ về việc thông tin, tài liệu không đầy đủ, phương tiện không bảo đảm chất lượng để hoàn thành công việc.
5. Giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong thời gian thực hiện công việc, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
6. Bồi thường thiệt hại cho bên sử dụng dịch vụ, nếu làm mất, hư hỏng tài liệu, phương tiện được giao hoặc tiết lộ bí mật thông tin.
Điều 518. Quyền của bên cung ứng dịch vụ
1. Yêu cầu bên sử dụng dịch vụ cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện để thực hiện công việc.
2. Được thay đổi điều kiện dịch vụ vì lợi ích của bên sử dụng dịch vụ mà không nhất thiết phải chờ ý kiến của bên sử dụng dịch vụ, nếu việc chờ ý kiến sẽ gây thiệt hại cho bên sử dụng dịch vụ, nhưng phải báo ngay cho bên sử dụng dịch vụ.
3. Yêu cầu bên sử dụng dịch vụ trả tiền dịch vụ.
1. Bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ theo thỏa thuận.
2. Khi giao kết hợp đồng, nếu không có thỏa thuận về giá dịch vụ, phương pháp xác định giá dịch vụ và không có bất kỳ chỉ dẫn nào khác về giá dịch vụ thì giá dịch vụ được xác định căn cứ vào giá thị trường của dịch vụ cùng loại tại thời điểm và địa điểm giao kết hợp đồng.
3. Bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ tại địa điểm thực hiện công việc khi hoàn thành dịch vụ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Trường hợp dịch vụ được cung ứng không đạt được như thỏa thuận hoặc công việc không được hoàn thành đúng thời hạn thì bên sử dụng dịch vụ có quyền giảm tiền dịch vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Điều 520. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ
1. Trường hợp việc tiếp tục thực hiện công việc không có lợi cho bên sử dụng dịch vụ thì bên sử dụng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, nhưng phải báo cho bên cung ứng dịch vụ biết trước một thời gian hợp lý; bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền công theo phần dịch vụ mà bên cung ứng dịch vụ đã thực hiện và bồi thường thiệt hại.
2. Trường hợp bên sử dụng dịch vụ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì bên cung ứng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Điều 521. Tiếp tục hợp đồng dịch vụ
Sau khi kết thúc thời hạn thực hiện công việc theo hợp đồng dịch vụ mà công việc chưa hoàn thành và bên cung ứng dịch vụ vẫn tiếp tục thực hiện công việc, bên sử dụng dịch vụ biết nhưng không phản đối thì hợp đồng dịch vụ đương nhiên được tiếp tục thực hiện theo nội dung đã thỏa thuận cho đến khi công việc được hoàn thành.
Tiểu mục 1. HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH
Điều 522. Hợp đồng vận chuyển hành khách
Hợp đồng vận chuyển hành khách là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên vận chuyển chuyên chở hành khách, hành lý đến địa điểm đã định theo thỏa thuận, hành khách phải thanh toán cước phí vận chuyển.
Điều 523. Hình thức hợp đồng vận chuyển hành khách
1. Hợp đồng vận chuyển hành khách có thể được lập thành văn bản, bằng lời nói hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.
2. Vé là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng vận chuyển hành khách giữa các bên.
Điều 524. Nghĩa vụ của bên vận chuyển
1. Chuyên chở hành khách từ địa điểm xuất phát đến đúng địa điểm, đến đúng giờ, bằng phương tiện đã thỏa thuận một cách an toàn, theo lộ trình; bảo đảm đủ chỗ cho hành khách và không chuyên chở vượt quá trọng tải.
2. Mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với hành khách theo quy định của pháp luật.
3. Bảo đảm thời gian xuất phát đã được thông báo hoặc theo thỏa thuận.
4. Chuyên chở hành lý và trả lại cho hành khách hoặc người có quyền nhận hành lý tại địa điểm thỏa thuận theo đúng thời gian, lộ trình.
5. Hoàn trả cho hành khách cước phí vận chuyển theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
Điều 525. Quyền của bên vận chuyển
1. Yêu cầu hành khách trả đủ cước phí vận chuyển hành khách, cước phí vận chuyển hành lý mang theo người vượt quá mức quy định.
2. Từ chối chuyên chở hành khách trong trường hợp sau đây:
a) Hành khách không chấp hành quy định của bên vận chuyển hoặc có hành vi làm mất trật tự công cộng, cản trở công việc của bên vận chuyển, đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác hoặc có hành vi khác không bảo đảm an toàn trong hành trình; trong trường hợp này, hành khách không được trả lại cước phí vận chuyển và phải chịu phạt vi phạm, nếu điều lệ vận chuyển có quy định;
b) Do tình trạng sức khỏe của hành khách mà bên vận chuyển thấy rõ rằng việc vận chuyển sẽ gây nguy hiểm cho chính hành khách đó hoặc người khác trong hành trình;
c) Để ngăn ngừa dịch bệnh lây lan.
Điều 526. Nghĩa vụ của hành khách
1. Trả đủ cước phí vận chuyển hành khách, cước phí vận chuyển hành lý vượt quá mức quy định và tự bảo quản hành lý mang theo người.
2. Có mặt tại điểm xuất phát đúng thời gian đã thỏa thuận.
3. Tôn trọng, chấp hành đúng quy định của bên vận chuyển và quy định khác về bảo đảm an toàn giao thông.
Điều 527. Quyền của hành khách
1. Yêu cầu được chuyên chở đúng bằng phương tiện vận chuyển và giá trị theo cước phí vận chuyển với lộ trình đã thỏa thuận.
2. Được miễn cước phí vận chuyển đối với hành lý ký gửi và hành lý xách tay trong hạn mức theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
3. Yêu cầu thanh toán chi phí phát sinh hoặc bồi thường thiệt hại, nếu bên vận chuyển có lỗi trong việc không chuyên chở đúng thời hạn, địa điểm đã thỏa thuận.
4. Nhận lại toàn bộ hoặc một phần cước phí vận chuyển trong trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 525 của Bộ luật này và trường hợp khác do pháp luật quy định hoặc theo thỏa thuận.
5. Nhận hành lý tại địa điểm đã thỏa thuận theo đúng thời gian, lộ trình.
6. Yêu cầu tạm dừng hành trình trong thời hạn và theo thủ tục do pháp luật quy định.
Điều 528. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1. Trường hợp tính mạng, sức khỏe và hành lý của hành khách bị thiệt hại thì bên vận chuyển phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
2. Bên vận chuyển không phải bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và hành lý của hành khách nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của hành khách, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Trường hợp hành khách vi phạm điều kiện vận chuyển đã thỏa thuận, quy định của điều lệ vận chuyển mà gây thiệt hại cho bên vận chuyển hoặc người thứ ba thì phải bồi thường.
Điều 529. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng vận chuyển hành khách
1. Bên vận chuyển có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 525 của Bộ luật này.
2. Hành khách có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trong trường hợp bên vận chuyển vi phạm nghĩa vụ quy định tại các khoản 1, 3 và 4 Điều 524 của Bộ luật này.
Tiểu mục 2. HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN TÀI SẢN
Điều 530. Hợp đồng vận chuyển tài sản
Hợp đồng vận chuyển tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên vận chuyển có nghĩa vụ chuyển tài sản đến địa điểm đã định theo thỏa thuận và giao tài sản đó cho người có quyền nhận, bên thuê vận chuyển có nghĩa vụ trả cước phí vận chuyển.
Điều 531. Hình thức hợp đồng vận chuyển tài sản
1. Hợp đồng vận chuyển tài sản được giao kết bằng văn bản, bằng lời nói hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.
2. Vận đơn hoặc chứng từ vận chuyển tương đương khác là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng giữa các bên.
Điều 532. Giao tài sản cho bên vận chuyển
1. Bên thuê vận chuyển có nghĩa vụ giao tài sản cho bên vận chuyển đúng thời hạn, địa điểm và đóng gói theo đúng quy cách đã thỏa thuận; phải chịu chi phí xếp, dỡ tài sản lên phương tiện vận chuyển, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp bên thuê vận chuyển giao tài sản không đúng thời hạn, địa điểm đã thỏa thuận thì phải thanh toán chi phí chờ đợi và tiền vận chuyển tài sản đến địa điểm đã thỏa thuận trong hợp đồng cho bên vận chuyển.
Trường hợp bên vận chuyển chậm tiếp nhận tài sản tại địa điểm đã thỏa thuận thì phải chịu chi phí phát sinh do việc chậm tiếp nhận.
1. Mức cước phí vận chuyển do các bên thỏa thuận; nếu pháp luật có quy định về mức cước phí vận chuyển thì áp dụng mức cước phí đó.
2. Bên thuê vận chuyển phải thanh toán đủ cước phí vận chuyển sau khi tài sản được chuyển lên phương tiện vận chuyển, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 534. Nghĩa vụ của bên vận chuyển
1. Bảo đảm vận chuyển tài sản đầy đủ, an toàn đến địa điểm đã định, theo đúng thời hạn.
2. Giao tài sản cho người có quyền nhận.
3. Chịu chi phí liên quan đến việc chuyên chở tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
5. Bồi thường thiệt hại cho bên thuê vận chuyển trong trường hợp bên vận chuyển để mất, hư hỏng tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Điều 535. Quyền của bên vận chuyển
1. Kiểm tra sự xác thực của tài sản, của vận đơn hoặc chứng từ vận chuyển tương đương khác.
2. Từ chối vận chuyển tài sản không đúng với loại tài sản đã thỏa thuận trong hợp đồng.
3. Yêu cầu bên thuê vận chuyển thanh toán đủ cước phí vận chuyển đúng thời hạn.
4. Từ chối vận chuyển tài sản cấm giao dịch, tài sản có tính chất nguy hiểm, độc hại, nếu bên vận chuyển biết hoặc phải biết.
Điều 536. Nghĩa vụ của bên thuê vận chuyển
1. Trả đủ tiền cước phí vận chuyển cho bên vận chuyển theo đúng thời hạn, phương thức đã thỏa thuận.
2. Cung cấp thông tin cần thiết liên quan đến tài sản vận chuyển để bảo đảm an toàn cho tài sản vận chuyển.
3. Trông coi tài sản trên đường vận chuyển, nếu có thỏa thuận. Trường hợp bên thuê vận chuyển trông coi tài sản mà tài sản bị mất, hư hỏng thì không được bồi thường.
Điều 537. Quyền của bên thuê vận chuyển
1. Yêu cầu bên vận chuyển chuyên chở tài sản đến đúng địa điểm, thời điểm đã thỏa thuận.
2. Trực tiếp hoặc chỉ định người thứ ba nhận lại tài sản đã thuê vận chuyển.
Điều 538. Giao tài sản cho bên nhận tài sản
1. Bên nhận tài sản có thể là bên thuê vận chuyển tài sản hoặc là người thứ ba được bên thuê vận chuyển chỉ định nhận tài sản.
2. Bên vận chuyển phải giao tài sản đầy đủ, đúng thời hạn và địa điểm cho bên nhận tài sản theo thỏa thuận.
3. Trường hợp tài sản đã được chuyển đến địa điểm giao tài sản đúng thời hạn nhưng không có bên nhận tài sản thì bên vận chuyển có thể gửi số tài sản đó tại nơi nhận gửi giữ và phải báo ngay cho bên thuê vận chuyển hoặc người thứ ba được bên thuê vận chuyển chỉ định nhận tài sản. Bên thuê vận chuyển hoặc người thứ ba được bên thuê vận chuyển chỉ định nhận tài sản phải chịu chi phí hợp lý phát sinh từ việc gửi giữ tài sản.
Nghĩa vụ giao tài sản hoàn thành khi tài sản đã được gửi giữ và bên thuê vận chuyển hoặc người thứ ba được bên thuê vận chuyển chỉ định nhận tài sản đã được thông báo về việc gửi giữ.
Điều 539. Nghĩa vụ của bên nhận tài sản
1. Xuất trình cho bên vận chuyển vận đơn hoặc chứng từ vận chuyển tương đương khác và nhận tài sản đúng thời hạn, địa điểm đã thỏa thuận.
2. Chịu chi phí xếp, dỡ tài sản vận chuyển, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
3. Thanh toán chi phí hợp lý phát sinh do việc chậm tiếp nhận tài sản.
4. Trường hợp bên nhận tài sản là người thứ ba được bên thuê vận chuyển chỉ định thì phải thông báo cho bên thuê vận chuyển về việc nhận tài sản và thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của bên thuê vận chuyển.
Điều 540. Quyền của bên nhận tài sản
1. Kiểm tra số lượng, chất lượng tài sản được vận chuyển đến.
2. Nhận tài sản được vận chuyển đến.
3. Yêu cầu bên vận chuyển thanh toán chi phí hợp lý phát sinh do phải chờ nhận tài sản nếu bên vận chuyển chậm giao.
4. Yêu cầu bên vận chuyển bồi thường thiệt hại do tài sản bị mất, hư hỏng.
Điều 541. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1. Bên vận chuyển phải bồi thường thiệt hại cho bên thuê vận chuyển nếu để tài sản bị mất hoặc hư hỏng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 536 của Bộ luật này.
2. Bên thuê vận chuyển phải bồi thường thiệt hại cho bên vận chuyển và người thứ ba về thiệt hại do tài sản vận chuyển có tính chất nguy hiểm, độc hại mà không có biện pháp đóng gói, bảo đảm an toàn trong quá trình vận chuyển.
3. Trường hợp bất khả kháng dẫn đến tài sản vận chuyển bị mất, hư hỏng hoặc bị hủy hoại trong quá trình vận chuyển thì bên vận chuyển không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Hợp đồng gia công là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên nhận gia công thực hiện công việc để tạo ra sản phẩm theo yêu cầu của bên đặt gia công, bên đặt gia công nhận sản phẩm và trả tiền công.
Điều 543. Đối tượng của hợp đồng gia công
Đối tượng của hợp đồng gia công là vật được xác định trước theo mẫu, theo tiêu chuẩn mà các bên thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Điều 544. Nghĩa vụ của bên đặt gia công
1. Cung cấp nguyên vật liệu theo đúng số lượng, chất lượng, thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận cho bên nhận gia công; cung cấp giấy tờ cần thiết liên quan đến việc gia công.
2. Chỉ dẫn cho bên nhận gia công thực hiện hợp đồng.
3. Trả tiền công theo đúng thỏa thuận.
Điều 545. Quyền của bên đặt gia công
1. Nhận sản phẩm gia công theo đúng số lượng, chất lượng, phương thức, thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận.
2. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại khi bên nhận gia công vi phạm nghiêm trọng hợp đồng.
3. Trường hợp sản phẩm không bảo đảm chất lượng mà bên đặt gia công đồng ý nhận sản phẩm và yêu cầu sửa chữa nhưng bên nhận gia công không thể sửa chữa được trong thời hạn thỏa thuận thì bên đặt gia công có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Điều 546. Nghĩa vụ của bên nhận gia công
1. Bảo quản nguyên vật liệu do bên đặt gia công cung cấp.
2. Báo cho bên đặt gia công biết để đổi nguyên vật liệu khác, nếu nguyên vật liệu không bảo đảm chất lượng; từ chối thực hiện gia công, nếu biết hoặc phải biết việc sử dụng nguyên vật liệu có thể tạo ra sản phẩm nguy hại cho xã hội.
3. Giao sản phẩm cho bên đặt gia công đúng số lượng, chất lượng, phương thức, thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận.
4. Giữ bí mật thông tin về quy trình gia công và sản phẩm tạo ra.
5. Chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm, trừ trường hợp sản phẩm không bảo đảm chất lượng do nguyên vật liệu mà bên đặt gia công cung cấp hoặc do sự chỉ dẫn không hợp lý của bên đặt gia công.
6. Hoàn trả nguyên vật liệu còn lại cho bên đặt gia công sau khi hoàn thành hợp đồng.
Điều 547. Quyền của bên nhận gia công
1. Yêu cầu bên đặt gia công giao nguyên vật liệu đúng chất lượng, số lượng, thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận.
2. Từ chối sự chỉ dẫn không hợp lý của bên đặt gia công trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu thấy chỉ dẫn đó có thể làm giảm chất lượng sản phẩm, nhưng phải báo ngay cho bên đặt gia công.
3. Yêu cầu bên đặt gia công trả đủ tiền công theo đúng thời hạn và phương thức đã thỏa thuận.
Điều 548. Trách nhiệm chịu rủi ro
Cho đến khi giao sản phẩm cho bên đặt gia công, bên nào là chủ sở hữu của nguyên vật liệu thì phải chịu rủi ro đối với nguyên vật liệu hoặc sản phẩm được tạo ra từ nguyên vật liệu đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Khi bên đặt gia công chậm nhận sản phẩm thì phải chịu rủi ro trong thời gian chậm nhận, kể cả trong trường hợp sản phẩm được tạo ra từ nguyên vật liệu của bên nhận gia công, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Khi bên nhận gia công chậm giao sản phẩm mà có rủi ro đối với sản phẩm gia công thì phải bồi thường thiệt hại xảy ra cho bên đặt gia công.
Điều 549. Giao, nhận sản phẩm gia công
Bên nhận gia công phải giao sản phẩm và bên đặt gia công phải nhận sản phẩm theo đúng thời hạn và tại địa điểm đã thỏa thuận.
Điều 550. Chậm giao, chậm nhận sản phẩm gia công
1. Trường hợp bên nhận gia công chậm giao sản phẩm thì bên đặt gia công có thể gia hạn; nếu hết thời hạn đó mà bên nhận gia công vẫn chưa hoàn thành công việc thì bên đặt gia công có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
2. Trường hợp bên đặt gia công chậm nhận sản phẩm thì bên nhận gia công có thể gửi sản phẩm đó tại nơi nhận gửi giữ và phải báo ngay cho bên đặt gia công. Nghĩa vụ giao sản phẩm hoàn thành khi đáp ứng được các điều kiện đã thỏa thuận và bên đặt gia công đã được thông báo. Bên đặt gia công phải chịu mọi chi phí phát sinh từ việc gửi giữ.
Điều 551. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng gia công
1. Mỗi bên đều có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng gia công, nếu việc tiếp tục thực hiện hợp đồng không mang lại lợi ích cho mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác, nhưng phải báo cho bên kia biết trước một thời gian hợp lý.
2. Bên đặt gia công đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thì phải trả tiền công tương ứng với công việc đã làm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Bên nhận gia công đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thì không được trả tiền công, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
3. Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng mà gây thiệt hại cho bên kia thì phải bồi thường.
1. Bên đặt gia công phải trả đủ tiền công vào thời điểm nhận sản phẩm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp không có thỏa thuận về mức tiền công thì áp dụng mức tiền công trung bình đối với việc tạo ra sản phẩm cùng loại tại địa điểm gia công và vào thời điểm trả tiền.
3. Bên đặt gia công không có quyền giảm tiền công, nếu sản phẩm không bảo đảm chất lượng do nguyên vật liệu mà mình đã cung cấp hoặc do sự chỉ dẫn không hợp lý của mình.
Điều 553. Thanh lý nguyên vật liệu
Khi hợp đồng gia công chấm dứt, bên nhận gia công phải hoàn trả nguyên vật liệu còn lại cho bên đặt gia công, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Mục 12. HỢP ĐỒNG GỬI GIỮ TÀI SẢN
Điều 554. Hợp đồng gửi giữ tài sản
Hợp đồng gửi giữ tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên giữ nhận tài sản của bên gửi để bảo quản và trả lại chính tài sản đó cho bên gửi khi hết thời hạn hợp đồng, bên gửi phải trả tiền công cho bên giữ, trừ trường hợp gửi giữ không phải trả tiền công.
Điều 555. Nghĩa vụ của bên gửi tài sản
1. Khi giao tài sản phải báo ngay cho bên giữ biết tình trạng tài sản và biện pháp bảo quản thích hợp đối với tài sản gửi giữ; nếu không báo mà tài sản gửi giữ bị tiêu hủy hoặc hư hỏng do không được bảo quản thích hợp thì bên gửi phải tự chịu; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
2. Phải trả đủ tiền công, đúng thời hạn và đúng phương thức đã thỏa thuận.
Điều 556. Quyền của bên gửi tài sản
1. Yêu cầu lấy lại tài sản bất cứ lúc nào, nếu hợp đồng gửi giữ không xác định thời hạn, nhưng phải báo trước cho bên giữ một thời gian hợp lý.
2. Yêu cầu bồi thường thiệt hại, nếu bên giữ làm mất, hư hỏng tài sản gửi giữ, trừ trường hợp bất khả kháng.
Điều 557. Nghĩa vụ của bên giữ tài sản
1. Bảo quản tài sản theo đúng thỏa thuận, trả lại tài sản cho bên gửi theo đúng tình trạng như khi nhận giữ.
2. Chỉ được thay đổi cách bảo quản tài sản nếu việc thay đổi là cần thiết nhằm bảo quản tốt hơn tài sản đó, nhưng phải báo ngay cho bên gửi biết về việc thay đổi.
3. Thông báo kịp thời cho bên gửi biết về nguy cơ hư hỏng, tiêu hủy tài sản do tính chất của tài sản đó và yêu cầu bên gửi cho biết cách giải quyết trong một thời hạn; nếu hết thời hạn đó mà bên gửi không trả lời thì bên giữ có quyền thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo quản và yêu cầu bên gửi thanh toán chi phí.
4. Phải bồi thường thiệt hại, nếu làm mất, hư hỏng tài sản gửi giữ, trừ trường hợp bất khả kháng.
Điều 558. Quyền của bên giữ tài sản
1. Yêu cầu bên gửi trả tiền công theo thỏa thuận.
2. Yêu cầu bên gửi trả chi phí hợp lý để bảo quản tài sản trong trường hợp gửi không trả tiền công.
3. Yêu cầu bên gửi nhận lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên gửi một thời gian hợp lý trong trường hợp gửi giữ không xác định thời hạn.
4. Bán tài sản gửi giữ có nguy cơ bị hư hỏng hoặc tiêu hủy nhằm bảo đảm lợi ích cho bên gửi, báo việc đó cho bên gửi và trả cho bên gửi khoản tiền thu được do bán tài sản, sau khi trừ chi phí hợp lý để bán tài sản.
Điều 559. Trả lại tài sản gửi giữ
1. Bên giữ phải trả lại chính tài sản đã nhận và cả hoa lợi nếu có, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Địa điểm trả tài sản gửi giữ là nơi gửi; nếu bên gửi yêu cầu trả tài sản ở địa điểm khác thì phải chịu chi phí vận chuyển đến nơi đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Bên giữ phải trả lại tài sản đúng thời hạn và chỉ có quyền yêu cầu bên gửi lấy lại tài sản trước thời hạn, nếu có lý do chính đáng.
Điều 560. Chậm giao, chậm nhận tài sản gửi giữ
Trường hợp bên giữ chậm giao tài sản thì không được yêu cầu bên gửi trả tiền công và thanh toán các chi phí về bảo quản, kể từ thời điểm chậm giao và phải chịu rủi ro đối với tài sản trong thời gian chậm giao tài sản.
Trường hợp bên gửi chậm nhận tài sản thì phải thanh toán các chi phí về bảo quản và tiền công cho bên nhận giữ tài sản trong thời gian chậm nhận.
1. Bên gửi phải trả đủ tiền công khi lấy lại tài sản gửi giữ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp các bên không thỏa thuận về mức tiền công thì áp dụng mức tiền công trung bình tại địa điểm và thời điểm trả tiền công.
3. Khi bên gửi lấy lại tài sản trước thời hạn thì vẫn phải trả đủ tiền công và thanh toán chi phí cần thiết phát sinh từ việc bên giữ phải trả lại tài sản trước thời hạn, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Khi bên giữ yêu cầu bên gửi lấy lại tài sản trước thời hạn thì bên giữ không được nhận tiền công và phải bồi thường thiệt hại cho bên gửi, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Thời hạn ủy quyền do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định; nếu không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định thì hợp đồng ủy quyền có hiệu lực 01 năm, kể từ ngày xác lập việc ủy quyền.
1. Bên được ủy quyền được ủy quyền lại cho người khác trong trường hợp sau đây:
a) Có sự đồng ý của bên ủy quyền;
b) Do sự kiện bất khả kháng nếu không áp dụng ủy quyền lại thì mục đích xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vì lợi ích của người ủy quyền không thể thực hiện được.
2. Việc ủy quyền lại không được vượt quá phạm vi ủy quyền ban đầu.
3. Hình thức hợp đồng ủy quyền lại phải phù hợp với hình thức ủy quyền ban đầu.
Điều 565. Nghĩa vụ của bên được ủy quyền
1. Thực hiện công việc theo ủy quyền và báo cho bên ủy quyền về việc thực hiện công việc đó.
2. Báo cho người thứ ba trong quan hệ thực hiện ủy quyền về thời hạn, phạm vi ủy quyền và việc sửa đổi, bổ sung phạm vi ủy quyền.
3. Bảo quản, giữ gìn tài liệu và phương tiện được giao để thực hiện việc ủy quyền.
4. Giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong khi thực hiện việc ủy quyền.
5. Giao lại cho bên ủy quyền tài sản đã nhận và những lợi ích thu được trong khi thực hiện việc ủy quyền theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
6. Bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều này.
Điều 566. Quyền của bên được ủy quyền
1. Yêu cầu bên ủy quyền cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện cần thiết để thực hiện công việc ủy quyền.
2. Được thanh toán chi phí hợp lý mà mình đã bỏ ra để thực hiện công việc ủy quyền; hưởng thù lao, nếu có thỏa thuận.
Điều 567. Nghĩa vụ của bên ủy quyền
1. Cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện cần thiết để bên được ủy quyền thực hiện công việc.
2. Chịu trách nhiệm về cam kết do bên được ủy quyền thực hiện trong phạm vi ủy quyền.
3. Thanh toán chi phí hợp lý mà bên được ủy quyền đã bỏ ra để thực hiện công việc được ủy quyền; trả thù lao cho bên được ủy quyền, nếu có thỏa thuận về việc trả thù lao.
Điều 568. Quyền của bên ủy quyền
1. Yêu cầu bên được ủy quyền thông báo đầy đủ về việc thực hiện công việc ủy quyền.
2. Yêu cầu bên được ủy quyền giao lại tài sản, lợi ích thu được từ việc thực hiện công việc ủy quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
3. Được bồi thường thiệt hại, nếu bên được ủy quyền vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 565 của Bộ luật này.
Điều 569. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền
1. Trường hợp ủy quyền có thù lao, bên ủy quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải trả thù lao cho bên được ủy quyền tương ứng với công việc mà bên được ủy quyền đã thực hiện và bồi thường thiệt hại; nếu ủy quyền không có thù lao thì bên ủy quyền có thể chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên được ủy quyền một thời gian hợp lý.
Bên ủy quyền phải báo bằng văn bản cho người thứ ba biết về việc bên ủy quyền chấm dứt thực hiện hợp đồng; nếu không báo thì hợp đồng với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp người thứ ba biết hoặc phải biết về việc hợp đồng ủy quyền đã bị chấm dứt.
2. Trường hợp ủy quyền không có thù lao, bên được ủy quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên ủy quyền biết một thời gian hợp lý; nếu ủy quyền có thù lao thì bên được ủy quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào và phải bồi thường thiệt hại cho bên ủy quyền, nếu có.
1. Người đã công khai hứa thưởng phải trả thưởng cho người đã thực hiện công việc theo yêu cầu của người hứa thưởng.
2. Công việc được hứa thưởng phải cụ thể, có thể thực hiện được, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Điều 571. Rút lại tuyên bố hứa thưởng
Khi chưa đến hạn bắt đầu thực hiện công việc thì người hứa thưởng có quyền rút lại tuyên bố hứa thưởng của mình. Việc rút lại tuyên bố hứa thưởng phải được thực hiện theo cách thức và trên phương tiện mà việc hứa thưởng đã được công bố.
1. Trường hợp một công việc được hứa thưởng do một người thực hiện thì khi công việc hoàn thành, người thực hiện công việc đó được nhận thưởng.
2. Khi một công việc được hứa thưởng do nhiều người cùng thực hiện nhưng mỗi người thực hiện độc lập với nhau thì người hoàn thành đầu tiên được nhận thưởng.
3. Trường hợp nhiều người cùng hoàn thành công việc được hứa thưởng vào cùng một thời điểm thì phần thưởng được chia đều cho những người đó.
4. Trường hợp nhiều người cùng cộng tác để thực hiện công việc được hứa thưởng do người hứa thưởng yêu cầu thì mỗi người được nhận một phần của phần thưởng tương ứng với phần đóng góp của mình.
1. Việc tổ chức các cuộc thi văn hóa, nghệ thuật, thể thao, khoa học, kỹ thuật và các cuộc thi khác không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Người tổ chức các cuộc thi phải công bố điều kiện dự thi, thang điểm, các giải thưởng và mức thưởng của mỗi giải.
Việc thay đổi điều kiện dự thi phải được thực hiện theo cách thức đã công bố trong một thời gian hợp lý trước khi diễn ra cuộc thi.
3. Người đoạt giải có quyền yêu cầu người tổ chức thi trao giải thưởng đúng mức đã công bố.
THỰC HIỆN CÔNG VIỆC KHÔNG CÓ ỦY QUYỀN
Điều 574. Thực hiện công việc không có ủy quyền
Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.
Điều 575. Nghĩa vụ thực hiện công việc không có ủy quyền
1. Người thực hiện công việc không có ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc phù hợp với khả năng, điều kiện của mình.
2. Người thực hiện công việc không có ủy quyền phải thực hiện công việc như công việc của chính mình; nếu biết hoặc đoán biết được ý định của người có công việc thì phải thực hiện công việc phù hợp với ý định đó.
3. Người thực hiện công việc không có ủy quyền phải báo cho người có công việc được thực hiện về quá trình, kết quả thực hiện công việc nếu có yêu cầu, trừ trường hợp người có công việc đã biết hoặc người thực hiện công việc không có ủy quyền không biết nơi cư trú hoặc trụ sở của người đó.
4. Trường hợp người có công việc được thực hiện chết, nếu là cá nhân hoặc chấm dứt tồn tại, nếu là pháp nhân thì người thực hiện công việc không có ủy quyền phải tiếp tục thực hiện công việc cho đến khi người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc được thực hiện đã tiếp nhận.
5. Trường hợp có lý do chính đáng mà người thực hiện công việc không có ủy quyền không thể tiếp tục đảm nhận công việc thì phải báo cho người có công việc được thực hiện, người đại diện hoặc người thân thích của người này hoặc có thể nhờ người khác thay mình đảm nhận việc thực hiện công việc.
Điều 576. Nghĩa vụ thanh toán của người có công việc được thực hiện
1. Người có công việc được thực hiện phải tiếp nhận công việc khi người thực hiện công việc không có ủy quyền bàn giao công việc và thanh toán các chi phí hợp lý mà người thực hiện công việc không có ủy quyền đã bỏ ra để thực hiện công việc, kể cả trường hợp công việc không đạt được kết quả theo ý muốn của mình.
2. Người có công việc được thực hiện phải trả cho người thực hiện công việc không có ủy quyền một khoản thù lao khi người này thực hiện công việc chu đáo, có lợi cho mình, trừ trường hợp người thực hiện công việc không có ủy quyền từ chối.
Điều 577. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại
1. Khi người thực hiện công việc không có ủy quyền cố ý gây thiệt hại trong khi thực hiện công việc thì phải bồi thường thiệt hại cho người có công việc được thực hiện.
2. Nếu người thực hiện công việc không có ủy quyền do vô ý mà gây thiệt hại trong khi thực hiện công việc thì căn cứ vào hoàn cảnh đảm nhận công việc, người đó có thể được giảm mức bồi thường.
Điều 578. Chấm dứt thực hiện công việc không có ủy quyền
Việc thực hiện công việc không có ủy quyền chấm dứt trong trường hợp sau đây:
1. Theo yêu cầu của người có công việc được thực hiện.
2. Người có công việc được thực hiện, người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc được thực hiện tiếp nhận công việc.
3. Người thực hiện công việc không có ủy quyền không thể tiếp tục thực hiện công việc theo quy định tại khoản 5 Điều 575 của Bộ luật này.
4. Người thực hiện công việc không có ủy quyền chết, nếu là cá nhân hoặc chấm dứt tồn tại, nếu là pháp nhân.
NGHĨA VỤ HOÀN TRẢ DO CHIẾM HỮU, SỬ DỤNG TÀI SẢN, ĐƯỢC LỢI VỀ TÀI SẢN KHÔNG CÓ CĂN CỨ PHÁP LUẬT
1. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.
2. Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật làm cho người khác bị thiệt hại thì phải hoàn trả khoản lợi đó cho người bị thiệt hại, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.
1. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã thu được.
2. Trường hợp tài sản hoàn trả là vật đặc định thì phải hoàn trả đúng vật đó; nếu vật đặc định đó bị mất hoặc hư hỏng thì phải đền bù bằng tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
3. Trường hợp tài sản hoàn trả là vật cùng loại, nhưng bị mất hoặc hư hỏng thì phải trả vật cùng loại hoặc đền bù bằng tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả khoản lợi về tài sản đó cho người bị thiệt hại bằng hiện vật hoặc bằng tiền.
Điều 581. Nghĩa vụ hoàn trả hoa lợi, lợi tức
1. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật và không ngay tình thì phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
2. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình thì phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm người đó biết hoặc phải biết việc chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.
Điều 582. Quyền yêu cầu người thứ ba hoàn trả
Trường hợp người chiếm hữu, người sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật đã giao tài sản cho người thứ ba thì khi bị chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản yêu cầu hoàn trả, người thứ ba có nghĩa vụ hoàn trả tài sản đó, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác; nếu tài sản đó đã được trả bằng tiền hoặc có đền bù thì người thứ ba có quyền yêu cầu người đã giao tài sản cho mình bồi thường thiệt hại.
Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản, người bị thiệt hại được hoàn trả tài sản thì phải thanh toán chi phí cần thiết mà người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình đã bỏ ra để bảo quản, làm tăng giá trị của tài sản.
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.
Điều 585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.
Điều 586. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân
1. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
2. Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.
Điều 587. Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra
Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.
Điều 588. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại
Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Điều 589. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm
Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm:
1. Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng.
2. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút.
3. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.
4. Thiệt hại khác do luật quy định.
Điều 590. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm
1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Điều 591. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;
b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Điều 592. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;
c) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Điều 593. Thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm
1. Trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động thì người bị thiệt hại được hưởng bồi thường từ thời điểm mất hoàn toàn khả năng lao động cho đến khi chết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp người bị thiệt hại chết thì những người mà người này có nghĩa vụ cấp dưỡng khi còn sống được hưởng tiền cấp dưỡng từ thời điểm người có tính mạng bị xâm phạm chết trong thời hạn sau đây:
a) Người chưa thành niên hoặc người đã thành thai là con của người chết và còn sống sau khi sinh ra được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ mười tám tuổi, trừ trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động và có thu nhập đủ nuôi sống bản thân;
b) Người thành niên nhưng không có khả năng lao động được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi chết.
3. Đối với con đã thành thai của người chết, tiền cấp dưỡng được tính từ thời điểm người này sinh ra và còn sống.
Mục 3. BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ
Điều 594. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
Người gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng không phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
Người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
Điều 595. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết
1. Trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết cho người bị thiệt hại.
2. Người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
Điều 596. Bồi thường thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra
1. Người do uống rượu hoặc do dùng chất kích thích khác mà lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường.
2. Khi một người cố ý dùng rượu hoặc chất kích thích khác làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
Điều 597. Bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra
Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.
Điều 598. Bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra
Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
1. Người chưa đủ mười lăm tuổi trong thời gian trường học trực tiếp quản lý mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra.
2. Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý thì bệnh viện, pháp nhân khác phải bồi thường thiệt hại xảy ra.
3. Trường học, bệnh viện, pháp nhân khác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không phải bồi thường nếu chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý; trong trường hợp này, cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường.
Điều 600. Bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra
Cá nhân, pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.
Điều 601. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.
Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật.
2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
3. Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây:
a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;
b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.
Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.
Điều 602. Bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
Chủ thể làm ô nhiễm môi trường mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp chủ thể đó không có lỗi.
Điều 603. Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra
1. Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác. Người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại; nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.
3. Trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường; khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật có lỗi trong việc để súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.
4. Trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật đó phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.
Điều 604. Bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra
Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra.
Điều 605. Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra
Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác.
Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường.
Điều 606. Bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể
1. Cá nhân, pháp nhân xâm phạm thi thể phải bồi thường thiệt hại.
2. Thiệt hại do xâm phạm thi thể gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại.
3. Người chịu trách nhiệm bồi thường khi thi thể bị xâm phạm phải bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người chết, nếu không có những người này thì người trực tiếp nuôi dưỡng người chết được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa đối với mỗi thi thể bị xâm phạm không quá ba mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Điều 607. Bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả
1. Cá nhân, pháp nhân xâm phạm đến mồ mả của người khác phải bồi thường thiệt hại.
2. Thiệt hại do xâm phạm mồ mả gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại.
3. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp mồ mả của người khác bị xâm phạm phải bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích theo thứ tự hàng thừa kế của người chết; nếu không có những người này thì người trực tiếp nuôi dưỡng người chết được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa đối với mỗi mồ mả bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Điều 608. Bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng
Cá nhân, pháp nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường.
Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.
Điều 610. Quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân
Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Điều 611. Thời điểm, địa điểm mở thừa kế
1. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.
2. Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản.
Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.
Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Điều 614. Thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế
Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.
Điều 615. Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại.
3. Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.
Điều 616. Người quản lý di sản
1. Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra.
2. Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản.
3. Trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý.
Điều 617. Nghĩa vụ của người quản lý di sản
1. Người quản lý di sản quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 616 của Bộ luật này có nghĩa vụ sau đây:
a) Lập danh mục di sản; thu hồi tài sản thuộc di sản của người chết mà người khác đang chiếm hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
b) Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác, nếu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản;
c) Thông báo về tình trạng di sản cho những người thừa kế;
d) Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;
đ) Giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế.
2. Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tại khoản 2 Điều 616 của Bộ luật này có nghĩa vụ sau đây:
a) Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác;
b) Thông báo về di sản cho những người thừa kế;
c) Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;
d) Giao lại di sản theo thỏa thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc theo yêu cầu của người thừa kế.
Điều 618. Quyền của người quản lý di sản
1. Người quản lý di sản quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 616 của Bộ luật này có quyền sau đây:
a) Đại diện cho những người thừa kế trong quan hệ với người thứ ba liên quan đến di sản thừa kế;
b) Được hưởng thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế;
c) Được thanh toán chi phí bảo quản di sản.
2. Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tại khoản 2 Điều 616 của Bộ luật này có quyền sau đây:
a) Được tiếp tục sử dụng di sản theo thỏa thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc được sự đồng ý của những người thừa kế;
b) Được hưởng thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế;
c) Được thanh toán chi phí bảo quản di sản.
3. Trường hợp không đạt được thỏa thuận với những người thừa kế về mức thù lao thì người quản lý di sản được hưởng một khoản thù lao hợp lý.
Điều 619. Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm
Trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau đều chết cùng thời điểm hoặc được coi là chết cùng thời điểm do không thể xác định được người nào chết trước (sau đây gọi chung là chết cùng thời điểm) thì họ không được thừa kế di sản của nhau và di sản của mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng, trừ trường hợp thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 652 của Bộ luật này.
1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.
2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết.
3. Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản.
Điều 621. Người không được quyền hưởng di sản
1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:
a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.
Điều 622. Tài sản không có người nhận thừa kế
Trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước.
1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;
b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.
2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.
1. Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật này có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình.
2. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
Điều 626. Quyền của người lập di chúc
Người lập di chúc có quyền sau đây:
1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.
2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.
3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.
4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.
5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.
Điều 627. Hình thức của di chúc
Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.
Điều 628. Di chúc bằng văn bản
Di chúc bằng văn bản bao gồm:
1. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng.
2. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng.
3. Di chúc bằng văn bản có công chứng.
4. Di chúc bằng văn bản có chứng thực.
1. Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.
2. Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.
1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.
5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
Điều 631. Nội dung của di chúc
1. Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:
a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;
b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
d) Di sản để lại và nơi có di sản.
2. Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, di chúc có thể có các nội dung khác.
3. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.
Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.
Điều 632. Người làm chứng cho việc lập di chúc
Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:
1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.
2. Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.
3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Điều 633. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng
Người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc.
Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 của Bộ luật này.
Điều 634. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng
Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.
Việc lập di chúc bằng văn bản có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 và Điều 632 của Bộ luật này.
Điều 635. Di chúc có công chứng hoặc chứng thực
Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc.
Điều 636. Thủ tục lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã
Việc lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã phải tuân theo thủ tục sau đây:
1. Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố. Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã ký vào bản di chúc.
2. Trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.
Điều 637. Người không được công chứng, chứng thực di chúc
Công chứng viên, người có thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã không được công chứng, chứng thực đối với di chúc nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.
2. Người có cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.
3. Người có quyền, nghĩa vụ về tài sản liên quan tới nội dung di chúc.
Điều 638. Di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực
1. Di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội trở lên, nếu quân nhân không thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực.
2. Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của người chỉ huy phương tiện đó.
3. Di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng khác có xác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó.
4. Di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng rừng núi, hải đảo có xác nhận của người phụ trách đơn vị.
5. Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó.
6. Di chúc của người đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có xác nhận của người phụ trách cơ sở đó.
Điều 639. Di chúc do công chứng viên lập tại chỗ ở
1. Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng viên tới chỗ ở của mình để lập di chúc.
2. Thủ tục lập di chúc tại chỗ ở được tiến hành như thủ tục lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng theo quy định tại Điều 636 của Bộ luật này.
Điều 640. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc
1. Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào.
2. Trường hợp người lập di chúc bổ sung di chúc thì di chúc đã lập và phần bổ sung có hiệu lực pháp luật như nhau; nếu một phần của di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫn nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật.
3. Trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị hủy bỏ.
1. Người lập di chúc có thể yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng lưu giữ hoặc gửi người khác giữ bản di chúc.
2. Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng lưu giữ bản di chúc thì phải bảo quản, giữ gìn theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về công chứng.
3. Người giữ bản di chúc có nghĩa vụ sau đây:
a) Giữ bí mật nội dung di chúc;
b) Giữ gìn, bảo quản bản di chúc; nếu bản di chúc bị thất lạc, hư hại thì phải báo ngay cho người lập di chúc;
c) Giao lại bản di chúc cho người thừa kế hoặc người có thẩm quyền công bố di chúc, khi người lập di chúc chết. Việc giao lại bản di chúc phải được lập thành văn bản, có chữ ký của người giao, người nhận và trước sự có mặt của ít nhất hai người làm chứng.
Điều 642. Di chúc bị thất lạc, hư hại
1. Kể từ thời điểm mở thừa kế, nếu bản di chúc bị thất lạc hoặc bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc và cũng không có bằng chứng nào chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc thì coi như không có di chúc và áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật.
2. Trường hợp di sản chưa chia mà tìm thấy di chúc thì di sản được chia theo di chúc.
3. Trong thời hiệu yêu cầu chia di sản, trường hợp di sản đã chia mà tìm thấy di chúc thì phải chia lại theo di chúc nếu người thừa kế theo di chúc yêu cầu.
Điều 643. Hiệu lực của di chúc
1. Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.
2. Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp sau đây:
a) Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;
b) Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực.
3. Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.
4. Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực.
5. Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.
Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.
2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.
Điều 645. Di sản dùng vào việc thờ cúng
1. Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.
Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng.
Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.
2. Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.
1. Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác. Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc.
2. Người được di tặng là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người được di tặng không phải là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
3. Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này.
1. Trường hợp di chúc bằng văn bản được lưu giữ tại tổ chức hành nghề công chứng thì công chứng viên là người công bố di chúc.
2. Trường hợp người để lại di chúc chỉ định người công bố di chúc thì người này có nghĩa vụ công bố di chúc; nếu người để lại di chúc không chỉ định hoặc có chỉ định nhưng người được chỉ định từ chối công bố di chúc thì những người thừa kế còn lại thỏa thuận cử người công bố di chúc.
3. Sau thời điểm mở thừa kế, người công bố di chúc phải sao gửi di chúc tới tất cả những người có liên quan đến nội dung di chúc.
4. Người nhận được bản sao di chúc có quyền yêu cầu đối chiếu với bản gốc của di chúc.
5. Trường hợp di chúc được lập bằng tiếng nước ngoài thì bản di chúc đó phải được dịch ra tiếng Việt và phải có công chứng hoặc chứng thực.
Điều 648. Giải thích nội dung di chúc
Trường hợp nội dung di chúc không rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau thì những người thừa kế theo di chúc phải cùng nhau giải thích nội dung di chúc dựa trên ý nguyện đích thực trước đây của người chết, có xem xét đến mối quan hệ của người chết với người thừa kế theo di chúc. Khi những người này không nhất trí về cách hiểu nội dung di chúc thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trường hợp có một phần nội dung di chúc không giải thích được nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của di chúc thì chỉ phần không giải thích được không có hiệu lực.
Điều 649. Thừa kế theo pháp luật
Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.
Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật
1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
a) Không có di chúc;
b) Di chúc không hợp pháp;
c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:
a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;
b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;
c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.
Điều 653. Quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi và cha đẻ, mẹ đẻ
Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 651 và Điều 652 của Bộ luật này.
Điều 654. Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế
Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này.
1. Trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.
2. Trường hợp vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được Tòa án cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.
3. Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản.
THANH TOÁN VÀ PHÂN CHIA DI SẢN
Điều 656. Họp mặt những người thừa kế
1. Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể họp mặt để thỏa thuận những việc sau đây:
a) Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc;
b) Cách thức phân chia di sản.
2. Mọi thỏa thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản.
Điều 657. Người phân chia di sản
1. Người phân chia di sản có thể đồng thời là người quản lý di sản được chỉ định trong di chúc hoặc được những người thừa kế thỏa thuận cử ra.
2. Người phân chia di sản phải chia di sản theo đúng di chúc hoặc đúng thỏa thuận của những người thừa kế theo pháp luật.
3. Người phân chia di sản được hưởng thù lao, nếu người để lại di sản cho phép trong di chúc hoặc những người thừa kế có thỏa thuận.
Điều 658. Thứ tự ưu tiên thanh toán
Các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán theo thứ tự sau đây:
1. Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng.
2. Tiền cấp dưỡng còn thiếu.
3. Chi phí cho việc bảo quản di sản.
4. Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ.
5. Tiền công lao động.
6. Tiền bồi thường thiệt hại.
7. Thuế và các khoản phải nộp khác vào ngân sách nhà nước.
8. Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân.
9. Tiền phạt.
10. Các chi phí khác.
Điều 659. Phân chia di sản theo di chúc
1. Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bị tiêu hủy do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.
3. Trường hợp di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá trị khối di sản thì tỷ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản.
Điều 660. Phân chia di sản theo pháp luật
1. Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.
2. Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia.
Điều 661. Hạn chế phân chia di sản
Trường hợp theo ý chí của người lập di chúc hoặc theo thỏa thuận của tất cả những người thừa kế, di sản chỉ được phân chia sau một thời hạn nhất định thì chỉ khi đã hết thời hạn đó di sản mới được đem chia.
Trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định. Thời hạn này không quá 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn 03 năm mà bên còn sống chứng minh được việc chia di sản vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của gia đình họ thì có quyền yêu cầu Tòa án gia hạn một lần nhưng không quá 03 năm.
1. Trường hợp đã phân chia di sản mà xuất hiện người thừa kế mới thì không thực hiện việc phân chia lại di sản bằng hiện vật, nhưng những người thừa kế đã nhận di sản phải thanh toán cho người thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản của người đó tại thời điểm chia thừa kế theo tỷ lệ tương ứng với phần di sản đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp đã phân chia di sản mà có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế thì người đó phải trả lại di sản hoặc thanh toán một khoản tiền tương đương với giá trị di sản được hưởng tại thời điểm chia thừa kế cho những người thừa kế, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
PHÁP LUẬT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI QUAN HỆ DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1. Phần này quy định về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
Trường hợp luật khác có quy định về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không trái với quy định từ Điều 664 đến Điều 671 của Bộ luật này thì luật đó được áp dụng, nếu trái thì quy định có liên quan của Phần thứ năm của Bộ luật này được áp dụng.
2. Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài;
b) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;
c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.
Điều 664. Xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
1. Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam.
2. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam có quy định các bên có quyền lựa chọn thì pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo lựa chọn của các bên.
3. Trường hợp không xác định được pháp luật áp dụng theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đó.
Điều 665. Áp dụng điều ước quốc tế đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
1. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì quy định của điều ước quốc tế đó được áp dụng.
2. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Phần này và luật khác về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì quy định của điều ước quốc tế đó được áp dụng.
Điều 666. Áp dụng tập quán quốc tế
Các bên được lựa chọn tập quán quốc tế trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 664 của Bộ luật này. Nếu hậu quả của việc áp dụng tập quán quốc tế đó trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam thì pháp luật Việt Nam được áp dụng.
Điều 667. Áp dụng pháp luật nước ngoài
Trường hợp pháp luật nước ngoài được áp dụng nhưng có cách hiểu khác nhau thì việc áp dụng phải theo sự giải thích của cơ quan có thẩm quyền tại nước đó.
Điều 668. Phạm vi pháp luật được dẫn chiếu đến
1. Pháp luật được dẫn chiếu đến bao gồm quy định về xác định pháp luật áp dụng và quy định về quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ dân sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.
2. Trường hợp dẫn chiếu đến pháp luật Việt Nam thì quy định của pháp luật Việt Nam về quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ dân sự được áp dụng.
3. Trường hợp dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba thì quy định của pháp luật nước thứ ba về quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ dân sự được áp dụng.
4. Trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 664 của Bộ luật này thì pháp luật mà các bên lựa chọn là quy định về quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ dân sự, không bao gồm quy định về xác định pháp luật áp dụng.
Điều 669. Áp dụng pháp luật của nước có nhiều hệ thống pháp luật
Trường hợp pháp luật của nước có nhiều hệ thống pháp luật được dẫn chiếu đến thì pháp luật áp dụng được xác định theo nguyên tắc do pháp luật nước đó quy định.
Điều 670. Trường hợp không áp dụng pháp luật nước ngoài
1. Pháp luật nước ngoài được dẫn chiếu đến không được áp dụng trong trường hợp sau đây:
a) Hậu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam;
b) Nội dung của pháp luật nước ngoài không xác định được mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng.
2. Trường hợp pháp luật nước ngoài không được áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều này thì pháp luật Việt Nam được áp dụng.
Thời hiệu đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự đó.
PHÁP LUẬT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI CÁ NHÂN, PHÁP NHÂN
Điều 672. Căn cứ xác định pháp luật áp dụng đối với người không quốc tịch, người có nhiều quốc tịch
1. Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước mà cá nhân có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người không quốc tịch thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Nếu người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó có mối liên hệ gắn bó nhất.
2. Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước mà cá nhân có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người có nhiều quốc tịch thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó có quốc tịch và cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Nếu người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú hoặc nơi cư trú và nơi có quốc tịch khác nhau vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và có mối liên hệ gắn bó nhất.
Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước mà cá nhân có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người có nhiều quốc tịch, trong đó có quốc tịch Việt Nam thì pháp luật áp dụng là pháp luật Việt Nam.
Điều 673. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch.
2. Người nước ngoài tại Việt Nam có năng lực pháp luật dân sự như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác.
Điều 674. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân
1. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Trường hợp người nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam, năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài đó được xác định theo pháp luật Việt Nam.
3. Việc xác định cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự tại Việt Nam theo pháp luật Việt Nam.
Điều 675. Xác định cá nhân mất tích hoặc chết
1. Việc xác định một cá nhân mất tích hoặc chết tuân theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch vào thời điểm trước khi có tin tức cuối cùng về người đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Việc xác định tại Việt Nam một cá nhân mất tích hoặc chết theo pháp luật Việt Nam.
1. Quốc tịch của pháp nhân được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân thành lập.
2. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân; tên gọi của pháp nhân; đại diện theo pháp luật của pháp nhân; việc tổ chức, tổ chức lại, giải thể pháp nhân; quan hệ giữa pháp nhân với thành viên của pháp nhân; trách nhiệm của pháp nhân và thành viên của pháp nhân đối với các nghĩa vụ của pháp nhân được xác định theo pháp luật của nước mà pháp nhân có quốc tịch, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.
3. Trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài đó được xác định theo pháp luật Việt Nam.
PHÁP LUẬT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI QUAN HỆ TÀI SẢN, QUAN HỆ NHÂN THÂN
Việc phân loại tài sản là động sản, bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản.
Điều 678. Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản
1. Việc xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản là động sản trên đường vận chuyển được xác định theo pháp luật của nước nơi động sản được chuyển đến, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 679. Quyền sở hữu trí tuệ
Quyền sở hữu trí tuệ được xác định theo pháp luật của nước nơi đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được yêu cầu bảo hộ.
1. Thừa kế được xác định theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch ngay trước khi chết.
2. Việc thực hiện quyền thừa kế đối với bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.
1. Năng lực lập di chúc, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc được xác định theo pháp luật của nước mà người lập di chúc có quốc tịch tại thời điểm lập, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc.
2. Hình thức của di chúc được xác định theo pháp luật của nước nơi di chúc được lập. Hình thức của di chúc cũng được công nhận tại Việt Nam nếu phù hợp với pháp luật của một trong các nước sau đây:
a) Nước nơi người lập di chúc cư trú tại thời điểm lập di chúc hoặc tại thời điểm người lập di chúc chết;
b) Nước nơi người lập di chúc có quốc tịch tại thời điểm lập di chúc hoặc tại thời điểm người lập di chúc chết;
c) Nước nơi có bất động sản nếu di sản thừa kế là bất động sản.
Giám hộ được xác định theo pháp luật của nước nơi người được giám hộ cư trú.
1. Các bên trong quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều này. Trường hợp các bên không có thỏa thuận về pháp luật áp dụng thì pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng đó được áp dụng.
2. Pháp luật của nước sau đây được coi là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng:
a) Pháp luật của nước nơi người bán cư trú nếu là cá nhân hoặc nơi thành lập nếu là pháp nhân đối với hợp đồng mua bán hàng hóa;
b) Pháp luật của nước nơi người cung cấp dịch vụ cư trú nếu là cá nhân hoặc nơi thành lập nếu là pháp nhân đối với hợp đồng dịch vụ;
c) Pháp luật của nước nơi người nhận quyền cư trú nếu là cá nhân hoặc nơi thành lập nếu là pháp nhân đối với hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ;
d) Pháp luật của nước nơi người lao động thường xuyên thực hiện công việc đối với hợp đồng lao động. Nếu người lao động thường xuyên thực hiện công việc tại nhiều nước khác nhau hoặc không xác định được nơi người lao động thường xuyên thực hiện công việc thì pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng lao động là pháp luật của nước nơi người sử dụng lao động cư trú đối với cá nhân hoặc thành lập đối với pháp nhân;
đ) Pháp luật của nước nơi người tiêu dùng cư trú đối với hợp đồng tiêu dùng.
3. Trường hợp chứng minh được pháp luật của nước khác với pháp luật được nêu tại khoản 2 Điều này có mối liên hệ gắn bó hơn với hợp đồng thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước đó.
4. Trường hợp hợp đồng có đối tượng là bất động sản thì pháp luật áp dụng đối với việc chuyển giao quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản, thuê bất động sản hoặc việc sử dụng bất động sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là pháp luật của nước nơi có bất động sản.
5. Trường hợp pháp luật do các bên lựa chọn trong hợp đồng lao động, hợp đồng tiêu dùng có ảnh hưởng đến quyền lợi tối thiểu của người lao động, người tiêu dùng theo quy định của pháp luật Việt Nam thì pháp luật Việt Nam được áp dụng.
6. Các bên có thể thỏa thuận thay đổi pháp luật áp dụng đối với hợp đồng nhưng việc thay đổi đó không được ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba được hưởng trước khi thay đổi pháp luật áp dụng, trừ trường hợp người thứ ba đồng ý.
7. Hình thức của hợp đồng được xác định theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó. Trường hợp hình thức của hợp đồng không phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó, nhưng phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng hoặc pháp luật Việt Nam thì hình thức hợp đồng đó được công nhận tại Việt Nam.
Điều 684. Hành vi pháp lý đơn phương
Pháp luật áp dụng đối với hành vi pháp lý đơn phương là pháp luật của nước nơi cá nhân xác lập hành vi đó cư trú hoặc nơi pháp nhân xác lập hành vi đó được thành lập.
Điều 685. Nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật
Nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện việc chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc nơi phát sinh lợi ích được hưởng mà không có căn cứ pháp luật.
Điều 686. Thực hiện công việc không có ủy quyền
Các bên được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng cho việc thực hiện công việc không có ủy quyền. Trường hợp không có thỏa thuận thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi thực hiện công việc không có ủy quyền.
Điều 687. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1. Các bên được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng cho việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Trường hợp không có thỏa thuận thì pháp luật của nước nơi phát sinh hậu quả của sự kiện gây thiệt hại được áp dụng.
2. Trường hợp bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại có nơi cư trú, đối với cá nhân hoặc nơi thành lập, đối với pháp nhân tại cùng một nước thì pháp luật của nước đó được áp dụng.
Điều 688. Điều khoản chuyển tiếp
1. Đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực thì việc áp dụng pháp luật được quy định như sau:
a) Giao dịch dân sự chưa được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác với quy định của Bộ luật này thì chủ thể giao dịch tiếp tục thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11, trừ trường hợp các bên của giao dịch dân sự có thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung nội dung, hình thức của giao dịch để phù hợp với Bộ luật này và để áp dụng quy định của Bộ luật này.
Giao dịch dân sự đang được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11;
b) Giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật này;
c) Giao dịch dân sự được thực hiện xong trước ngày Bộ luật này có hiệu lực mà có tranh chấp thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 để giải quyết;
d) Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này.
2. Không áp dụng Bộ luật này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với vụ việc mà Tòa án đã giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự trước ngày Bộ luật này có hiệu lực.
Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017.
Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 hết hiệu lực kể từ ngày Bộ luật này có hiệu lực.
Bộ luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2015./
-
.========================================================================================================
-
Công bố báo cáo tài chính quý 4/2019, Novaland giữ đà tăng tốc
Nguồn: Novaland
09:43 - 31/01/20200
Trong báo cáo tài chính quý 4/2019, Novaland công bố lợi nhuận sau thuế năm 2019 đạt 3.382 tỉ đồng, hoàn thành kế hoạch lợi nhuận của năm, tăng nhẹ 3% so với kết quả thực hiện năm 2018.
Trong năm qua, tập đoàn có doanh thu thuần lũy kế năm 2019 đạt 10.931 tỉ đồng, thực hiện bàn giao 3.468 sản phẩm, chủ yếu đến từ các dự án hiện hữu với sự đóng góp lớn của các dự án: The Sun Avenue, Sunrise Riverside, RichStar, Saigon Royal, Newton Residence, Orchard Parkview, dự án mới bắt đầu bàn giao trong năm 2019 - Victoria Village và các dự án khác.

Dự án The Sun Avenue (Q.2, TP.HCM)
Điểm tích cực của Novaland trong năm 2019 là cơ cấu nợ vay của tập đoàn có sự dịch chuyển theo hướng an toàn hơn và tăng nợ dài hạn, giảm nợ ngắn hạn. Cụ thể, nợ phải trả đạt 65.517 tỉ đồng, trong đó nợ dài hạn tăng hơn 2 lần so với cuối năm 2018, chiếm 72,5% tổng nợ phải trả.
Sức khỏe tài chính công ty tiếp tục được cải thiện vững chắc, tại thời điểm 31.12.2019, tổng tài sản ghi nhận đạt 89.973 tỉ đồng, tăng 30%, trong đó tài sản ngắn hạn đạt 71.272 tỉ đồng, tăng 42% so với cùng kỳ năm 2018. Hàng tồn kho tăng 84%, trong đó bất động sản (BĐS) đang xây dựng chiếm hơn 89,5% tổng hàng tồn kho, chủ yếu do tăng các dự án mua mới trong năm.
Đi cùng chiến lược phát triển giai đoạn 2, Novaland trong năm qua đã tích cực thực hiện M&A, triển khai các dự án mới với mức độ hấp thụ tích cực từ thị trường, dự kiến sẽ đem lại nguồn thu ổn định nhằm đảm bảo kế hoạch kinh doanh của công ty. Quỹ đất của tập đoàn hiện sở hữu và đang nghiên cứu triển khai vào khoảng 4.900 ha.
Cùng với các dự án căn hộ hạng sang và cao cấp tại khu trung tâm Q.1, Q.2; vào tháng 6.2019, Novaland đã ra mắt mô hình khu đô thị sinh thái thông minh đầu tiên tại Đồng Nai là Aqua City.
- =============================================================================
-
Thứ ba, 17/12/2019, 16:38 (GMT+7)
Đại gia bán lẻ Hàn đổ đến Việt Nam
Ba hãng bán lẻ Lotte, GS25, E-Mart đang có 69 siêu thị, cửa hàng tiện lợi tại Việt Nam và sẽ tăng thêm trong năm tới.
Các bản nhạc Hàn Quốc vang lên khi những nhân viên văn phòng trẻ tìm bim bim, đồ văn phòng phẩm tại một cửa hàng tiện lợi GS25 ở phường Đa Kao, TP HCM. Mỳ cay và bánh quy ngọt cũng có mặt trên kệ ở cửa hàng này giống như tại Seoul, Hàn Quốc.
Các doanh nghiệp sản xuất của Hàn Quốc như Samsung Electronics hay LG Electronics đã đến Việt Nam từ hàng chục năm trước bởi chi phí lao động rẻ, dân số tăng nhanh. Còn hiện tại, nhờ thu nhập người dân tăng lên, Việt Nam lại đón làn sóng các nhà bán lẻ Hàn Quốc. Nikkei nhận định, Việt Nam là một thị trường chật chội, với sự cạnh tranh khốc liệt từ các thương hiệu địa phương và các đối thủ Nhật Bản.
Lotte Shopping là nhà bán lẻ Hàn Quốc tiên phong gia nhập thị trường Việt Nam từ năm 2008. Hiện tập đoàn này có 14 siêu thị tại Việt Nam và một trung tâm thương mại ở Hà Nội.
Tiếp bước Lotte là E-Mart. Đơn vị này khai trương siêu thị đầu tiên tại TP HCM tháng 12/2015. Với thành công của siêu thị tại quận Gò Vấp này, E-Mart đang lên kế hoạch mở thêm các địa điểm khác tại TP HCM vào năm 2020.
"Cửa hàng E-Mart đầu tiên tại Việt Nam vẫn tăng trưởng nhanh từ khi ra mắt. Khác biệt so với các đối thủ là E-Mart cung cấp một loạt các sản phẩm Hàn Quốc, bao gồm đồ ăn ngon và bánh", công ty này viết trong báo quý III được công bố tháng trước. Theo người phát ngôn Kim Bo-bae, E-Mart đang chuẩn bị mở cửa hàng thứ 2 tại TP HCM trong năm tới.
Trong khi đó, GS Retail thành lập liên doanh với Tập đoàn Sơn Kim để vận hành 54 cửa hàng tiện lợi tại Việt Nam dưới thương hiệu GS25 từ năm 2018. Đơn vị này cũng vừa đặt mục tiêu có 2.500 cửa hàng tại Việt Nam trong 10 năm tới, thông qua chiến lược nhượng quyền.
- ============================================================================
-
-
How much money does a person working in Japan make?
684,471 JPY per monthAverage Monthly Salary
A person working in Japan typically earns around 684,471 JPY per month.
This is the average monthly salary including housing, transport, and other benefits.
Salaries differ drasticly between different jobs. If you are interested in the salary of a particular job, see below for salaries for specific job titles.
Distribution of Salaries in Japan | All Jobs

Abount These Figures: Salary Range, Median and Percentiles
Salaries in Japan range between 92,646 JPY per month (minimum salary) to 3,030,940 JPY per month (maximum salary).
The median salary is 705,005 JPY per month, which means that half (50%) of the population are earning less than 705,005 JPY while the other half are earning more than 705,005 JPY. The median represents the middle salary value. Generally speaking, you would want to be on the right side of the graph with the group earning more than the median salary.
Closely related to the median are two values: the 25th and the 75th percentiles. Reading from the salary distribution diagram, 25% of the population are earning less than 358,943 JPY while 75% of them are earning more than 358,943 JPY. Also from the diagram, 75% of the population are earning less than 1,980,051 JPY while 25% are earning more than 1,980,051 JPY.What is the difference between the median and the average salary? What should you be looking at?
Both are indicators. If your salary is higher than both of the average and the median then you are doing very well. If your salary is lower than both, then many people are earning more than you and there is plently of room for improvement. If your wage is in between the average and median, then things can be a bit confusing. We have written a guide to explain all the different senarios.
- ----=====================================================================================
-
Hà Nội bắn pháo hoa 30 điểm dịp Tết Nguyên đán
Giao thừa Tết Canh Tý 2020, Hà Nội sẽ bắn pháo hoa tại 30 quận, huyện với 6 điểm bắn tầm cao và 24 điểm tầm thấp.
Theo UBND TP Hà Nội, 6 điểm bắn pháo hoa tầm cao gồm: Khu vực hồ Gươm (Hoàn Kiếm); Vườn hoa Lạc Long Quân (quận Tây Hồ); Sân vận động Mỹ Đình (Nam Từ Liêm); Công viên Thống Nhất (Hai Bà Trưng); Hồ Văn Quán (Hà Đông); Thành cổ Sơn Tây (thị xã Sơn Tây).
24 điểm bắn pháo hoa giao thừa tầm thấp tại các quận, huyện: Bán đảo hồ Hoàng Cầu, phường Ô Chợ Dừa (Đống Đa); Hồ Ngọc Khánh, phường Ngọc Khánh (Ba Đình); Trung tâm thương mại Vincom, phường Phúc Lợi (Long Biên); công viên Cầu Giấy, phường Dịch Vọng (Cầu Giấy); Công viên hồ điều hòa Nhân Chính, phường Nhân Chính (Thanh Xuân)...
Pháo hoa trên Hồ Gươm Tết Nguyên đán 2019.
Quảng Ninh, đêm giao thừa 2020 sẽ bắn pháo hoa tại 14/14 địa phương cấp huyện của tỉnh với 16 điểm. Trong đó, thành phố Hạ Long và Cẩm Phả mỗi địa phương tổ chức bắn tại hai điểm.
Hải Phòng sẽ bắn pháo hoa tại 8 điểm là: Bờ hồ Tam Bạc và sân thượng Nhà triển lãm thành phố; Bờ hồ An Biên; Trung tâm hành chính quận Dương Kinh; Khu công nghiệp VSIP, huyện Thủy Nguyên; Trung tâm hành chính huyện An Dương; Trung tâm hành chính huyện Tiên Lãng; Khu di tích Đền Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Vĩnh Bảo; Khu cầu Cảng Cát Bà, huyện Cát Hải.
Tại mỗi điểm sẽ có 500 quả pháo hoa tầm cao và 120 giàn pháo hoa tầm thấp. Ngoài ra, thành phố cho phép các quận, huyện: Hải An, Kiến An, Đồ Sơn, Kiến Thụy, An Lão được tổ chức bắn pháo hoa tầm thấp vào đêm giao thừa Tết Nguyên đán Canh Tý 2020 tại một điểm trung tâm trên địa bàn.
Thừa Thiên Huế bắn pháo hoa đêm giao thừa với số lượng 1.500 quả pháo tầm cao, trong đó 1.000 quả ở thành phố Huế, 500 quả ở thị xã Hương Thủy.
Hàng năm tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức bắn pháo hoa trước cổng Ngọ Môn.
Thời gian bắn pháo hoa ở các tỉnh, thành đều trong 15 phút, lúc 0h ngày 25/01/2020, tức đêm Giao thừa Tết Nguyên đán Canh Tý; nguồn kinh phí huy động xã hội hóa.
- ============================================================================================================
-
Vi phạm chứng khoán, quỹ ngoại America LLC và Barca Global Master Fund bị xử phạt
16:38 14/12/2019 (GMT+7)
(Vietnamdaily) - Trong tuần vừa qua, 2 quỹ ngoại America LLC và Barca Global Master Fund, L.P bị xử phạt tổng cộng 90 triệu đồng vì vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán.
Giao dịch cổ phiếu DC1 và VLA, quỹ ngoại America LLC bị phạt
Ngày 10/12, Thanh tra Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đã ban hành quyết định phạt vi phạm hành chính đối với quỹ ngoại America LLC số tiền 70 triệu đồng.
Nguyên nhân do quỹ này đã không báo cáo khi có thay đổi về số lượng cổ phiếu sở hữu vượt quá các ngưỡng 1% số lượng cổ phiếu khi giao dịch cổ phiếu DC1 và VLA.
Cụ thể, ngày 11/10/2018, America LLC - cổ đông lớn CTCP Đầu tư phát triển xây dựng số 1 đã mua 900 cổ phiếu DC1, dẫn đến số lượng cổ phiếu sở hữu tăng từ 149.500 cổ phiếu lên 150.400 cổ phiếu, tương ứng tỷ lệ sở hữu tăng từ 9,96% lên 10,01% (tăng từ ngưỡng 9% lên ngưỡng 10%).
Tiếp đó, ngày 9/5/2019, America LLC - cổ đông lớn CTCP Đầu tư và phát triển Công nghệ Văn Lang đã bán 200 cổ phiếu VLA, dẫn đến khối lượng cổ phiếu sở hữu giảm từ 270.000 cố phiếu xuống còn 269.800 cổ phiếu, tương ứng tỷ lệ sở hữu giảm từ 25,01% xuống còn 24,99%.
Tuy nhiên, America LLC đã không báo cáo UBCKNN và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) về 2 giao dịch nêu trên.
Quỹ ngoại Barca Global Master Fund, L.P bị nộp phạt 20 triệu đồng do vi phạm báo cáo
Ngày 12/12, Thanh tra UBCKNN quyết định phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán đối với quỹ ngoại Barca Global Master Fund, L.P số tiền 20 triệu đồng.
Nguyên nhân, do quỹ này đã báo cáo giao dịch không chính xác. Cụ thể, ngày 21/1, Barca Global Master Fund, L.P - cổ đông lớn của CTCP Bia Hà Nội - Thanh Hóa nắm giữ hơn 1,143 triệu cổ phiếu THB trước khi giao dịch và đã bán 5.000 cổ phiếu THB.
Ngày 30/1, HNX nhận được báo cáo thay đổi sở hữu cổ đông lớn của Barca Global Master Fund.
Theo báo cáo, quỹ ngoại này nắm giữ 1,121 triệu cổ phiếu THB trước khi giao dịch và đã bán 1.714 cổ phiếu THB (ngày thanh toán 24/1), bán 2.571 cổ phiếu THB (ngày thanh toán 28/1), bán 2.794 cổ phiếu THB (ngày thanh toán 31/1).
====================================================================================================
-
Công ty xây dựng an gia
Địa chỉ: 328 Bình Lợi, Phường 13, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện pháp luật: Tạ Khánh Tiệpthứ năm, 19/12/2019, 08:01 (GMT+7)
An Gia lên sàn chứng khoán TP HCM
Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển bất động sản An Gia có trụ sở tại TP HCM vừa được chấp thuận niêm yết 75 triệu cổ phiếu trên HoSE từ 9/1/2020.
Sở Giao dịch chứng khoán TP HCM (HoSE) vừa thông báo chấp thuận niêm yết 75 triệu cổ phiếu của Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển bất động sản An Gia. Cổ phiếu của doanh nghiệp này sẽ giao dịch phiên đầu tiên vào ngày 9/1/2020 với mã AGG. Tính theo giá tham chiếu 25.000 đồng, vốn hoá thị trường trong ngày chào sàn TP HCM xấp xỉ 1.900 tỷ đồng.
An Gia được thành lập năm 2006, ban đầu hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ tư vấn và môi giới bất động sản. Doanh nghiệp này chọn hướng liên doanh với đối tác nước ngoài, mua bán – sáp nhập những dự án cũ để phát triển rổ hàng. Chủ trương niêm yết mới được Hội đồng quản trị doanh nghiệp này mới thông qua vào cuối tháng 7, với mục tiêu thời gian muộn nhất là 31/3/2020.
Từ đầu năm đến nay, An Gia có 3 lần thay đổi vốn điều lệ từ 450 tỷ đồng lên 750 tỷ đồng thông qua các đợt phát hành cổ phần phổ thông từ lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, ESOP và chào bán cho nhà đầu tư nước ngoài. Lần thay đổi gần nhất vừa hoàn thành vào cuối tháng 9 khi doanh nghiệp này chào bán 5 triệu cổ phiếu cho Korea Investment Management Co., Ltd với giá 28.000 đồng mỗi cổ phần.
Tổng tài sản của An Gia tính đến ngày 30/9 đạt hơn 2.100 tỷ đồng, trong đó phần lớn là các khoản phải thu ngắn hạn của khách hàng và cho vay. Nợ phải trả tại thời điểm đó xấp xỉ 950 tỷ đồng. Khoản nợ lớn nhất là vay tín chấp ngắn hạn gần 300 tỷ đồng để tài trợ vốn lưu động.
Luỹ kế doanh thu thuần 9 tháng đầu năm đạt gần 250 tỷ đồng, giảm 77% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận sau thuế cũng giảm hơn 7 lần, chỉ còn 78 tỷ đồng do không ghi nhận nguồn thu từ tiền phạt thanh lý hợp đồng. Tỷ suất lợi nhuận ròng biến động mạnh (từ 53,7% xuống còn 31,5%), nhưng vẫn ở mức cao so với các doanh nghiệp cùng ngành
Theo báo cáo tài chính mới công bố, An Gia có 3 công ty con trực tiếp và 1 công ty con gián tiếp. Doanh nghiệp này ghi nhận nhiều giao dịch tạm ứng mua cổ phần, cho vay, cho mượn... với các bên liên quan như Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐQT và cổ đông lớn.
Thanh khoản bình quân mỗi ngày trên HoSE đạt 3.900 tỷ đồng
- Thanh khoản trên sàn HoSE trong 6 tháng đầu năm giảm hơn 14% về khối lượng và 29% về giá trị so với cùng kỳ.
Sở Giao dịch chứng khoán TP HCM (HoSE) cho biết, tổng giá trị giao dịch toàn thị trường nửa đầu năm nay xấp xỉ 443.420 tỷ đồng. Giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài chiếm hơn 38%, tương ứng khoảng 170.000 tỷ đồng. Nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục mua ròng với 201 triệu chứng khoán, trị giá hơn 10.000 tỷ đồng.
Thanh khoản thị trường sụt giảm hơn 14% về khối lượng và 29% về giá trị so với cùng kỳ. Khối lượng giao dịch bình quân mỗi ngày đạt 172,3 triệu chứng khoán, tương ứng giá trị hơn 3.930 tỷ đồng.
Trong nửa đầu năm, HoSE đón thêm 5 mã cổ phiếu mới với tổng giá trị vốn hoá phiên giao dịch đầu tiên gần 70.000 tỷ đồng. Tính đến cuối quý II, có 377 cổ phiếu niêm yết trên sàn này. Vốn hoá thị trường đạt 3,2 triệu tỷ đồng, tăng hơn 11% và tương ứng 57% GDP năm ngoái.
Vào cuối tháng 6, HoSE cũng khai trương giao dịch sản phẩm mới là chứng quyền có bảo đảm. Trong đợt đầu tiên có 10 mã chứng quyền của 7 tổ chức phát hành được niêm yết và giao dịch, tổng khối lượng đạt gần 22 triệu chứng quyền.
============================================================================================================
-
nhiều việc làm đường bộ nếu ngân hàng phát triển châu á chi 1 tỷ usd
- Headquarters (HQ) 6 ADB Avenue, Mandaluyong City 1550, Metro Manila, Philippines
Tel +63 2 86324444 Fax +63 2 86362444 www.adb.org -
Đề xuất đầu tư 855 triệu USD xây 48 km đường vành đai 3 TP.HCM đạt chuẩn cao tốcHai phân đoạn thuộc tuyến vành đai 3, TP.HCM đoạn Bình Chuẩn – Quốc lộ 22 và đoạn Quốc lộ 22 – Bến Lức dài 48 km sẽ được xây dựng theo tiêu chuẩn cao tốc 4 làn xe.
-
19/12/2019 15:29
Một đoạn Quốc lộ 22 chật chội qua TP.HCM. Ảnh: TTXVNTổng công ty Đầu tư phát triển & quản lý hạ tầng giao thông Cửu Long vừa đề nghị Bộ Giao thông - Vận tải cho phép nghiên cứu phương án đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường vành đai 3, TP.HCM đoạn Bình Chuẩn – Quốc lộ 22 – Bến Lức theo hình thức đầu tư công, bằng nguồn vốn vay của Ngân hàng Phát triển châu Á – ADB, Quỹ Hợp tác phát triển kinh tế Hàn Quốc (EDCF) và vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam.
Theo đó, tổng chiều dài của tuyến đường thuộc Dự án là 48 km, trong đó đoạn Bình Chuẩn – Quốc lộ 22 dài 19,1 km và đoạn Quốc lộ 22 – Bến Lức dài 28,9 km, đi qua địa phận các tỉnh Bình Dương, Long An và TP.HCM.
Dự án sẽ xây dựng theo quy mô cao tốc 4 làn xe, chiều rộng nền đường 24,5 m đối với giai đoạn 1; 6 – 8 làn xe, chiều rộng nền đường 67 – 74,5 m đối với giai đoạn hoàn thiện, đạt tiêu chuẩn đường cao tốc loại A, vận tốc thiết kế 100 km/h.
Tổng công ty Đầu tư phát triển & quản lý hạ tầng giao thông Cửu Long đề xuất chia Dự án làm 2 dự án thành phần, trong đó Dự án thành phần đoạn Bình Chuẩn – Quốc lộ 22 dài 19,1 km có tổng mức đầu tư khoảng 9.955 tỷ đồng, tương đương 428,37 triệu USD, dự kiến huy động 198,14 triệu USD từ EDCF và 230,23 triệu USD vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam. Dự án thành phần 2 đoạn Quốc lộ 22 – Bến Lức dài 28,9 km có tổng mức đầu tư khoảng 9.915,6 tỷ đồng, tương đương 426,66 triệu USD, dự kiến kêu gọi 260,83 triệu USD vốn vay ADB và 65,83 triệu USD vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam.
Trong trường hợp được Bộ Giao thông - Vận tải chấp thuận, Tổng công ty Đầu tư phát triển & quản lý hạ tầng giao thông Cửu Long sẽ trình đề xuất dự án sử dụng vốn vay đối với 2 dự án thành phần để Bộ Giao thông - Vận tải xem xét và trình Bộ Kế hoạch và đầu tư theo quy định.
Được biết, Dự án đầu tư xây dựng đường vành đai 3, TP.HCM đoạn Bình Chuẩn – Quốc lộ 22 – Bến Lức đã từng được nghiên cứu đầu tư theo hình thức PPP nhưng gặp nhiều vướng mắc trong đó có việc qua thăm dò các nhà đầu tư nước ngoài chưa sẵn sàng và quan tâm tới dự án khi cơ chế, chính sách trong nước liên quan đến PPP chưa rõ ràng, nhà nước chưa có hỗ trợ bảo lãnh rủi ro. Trong khi đó, các nhà đầu tư trong nước có năng lực tài chính thấp, khó tiếp cận các nguồn vốn tín dụng để triển khai công trình.
=======================================================================================================
Thứ bảy, 2/11/2019, 09:25 (GMT+7)
BIDV thu về 20.000 tỷ đồng từ bán cổ phần
Vốn điều lệ của BIDV vượt 40.000 tỷ đồng sau thương vụ phát hành riêng lẻ cho KEB Hana Bank (Hàn Quốc), trở thành nhà băng có quy mô vốn cao nhất hệ thống.
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV, mã CK: BID) vừa thông báo kết quả đợt phát hành riêng lẻ hơn 603 triệu cổ phần, tương đương 15% vốn điều lệ ngân hàng sau chào bán.
Trong ngày 31/10, BIDV đã hoàn tất đợt phát hành này cho đối tác Hàn Quốc là KEB Hana Bank, với số tiền thu về hơn 20.200 tỷ đồng. Giá bán mỗi cổ phần trong đợt chào bán là 33.640 đồng, thấp hơn 17% so với thị giá cổ phiếu BID chốt phiên giao dịch cùng ngày trên sàn chứng khoán.
Theo quy định, số cổ phiếu này sẽ bị hạn chế chuyển nhượng trong 5 năm kể từ ngày hoàn tất đợt chào bán. KEB Hana Bank trở thành cổ đông ngoại lớn nhất và là cổ đông lớn thứ hai tại BIDV. Sau giao dịch, sở hữu của cổ đông Nhà nước tại BIDV giảm xuống còn 81%.
Việc hoàn tất đợt phát hành cho KEB Hana Bank được xem là đã giải "cơn khát" vốn cho nhà băng quốc doanh có tổng tài sản lớn nhất sàn chứng khoán. BIDV, ngân hàng có sở hữu Nhà nước cao nhất trong nhóm ba nhà băng quốc doanh niêm yết, đã đề xuất lộ trình tăng vốn liên tục trong nhiều năm gần đây nhưng đều không thể thực hiện. Từ năm 2016, cả BIDV và VietinBank đã mong muốn tăng vốn điều lệ thông qua việc chia cổ tức bằng cổ phiếu, tuy nhiên đề nghị này nhiều lần bị Bộ Tài chính từ chối với lý do ngân sách eo hẹp.
Hoàn tất đợt chào bán cổ phần, vốn điều lệ của BIDV tăng thêm hơn 6.000 tỷ đồng, lên mức 40.220 tỷ đồng, trở thành nhà băng có quy mô vốn cao nhất hệ thống. Vietcombank và VietinBank có quy mô vốn hơn 37.000 tỷ, còn Agribank đến cuối quý II có vốn điều lệ gần 30.500 tỷ đồng.
Ngay trước đợt phát hành, BIDV đã thông qua việc chi gần 4.800 tỷ đồng để trả cổ tức hai năm 2017 và 2018, với tổng tỷ lệ chi trả là 14%. Lũy kế 9 tháng đầu năm, lãi sau thuế của BIDV giảm nhẹ 3% so với cùng kỳ năm trước, đạt hơn 5.645 tỷ đồng. Tính đến 30/9, tổng tài sản của ngân hàng là 1,42 triệu tỷ đồng, tăng gần 9% so với đầu năm.
======================================================================
- Thứ sáu, 27/12/2019, 10:34 (GMT+7)
BIDV đấu giá khoản nợ hơn 500 tỷ đồng
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) vừa thông báo lựa chọn tổ chức đấu giá khoản nợ hơn 502 tỷ đồng của Công ty Nhà Hưng Ngân.
Tài sản đảm bảo cho khoản nợ là hai dự án bất động sản cùng nhiều khu đất của doanh nghiệp này tại TP HCM và Hà Nội.
Cụ thể, các tài sản đảm bảo cho khoản nợ của Công ty Nhà Hưng Ngân gồm: Khu nhà ở cao tầng kết hợp phức hợp thương mại (phường Tân Chánh Hiệp, quận 12) hay còn gọi là chung cư Hưng Ngân Garden. Diện tích đất toàn khu dự án gần 27.560 m2, quy mô 4 block chung cư cao 22 tầng, trường học, khu thương mại dịch vụ.
Tiếp theo là Dự án Khu du lịch Bãi Cửa Cạn (xã Cửa Cạn, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang), diện tích khu đất hơn 204.200 m2 thuộc Khu du lịch Bãi Cửa Cạn tại xã Cửa Cạn, huyện Phú Quốc. Dự án này được cơ cấu sử dụng là khu thương mại dịch vụ phức hợp, khu dịch vụ du lịch, khu khách sạn, khu biệt thự nghỉ dưỡng... Dự án đang trong giai đoạn triển khai công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, thực hiện được phần diện tích là hơn 53.179 m2 (tương đương 26% tổng dự án).
Ngoài ra, tài sản đảm bảo cho khoản nợ của Công ty Nhà Hưng Ngân tại BIDV còn có 3 quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất khác tại TP HCM và Hà Nội.
Chung cư Hưng Ngân Garden. Ảnh: HN
Theo BIDV, giá khởi điểm cho khoản nợ của Công ty Nhà Hưng Ngân được tính bằng nợ gốc cộng với lãi vay tính đến thời điểm ngân hàng thông báo cho công ty dịch vụ đấu giá triển khai giá đầu tiên (hết ngày 31/10/2019) là 502,2 tỷ đồng.
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam cho biết, căn cứ Nghị quyết 42 cũng như Thông tư 09 của Ngân hàng Nhà nước về hoạt động mua bán nợ để trình cấp có thẩm quyền quyết định xử lý khoản nợ theo phương thức bán đấu giá khoản nợ.
Đại diện BIDV cũng cho rằng, nhà băng không bán tài sản của Công ty Nhà Hưng Ngân, trong đó có chung cư Hưng Ngân. Theo đó, ngân hàng không xử lý tài sản bảo đảm khoản nợ của công ty này (là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai) mà chỉ tiến hành các thủ tục để bán đấu giá toàn bộ khoản nợ của công ty này.
Theo quy định, người mua được khoản nợ của Công ty Nhà Hưng Ngân tại BIDV sẽ là chủ nợ mới của khoản vay, kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ của chủ nợ đối với khoản nợ này. Đồng thời, quyền và nghĩa vụ giữa người mua căn hộ và chủ đầu tư trong dự án không thay đổi. Vì vậy, việc BIDV bán đấu giá khoản nợ không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người dân mua nhà trong dự án.
BIDV cũng giải thích thêm, trường hợp đấu giá thành công, chủ nợ mới của khoản vay không phải là chủ sở hữu của tài sản đảm bảo (trong đó có dự án chung cư Hưng Ngân) cũng không phải là chủ đầu tư của dự án này. Vì vậy, việc trở thành chủ nợ mới của Công ty Nhà Hưng Ngân không phát sinh thêm trách nhiệm làm các giấy chứng nhận sở hữu cho các khách hàng đã mua căn hộ tại dự án này.
Công ty Nhà Hưng Ngân là thành viên của Công ty Đầu tư nhà và thương mại Hưng Ngân (Hưng Ngân Group), được thành lập vào năm 2009.
Trao đổi với người đại diện theo pháp luật của Công ty Nhà Hưng Ngân, ông Nguyễn Đắc Điềm xác nhận thông tin đấu giá các khoản nợ của Công ty Hưng Ngân do phía BIDV công bố là khách quan và chính xác. Phía doanh nghiệp không bình luận gì thêm về khoản nợ hơn 500 tỷ đồng này.
- ===============================================================================
-
Thành lập Trường đại học VinUni
27/12/2019 18:00 GMT+7
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt quyết định thành lập Trường đại học VinUni, với quy mô năm đầu tiên dự kiến 300 sinh viên.
VinUni nằm trong khu đô thị Vinhomes Ocean Park, có tổng diện tích 23 hecta - Ảnh: V.N
Với tổng đầu tư 6.500 tỉ đồng từ Vingroup, VinUni là trường đại học tư thục không vì lợi nhuận đầu tiên của Việt Nam được xây dựng theo mô hình đại học tinh hoa.
Tập đoàn Vingroup đã cam kết nâng tổng tài trợ cho VinUni 6.500 tỉ đồng, bao gồm 3.500 tỉ chi đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và 3.000 tỉ dành để cấp học bổng tài năng, hỗ trợ tài chính cho sinh viên cũng như bù lỗ vận hành cho 10 năm đầu tiên.
Giai đoạn đầu, VinUni tập trung vào ba nhóm ngành chính: kinh doanh quản trị, khoa học sức khỏe, kỹ thuật và khoa học máy tính.
Các nhóm ngành trên đều nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai của Việt Nam cũng như xu hướng thế giới, với 8 ngành học cụ thể là: quản trị khách sạn, quản trị kinh doanh, quản trị bất động sản, kỹ thuật điện, kỹ thuật cơ khí, kỹ thuật máy tính, y khoa và điều dưỡng.
VinUni tọa lạc trong khuôn viên khu đô thị Vinhomes OceanPark (Gia Lâm, Hà Nội) với tổng diện tích 23 hecta. Hiện trường đã hoàn tất các hạng mục cơ bản, bao gồm: toà nhà chính, ký túc xá, khu phức hợp thể thao, thư viện, các phòng labs và tòa nhà mô phỏng.
VinUni với những trang thiết bị hiện đại phục vụ cho phương pháp học tập tiên tiến - Ảnh: V.N
Bên cạnh đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, VinUni cũng có chính sách hỗ trợ dành cho sinh viên, với nguồn tài trợ lên đến 3.000 tỉ đồng từ Tập đoàn Vingroup. Cụ thể, trong 5 niên khóa đầu tiên, tất cả sinh viên VinUni sẽ được hỗ trợ 35% chi phí đào tạo, đưa mức chi phí bình quân về khoảng 22.750 USD/năm.
Bên cạnh đó, trường sẽ trao học bổng tài năng, học bổng toàn phần lên đến 100% chi phí và sinh hoạt phí cho các sinh viên tài năng, đồng thời áp dụng chính sách hỗ trợ tài chính linh hoạt cho các sinh viên khác trong suốt quá trình đào tạo.
Tính đến thời điểm hiện tại, VinUni đã nhận được hàng ngàn hồ sơ quan tâm đăng ký xét tuyển. Trường đang khẩn trương chuẩn bị cho niên học đầu tiên, dự kiến sẽ khai giảng vào tháng 9-2020.
Trước đó, tháng 4-2018, dự án Trường đại học VinUni đã ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược với Đại học Cornell và Đại học Pennsylvania (Penn), thuộc nhóm Đại học Ivy League và trong Top 20 đại học tốt nhất toàn cầu.
Hai trường đại học tinh hoa hàng đầu nước Mỹ sẽ hỗ trợ VinUni phát triển mô hình đại học tinh hoa, đồng hành xây dựng từ hệ thống quản trị, phát triển chương trình cho đến tuyển dụng, tuyển sinh và kiểm định chất lượng.
Ngay sau khi ký kết hợp tác, Cornell và Penn đã đồng hành cùng VinUni thu hút được gần 3.000 ứng viên, trong đó có nhiều tài năng từng làm việc, học tập, nghiên cứu tại các trường đại học hàng top trên thế giới cho vị trí giảng viên/nghiên cứu viên.
Đây là cơ sở thuận lợi để trường có một đội ngũ học thuật có tầm nhìn, nhiệt huyết, tài năng và phù hợp với mục tiêu đào tạo của đại học tinh hoa.
Về chương trình học, hiện Cornell và Penn đang xúc tiến xây dựng và đánh giá hiệu quả chương trình để đảm bảo đạt các tiêu chuẩn kiểm định quốc tế. Cơ chế tuyển sinh, đào tạo và đánh giá sinh viên của VinUni tuân thủ theo mô hình đại học tinh hoa trên thế giới, với các chuẩn mực cao của quốc tế.
- Dự án Đại học VinUni dự kiến tuyển sinh năm học 2020-2021 với 3 ngành: kinh doanh quản trị, khoa học sức khỏe, kỹ thuật và khoa học máy tính.
- ===================================================================================
-
Viễn Thông A: Cái tên giờ chỉ còn là dĩ vãng khi về tay Vinpro của tỉ phú Phạm Nhật Vượng
Cả địa chỉ website lẫn thương hiệu Viễn Thông A đã chuyển hoàn toàn về Vinpro - chuỗi bán lẻ của tỉ phú Phạm Nhật Vượng.
- 11-11-2019 Chuỗi bán lẻ cạnh tranh thanh toán thu hộ, khách hàng được lợi
- 07-11-2019 Giá iPhone lock giảm mạnh, chuỗi bán lẻ chuyển kinh doanh hàng quốc tế giá mềm
Viễn Thông A chỉ còn là dĩ vãng từ cuối tháng 11 khi hoàn toàn chuyển về Vinpro. (Ảnh chụp màn hình).
Đến thời điểm hiện tại, toàn bộ hệ thống của Viễn Thông A đã dần chuyển về Vinpro. Truy cập website trong ngày cuối tháng 11, người dùng được thông báo hợp nhất và chuyển về trang web Vinpro ngay sau đó.
Viễn thông A từng là nhà bán lẻ đứng đầu thị trường từ những ngày sơ khai. Hệ thống bán lẻ này nhanh chóng bị rớt hạng trong top 3 sau sự vươn vai mạnh của Thế Giới Di Động và FPT Shop.
Thương vụ Viễn thông A và Vinpro - hệ thống bán lẻ của tỉ phú Phạm Nhật Vượng rộ lên từ đầu năm 2018. Đến tháng 11/2018, Vingroup mới xác nhận hoàn toàn mua lại chuỗi bán lẻ này.
Chuỗi bán lẻ cạnh tranh thanh toán thu hộ, khách hàng được lợi
11/11/2019 10:50
Trong thương vụ vốn im lặng nhưng cũng ồn ào này, tập đoàn Vingroup sẽ nắm 100% tỉ lệ biểu quyết và 64,46% tỷ lệ lợi ích tại Viễn Thông A. Trước khi về tay Vingroup, Viễn Thông A được cho là có cổ đông lớn từ một tập đoàn Nhật để cải thiện qui trình hoạt động.
Chuỗi bán lẻ Vinpro đến nay đã có mặt trên toàn quốc. (Ảnh: Vinpro).
Hệ thống bán lẻ lừng danh một thời cũng được cho là cải tiến rất nhiều khi đưa ra chương trình hỗ trợ giáo dục dành cho sinh viên, đưa ra chuỗi cao cấp phục vụ người dùng Apple.
Thời điểm trước khi về tay Vingroup, Viễn Thông A có tổng giá trị tài sản khoảng hơn 600 tỉ đồng.
Vinpro được mở rộng trong lĩnh vực điện thoại lẫn điện máy, được cho là một đối thủ mạnh của chuỗi Thế Giới Di Động và Điện máy Xanh.
- ======================================================================================================
-
Cảm biên chuyển động HC-SR501
Cảm biến chuyển động HC-SR501 là cảm biến có khả năng nhận biết được một vật di chuyển vào vùng mà cảm biến hoạt động. Module cảm biến có thể điều chỉnh được độ nhạy nhờ 2 biến trở là Sx biến trở điều chỉnh độ nhạy của cảm biến, Tx biến trở điều chỉnh thời gian đóng của cảm biến, giúp cho cảm biến hoạt động phù hợp với những yêu cầu của người dùng.
Thông số kỹ thuật
- Sử dụng điện áp: 4.5V - 20V DC
- Điện áp đầu ra: 0V - 3.3V DC
- Có 2 chế độ hoạt động:
- (L) không lặp lại kích hoạt
- (H) lặp lại kích hoạt
- Thời gian trễ: điều chỉnh trong khoảng 0.5-200S
- Góc quét <100 độ
- Sử dụng cảm biến: 500BP
- Khoảng các phát hiện: 2m -4.5m
- Kích thước PCB:32mm x 24mm

Cách sử dụng cơ bản
- Kết nối với ESP8266

- Code
NOTE: hoặc có thể kết nối pin OUT của sensor với bất kì GPIO nào của ESP8266
- Kết quả
Trên serial monitor sẽ liên tục hiện ra các giá trị 0 và 1. Tương úng với 0 là không có di chuyển trong khu vực quét và 1 là có sự di chuyển.
- ==============================================================================================================
-
Nga trục xuất hai nhà ngoại giao Đức
Bộ Ngoại giao Nga thông báo đã trục xuất hai nhà ngoại giao Đức, động thái ăn miếng trả miếng đối với Berlin.
"Như một biện pháp đáp trả, phía Nga quyết định tuyên bố hai nhân viên của Đại sứ quán Đức tại Nga là những người không được chào đón", Bộ Ngoại giao Nga cho biết trong tuyên bố, thêm rằng họ có 7 ngày để rời khỏi đất nước.
Quyết định được đưa ra sau khi Đức hôm 4/12 trục xuất hai nhà ngoại giao Nga vì cho rằng Moskva có thể đứng sau vụ sát hại cựu chỉ huy phiến quân Chechnya Zelimkhan Khangoshvili tại Berlin và từ chối hợp tác với Đức. Bộ Ngoại giao Nga bác bỏ liên quan đến vụ giết người, gọi động thái của Đức là "không chính đáng và không thân thiện", đồng thời cảnh báo sẽ có biện pháp đáp trả.
Chuyên gia pháp y làm việc tại hiện trường phát hiện thi thể Zelimkhan hồi tháng 8.
Khangoshvili, 40 tuổi, người Gruzia, bị bắn hai phát vào đầu ở cự ly gần trong công viên Kleiner Tiergarten ở Berlin ngày 23/8. Khangoshvili từng thuộc phe ly khai chống Moskva ở khu tự trị Chechnya của Nga. Cảnh sát bắt nghi phạm người Nga Vadim S sau khi nhân chứng cho biết đã nhìn thấy người này ném một chiếc xe đạp và túi chứa súng xuống sông.
Trang web điều tra Bellingcat nói rằng nghi phạm giết người đã sử dụng danh tính giả. Họ nói ông ta thực chất là Vadim Nikolaevich Krasikov, 54 tuổi, lớn lên ở Kazakhstan và sau đó sống ở Siberia. Ông từng bị cáo buộc giết một doanh nhân Nga ở Moskva năm 2013. Nga đã đưa Krasnoyov vào danh sách truy nã của Interpol nhưng sau đó rút tên. Truyền thông Đức nghi ngờ cơ quan tình báo Nga đã tuyển mộ ông ta.
Phát biểu tại Paris khi tới dự hội nghị thượng đỉnh cùng lãnh đạo Đức, Pháp, Ukraine hôm 9/12, Tổng thống Nga Vladimir Putin nói Moskva sẵn lòng giúp Berlin điều tra sự việc. Tổng thống Nga khẳng định vụ sát hại Khangoshvili tại Berlin không gây ra "khủng hoảng" giữa Nga và Đức.
- ==================================================================================================
-
Ngân hàng rao bán công ty vàng giá 87 tỷ
13/12/2019 08:07 GMT+7
Sacombank rao bán lần thứ 9 lô cổ phiếu tại Công ty Cổ phần Thương mại Vàng bạc Đá quý Phương Nam. So với lần đầu, mức giá khởi điểm hiện tại đã giảm hơn 114 tỷ đồng.
Gây thiệt hại hàng trăm tỷ đồng, ông Trầm Bê khai gì?
Ngân hàng rao bán lại khối tài sản của gia đình ông Trầm Bê với giá 132 tỷ
Thê thảm khu vườn nhà Trầm Bê, đại gia mất trắng chục tỷ
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) thông báo về việc chào bán lô cổ phần sở hữu tại Công ty Cổ phần Thương mại Vàng bạc Đá quý Phương Nam (NJC). Đây là lần thứ 9 ngân hàng rao bán lô cổ phần nói trên. Tám lần trước đó, dù đã liên tục giảm giá nhưng vẫn không có nhà đầu tư nào quan tâm.
Trong lần thứ 9 rao bán, Sacombank bán cả lô 17,96 triệu cổ phiếu với giá khởi điểm là 86,7 tỷ đồng. So với giá khởi điểm lần đầu là 201 tỷ đồng, mức giá hiện tại của công ty vàng này đã giảm hơn 56%, tương đương hơn 114 tỷ đồng.
Với mức khởi điểm này, giá tạm tính trên mỗi cổ phiếu Công ty Vàng Phương Nam chỉ là 4.830 đồng, chưa bằng một nửa mệnh giá. Thời gian nhận đăng ký và đặt cọc đấu giá lần này từ 9/12 đến hết ngày 13/12.
Công ty Vàng Phương Nam là công ty con của Ngân hàng Phương Nam trước khi sáp nhập vào Sacombank. Đây đồng thời là một trong những doanh nghiệp lớn do gia đình đại gia Trầm Bê sở hữu. Ông Trầm Bê là cổ đông sáng lập và giữ chức Phó chủ tịch tại công ty.
Công ty Vàng Phương Nam từng là "con cưng" của đại gia Trầm Bê. Ảnh: STB.
Theo báo cáo tài chính của Sacombank, ngoài việc nắm giữ cổ phần tại công ty vàng, ngân hàng còn có khoản phải thu hơn 503 tỷ tại đây và một khoản phải thu đầu tư gần 65 tỷ.
Đây là khoản phải thu liên quan đến hoạt động mua bán vàng giữa Công ty Vàng Phương Nam và Ngân hàng Phương Nam phát sinh trước khi sáp nhập. Tài sản đảm bảo cho khoản phải thu này là lô cổ phiếu có mệnh giá 681 tỷ đồng.
Phía Sacombank cũng cho biết khoản phải thu này cũng đã được đề xuất bán cho VAMC theo đề án tái cơ cấu Ngân hàng Nhà nước phê duyệt. Hiện tại, các thủ tục bán chưa được hoàn tất và ngân hàng đã trích lập dự phòng khoản phải thu này theo năng lực tài chính.
Công ty Vàng Phương Nam có vốn điều lệ 450 tỷ, từng là doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn tại thị trường phía Nam.
Thành lập năm từ 2007, trong giai đoạn đầu 2009-2010, doanh thu mỗi năm của công ty đều đạt trên 7.000 tỷ, lợi nhuận thu về khoảng 30-40 tỷ đồng.
Tuy nhiên, từ năm 2011, hoạt động kinh doanh của Vàng Phương Nam bắt đầu lao dốc và thua lỗ vào năm 2013. Trong lần công bố kết quả kinh doanh mới nhất (2016), công ty này lỗ ròng hơn 3,5 tỷ, năm liền trước cũng lỗ hơn 41 tỷ.
Tại Đại hội cổ đông thường niên 2017, ban lãnh đạo công ty đã trình cổ đông thông qua kế hoạch 2017 với con số lợi nhuận bị bỏ ngỏ vì đã thua lỗ nhiều năm liên tiếp và khó có thể bù đắp hết chi phí cùng lỗ lũy kế.
Đến cuối năm 2016, tổng tài sản của công ty vàng này vào khoảng 1.015 tỷ. Trong đó, nợ phải trả chiếm trên 60% với hơn 616 tỷ đồng, chủ yếu là phải trả người bán ngắn hạn.
Vàng Phương Nam cũng từng chuyển hướng đầu tư sang kinh doanh vàng trang sức, nhưng trước sự mở rộng hoạt động của Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận cùng các đối thủ như Bảo Tín Minh Châu, Phú Quý... công ty này vẫn kinh doanh dưới giá vốn suốt nhiều năm.
- ===========================================================================================================
-
VPBank bán 31 triệu cổ phiếu quĩ chỉ 10.000 đồng/cổ phiếu cho nhân viên
Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) sẽ phát hành 31 triệu cổ phiếu quĩ với giá chỉ 10.000 đồng/cổ phiếu cho nhân viên. Tháng trước, nhà băng này vừa mua vào 50 triệu cổ phiếu quĩ, với giá bình quân 22.194 đồng/cổ phiếu.
- 25-10-2019 VPBank cho thôi việc hàng nghìn lao động, ngay lập tức tăng lương nhân viên hiện tại thêm gần 5 triệu/tháng
- 03-11-2019 Chỉ 10 ngân hàng tốp đầu đã kiếm lời gần 78.400 tỉ đồng
- 05-11-2019 Chỉ có nhân viên của 4 ngân hàng này mới được trả thu nhập trên 30 triệu đồng mỗi tháng
HĐQT VPBank đã thông qua nghị quyết triển khai phương án phát hành cổ phiếu theo hình thức lựa chọn cho các bộ nhân viên VPBank (ESOP) từ nguồn cổ phiếu quĩ.
Hiện tổng số cổ phiếu quĩ VPBank đang nắm hơn 123 triệu cổ phiếu. Lần mua cổ phiếu quĩ gần nhất của ngân hàng này là tháng 10/2019, với 50 triệu cổ phiếu, giá bình quân 22.194 đồng/cổ phiếu.
VPBank bán rẻ cổ phiếu quĩ cho nhân viên, với giá chỉ bằng một nửa giá đang lưu hành. (Ảnh: VPB).
Đợt này, VPBank dự kiến phát hành 31 triệu cổ phiếu quĩ, tương đương 1,288% số cổ phiếu đang lưu hành.
Mức giá phát hành được áp theo Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2019 là 10.000 đồng/cổ phiếu. Tổng giá trị dự kiến phát hành theo mệnh giá là 310 tỉ đồng.
Mức giá phát hành này chưa bằng một nửa so với giá mua vào cổ phiếu quĩ lần gần nhất của VPBank.
Ngoài ra, cũng theo nghị quyết, lượng cổ phiếu này sẽ bị hạn chế chuyển nhượng trong vòng 3 năm, và được giải tỏa dần theo tỉ lệ 30% số cổ phần mua này sẽ được giao dịch sau một năm. 35% tiếp theo được giải tỏa sau 2 năm, và 35% còn lại được giao dịch sau 3 năm.
Thời gian thực hiện dự kiến trong năm 2019, sau khi được Ủy ban Chứng khoán thông qua, và đảm bảo phù hợp theo quy định của pháp luật
VPBank cũng đưa ra phương án nếu cán bộ, nhân viên được lựa chọn không mua hết cổ phần chào bán, thì toàn bộ số cổ phần còn lại sẽ được HĐQT quyết định phân phối cho các nhân viên khác, với giá không thấp hơn 10.000 đồng/cổ phiếu, hoặc quyết định hủy số lượng phát hành dư này, chỉ ghi nhận số lượng đăng kí mua thực tế.
VPBank hiện có 26.733 nhân viên, giảm gần 700 người
Về đối tượng mua cổ phiếu quĩ, VPBank cho biết sẽ lựa chọn cán bộ nhân viên theo tiêu chí, và danh sách này được HĐQT phê duyệt, không bán cho các thành viên HĐQT không điều hành.
Tính đến cuối quý III/2019, tổng số nhân viên VPBank, tính cả ngân hàng mẹ và các công ty con là 26.733 người. Trong khi cuối năm 2018, tổng số nhân viên là 27.429 người, giảm đến 696 người.
VPBank là ngân hàng dẫn đầu về việc cắt giảm nhân sự tại ngân hàng mẹ 9 T/2019. (Đồ hoạ: Quốc Minh).
Tuy nhiên, nếu nhìn vào báo cáo tài chính riêng, ngân hàng mẹ VPBank 9 tháng đầu năm đã cắt giảm mạnh nhân sự. Trong khi đầu năm, ngân hàng mẹ VPBank có 11.466 người, thì đến cuối tháng 9 chỉ còn 9.144 người, cắt giảm đến 2.322 nhân viên. Đây là ngân hàng giảm số lượng nhân viên nhiều nhất 9 tháng qua.
Nhưng nhờ tăng đáng kể nhân viên tại hệ thống FE Credit trong 9 tháng đầu năm, khiến mức chênh lệch số lượng nhân sự đầu và cuối tháng 9 không quá nhiều.
Lần gần nhất VPBank phát hành ESOP là trong năm 2018. Nhà băng đã phát hành gần 33,7 triệu cổ phiếu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu. Đợt phát hành này, Tổng giám đốc VPBank Nguyễn Đức Vinh đã gom hơn 16 triệu cổ phiếu, chiếm hơn 47% khối lượng phát hành.
Chốt phiên giao dịch ngày 12/11, thị giá cổ phiếu VPB của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng ở mức 21.650 đồng/cổ phiếu, giảm 1,1% so với phiên giao dịch hôm qua. Vốn hoá thị trường tương ứng hơn 52.000 tỉ đồng.
- ====================================================================================================
- CHỢ HOA QUẢNG AN SỐ 238 Âu Cơ, Quảng An, Tây Hồ, Hà Nội KINH DOANH HOA ĐÀO GIÁ 500'000 VND/PCS TẾT 2020
-
Giới thiệu về chợ hoa Quảng An
Chợ Hoa Quảng An hay còn được gọi là “Chợ Hoa Quảng Bá” là một trong những chợ đầu mối hoa tươi lớn nhất Miền Bắc. Với lợi thế nằm tại trung tâm thủ đô Hà Nội thuận lợi cho công việc tiêu thụ, chợ là nơi tập hợp của vô vàn những sản phẩm hoa tươi trong nước, cũng như nhập khẩu. Ngoài ra những năm gần đây các mặt hàng như hoa Khô, hoa Lụa, hoa Sáp và các Phụ kiện Vật tư ngành Hoa cũng phát triển mạnh mẽ tại đây nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng sản phẩm trong thị phần hoa trang trí.
Vẻ đẹp lộng lẫy, đầy thu hút của chợ hoa đêm Quảng Bá
Vị trí và lịch sử ra đời của chợ hoa Quảng An
Chợ hoa Quảng An ngày nay nằm tại địa chỉ số 236 cho đến số 238 đường Âu Cơ, phường Quảng An, Tây Hồ, Hà Nội.
Lịch sử chợ hoa Quảng An khi xưa vốn chỉ là một chợ hoa tự phát nằm ở khu vực ngã ba đường Xuân Diệu và Âu Cơ phục vụ nhu cầu tự sản tự tiêu của người dân các làng trồng hoa khu vực Tây Hồ và Từ Liêm như: Nghi Tàm, Ngọc Hà, Tứ Liên, Quảng Bá, Nhật Tân, Phú Thượng, Tây Tựu… Tới năm 1996 khi Quận Tây Hồ được thành lập thì Chợ Hoa Quảng An được di chuyển tới vị trí hiện tại và phát triển mạnh mẽ cho đến bây giờ thấm thoắt đã được hơn 20 năm.
Chợ hoa Quảng An hoạt động vào khung giờ nào?
Chợ hoa Quảng An mở cửa 24/24h hàng ngày, tuy nhiên phải đến khung giờ từ 22h00 cho đến 7h sáng, nơi đây mới thực sự là lúc mà chợ hoa hoạt động sôi động nhất. Các lái buôn, tiểu thương, người mua hoa tươi sỉ lẻ ra vào tấp nập, các chủng loại hoa tươi bày bán rất đa dạng. Ngoài những loại hoa tươi có quanh năm thì còn có những loại hoa theo mùa, hòa cùng với nhau tạo nên khung cảnh nhộn nhịp và gam màu rực rỡ giữa buổi khuya tĩnh lặng.
Nếu là khách du lịch bạn nhưng không thể đến đây vào khung giờ quá muộn đó thì trước những dịp Lễ và gần Tết Nguyên Đán có lẽ là thời điểm lý tưởng để bạn ghé thăm. Bởi vào trước các ngày Lễ và giáp Tết nhu cầu hoa tươi tăng mạnh nên đa phần các sạp bán buôn hoa tươi tại chợ mở bán cả ngày.
Chất lượng hoa tươi tại chợ hoa Quảng Bá như thế nào ?
Chợ hoa Quảng An nổi tiếng là chợ hoa tươi lớn nhất miền Bắc là nơi giao thương của những sản phẩm hoa tươi chất lượng hay còn gọi là (hàng loại một) bởi đa phần khách mua buôn với số lượng lớn đều là người kinh doanh hoa lâu năm có kinh nghiệm nhìn mặt bông thượng thừa. Thêm nữa thị trường và tệp đối tượng khách hàng là người dân Thủ Đô chiếm đến 50% vốn đã rất sành sỏi với thú chơi hoa và cây cảnh. Vì vậy bán hoa kém chất lượng tại chợ hoa Quảng An là điều bất khả thi.
Hoa tươi bày bán ở chợ được mang đến từ các vùng hoa nổi tiếng xung quanh Hà Nội như Phúc Yên, Đông Anh, Tây Tựu, Mê Linh, Gia Lâm … xa hơn nữa là Sapa, Mộc Châu, Sơn La, Thái Nguyên, Hải Phòng … thậm chí với công nghệ vận chuyển hiện đại ngày nay các loại hoa ở vùng trồng hoa nổi tiếng miền nam cũng đã góp mặt tại chợ như Đà Lạt, Sa Đéc … Những năm vừa qua, để phục vụ thị hiếu của khách hàng ngày càng nâng cao các giống hoa ngoại nhập chất lượng cũng được bày bán rất nhiều ở chợ. Được chọn lọc kỹ lưỡng từ các chủ vườn và lái buôn vì thế nếu bạn là người mua buôn hoa với số lượng lớn thì hãy yên tâm về chất lượng hoa tươi tại đây.
Chợ hoa Quảng Bá có nhiều loại hoa đẹp và là nơi chụp ảnh lý tưởng của du khách ghé thăm
Giá hoa tươi ở chợ hoa
Chợ hoa Quảng An là chợ đầu mối bán buôn, bán lẻ hoa tươi lớn nhất Miền Bắc nên giá cả hết sức phải chăng, hợp lý đối với những người mua hoa tươi với số lượng lớn.
Vào dịp ngày lễ, kỷ niệm hoặc giáp Tết, theo xu hướng chung của tiêu dùng, giá cả ở chợ hoa Quảng An cũng có tăng lên theo quy luật cung cầu. Nhưng theo kinh nghiệm của những người sành chơi hoa, chợ Quảng An vẫn có giá bán hoa hợp lý hơn cả.
Điểm dừng chân của khách du lịch hàng đêm.
Chợ hoa Quảng An không chỉ là một thương hiệu nơi bán hoa tươi chất lượng và uy tín, chợ hoa đêm Quảng An còn hấp dẫn nhiều người bởi một vẻ đẹp khác. Đó là hình ảnh của cuộc sống mưu sinh tuy vất vả mà tràn đầy niềm vui, được toát lên từ những gánh hàng rong nhỏ bé cho đến cả các sạp đại lý bán buôn hoa được đầu tư kỹ càng…
Tiểu thương và người mua bán ở chợ hoa Quảng Bá rất trân trọng hoa, hoa luôn được sắp xếp ngay ngắn, không chút xô bồ
Chợ hoa đêm nào cũng vô cùng tấp nập, nhộn nhịp, nhưng không phải ở đâu cũng có được cả nét đẹp thanh lịch, quý phái như chợ hoa Quảng Bá. Tại đây người ta xếp hoa theo hàng, lối ngay ngắn và phân ra theo các chủng loại. Những người mua hoa, chơi hoa hay tham quan du lịch cũng đều rất trân trọng hoa, tuyệt không xô bồ quăng vứt, ngắt lá bẻ cành bao giờ.
Chợ hoa Quảng An không chỉ là nơi danh cho việc mua bán hoa tươi mà còn là một điểm đến của du khách khi đặt chân đến Hà Nội. Được hòa mình vào không khí buôn bán nhộn nhịp tại chợ hoa đêm rực rỡ sắc màu, chụp một vài tấm hình kỷ niệm chắc chắn là một trải nghiệm đáng nhớ khi ghé qua khu chợ này.
- ==========================================================================================================
- tin bảo ở philippin ngày 3-12-2019
- lúc 20h ngày 3-12- 2019 bão ở philippin tọa độ vĩ tuyến 13 độ -kinh tuyến 119 độ
- sức gió 80 km/h- sóng biển cao 6m
- ============================================================================================================
- ngày 2-12-2019 -17h vụ cháy lớn tại kho bánh công ty đại phát đường số 6 khu công nghiệp sóng thần 1 bình dương
- sau vụ cháy toàn bộ bánh và kho xưởng chay tan tành giá trị khoàng 20 tỷ vnd
- ============================================================================================================
-
TP.HCM: Căn nhà chứa vải cháy dữ dội, nhiều người dân ôm đồ đạc tháo chạy thoát thân
19/12/2019 15:04
(Tổ Quốc) - Do căn nhà có nhiều vải nên ngọn lửa nhanh chóng lây lan và bùng lên dữ dội, lúc này nhiều người dân vội vã ôm đồ đạc tháo chạy tán loạn để thoát khỏi biển lửa.
Đầu giờ chiều ngày 19/12, cơ quan chức năng huyện Hóc Môn (TP. HCM) đang khám nghiệm hiện trường vụ cháy kinh hoàng tại căn nhà chứa nhiều vải.
Đám cháy dữ dội khiến khói bốc lên cao cả chục mét.
Khoảng 10h cùng ngày, một căn nhà trên đường số 2, ấp Mỹ Hòa 1, xã Trung Chánh (H.Hóc Môn), đoạn gần đường Đồng Tâm, bất ngờ có khói bốc nghi ngút. Lúc này nhiều người bên trong căn nhà trên hô hoán nhau rồi ôm một số đồ đạc tháo chạy tán loạn.
Theo người dân, khi xảy ra cháy những người bên trong nhà tìm cách dập lửa tại chỗ nhưng bất thành do có nhiều vải nên ngọn lửa nhanh chóng bùng lên.
Nhiều xe cứu hoả được điều đến để dập lửa.
Nhận được tin báo, lực lượng PCCC TP. HCM đã huy động nhiều xe cứu hoả đến hiện trường để dập lửa.
Sau vài phút tích cực phun nước, đám cháy cơ bản được dập tắt. Tuy nhiên do có nhiều vải bị cháy nên ngọn lửa vẫn còn âm ỉ nên lực lượng chức năng tiếp tục phun nước suốt nhiều giờ để tránh bùng phát trở lại.
Cảnh sát PCCC trèo tường để phun nước, khống chế đám cháy.
Cảnh sát PCCC phun nước để dập lửa còn âm ỉ do căn nhà chứa nhiều vải.
Vụ cháy không gây thiệt hại về người nhưng nhiều tài sản bị thiêu rụi. Cả khu vực bị mất điện do ảnh hưởng từ vụ việc này.
Nguyên nhân vụ cháy đang được điều tra.
- ============================================================================================================
- các quốc gia nhập khẩu giá trị h àng hóa cao năm 2015
-
Trong năm 2015, Trung Quốc tiếp tục là thị trường dẫn đầu về cung cấp hàng hóa cho Việt Nam với trị giá nhập khẩu hàng hóa từ thị trường này đạt 49,52 tỷ USD tăng 13.9% so với năm 2014. Các mặt hàng chính nhập khẩu từ Trung Quốc trong năm 2015 là: máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đạt 9,03 tỷ USD, tăng 15% so với năm 2014; điện thoại các loại và linh kiện: 6,9 tỷ USD, tăng 8,7%; vải các loại: 5,22 tỷ USD, tăng 12,1%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: 5,21 tỷ USD, tăng 13,9%...
Năm 2015 hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ Hàn Quốc vào Việt Nam là 27,63 tỷ USD, tăng 27% so với năm trước, cao hơn nhiều so với mức tăng 5,1% của năm 2014. Các mặt hàng chính nhập khẩu từ Hàn Quốc trong năm là: máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện: 6,7 tỷ USD, tăng 33,5% so với năm 2014; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng: 5,11 tỷ USD, tăng 62,6%; điện thoại các loại và linh kiện: 3,02 tỷ USD, tăng 76%; sản phẩm từ chất dẻo: 1,07 tỷ USD, tăng 33,7%; sản phẩm từ sắt thép: 1,03 tỷ USD, tăng 28,8%...
Tiếp theo là các thị trường: Nhật Bản với trị giá đạt 14,37 tỷ USD, tăng 11,15% so với năm 2014, Đài Loan với trị giá gần 11 tỷ USD giảm nhẹ 0,78%, Thái Lan với trị giá là 8,28 tỷ USD tăng 16,79%,…
Ở chiều ngược lại, Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam với 33,48 tỷ USD tăng 16,9% so với năm 2014, và là thị trường mà Việt Nam đạt thặng dư thương mại lớn nhất với 25,68 tỷ USD. Hàng hóa xuất khẩu chủ yếu sang Hoa Kỳ là hàng dệt may với trị giá gần 11 tỷ USD tăng 11,72% và chiếm 32,72% trị giá hàng hóa xuất khẩu sang thị trường này, tiếp theo là giày dép các loại với trị giá trên 4 tỷ USD tăng 22,49%, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 2,83 tỷ USD tăng 33,68% so với năm 2014,…
Xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Trung Quốc và Hàn Quốc lần lượt là 16,6 tỷ, (tăng 11,2%) và 8,93 tỷ (tăng 25.03%) so với năm 2014. Bên cạnh đó xuất khẩu sang Nhật Bản giảm 3,8%, tương đương giảm 556 triệu USD so với năm 2014.
Bảng 2 : Kim ngạch, tốc độ tăng/giảm kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam theo châu lục, thị trường/khối thị trường năm 2015
Thị trường
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Xuất nhập khẩu
Trị giá
(Tỷ USD)So với 2014
(%)Trị giá
(Tỷ USD)So với 2014
(%)Trị giá
(Tỷ USD)So với 2014
(%)Châu Á
79,88
5,4
135,02
11,1
214,90
8,9
- ASEAN
18,16
-3,7
23,83
3,7
41,99
0,4
- Trung Quốc
17,14
14,8
49,53
13,3
66,67
13,7
- Nhật Bản
14,14
-3,8
14,37
11,2
28,51
3,2
- Hàn Quốc
8,93
25,0
27,63
27,0
36,56
26,5
Châu Mỹ
41,51
17,4
13,91
22,6
55,42
18,6
- Hoa Kỳ
33,48
16,9
7,80
23,8
41,28
18,1
Châu Âu
34,25
7,7
12,30
14,4
46,55
9,4
- EU (27)
30,94
10,9
10,45
17,8
41,39
12,5
Châu Phi
3,14
5,9
1,97
16,6
5,11
9,8
Châu Đại Dương
3,33
-22,9
2,45
-4,9
5,79
-16,2
Nguồn: Tổng cục Hải quan
- Một số mặt hàng xuất khẩu chính
Điện thoại các loại & linh kiện: là nhóm hàng dẫn đầu về đóng góp vào tăng kim ngạch xuất khẩu năm 2015 (tăng 6,58 tỷ USD, chiếm 55,3% mức tăng xuất khẩu của cả nước).
Trong tháng 12, xuất khẩu của mặt hàng này 1,73 tỷ USD giảm 38% so với tháng trước, đưa tổng trị giá xuất khẩu trong năm 2015 đạt 30,18 tỷ USD, tăng 27,9% so với năm 2014, tương đương tăng 6,58 tỷ USD.
Những đối tác chính nhập khẩu điện thoại các loại & linh kiện của Việt Nam trong năm qua là EU với 10,11 tỷ USD, tăng 19,7 % và chiếm 33,5% tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước. Tiếp theo là: Tiểu Vương Quốc Ảrập thống nhất: 4,48 tỷ USD, tăng 23,3%; Hoa Kỳ: 2,77 tỷ USD, tăng 78,9%; Đức: 1,77 tỷ USD, tăng 30,4%…so với năm 2014.
Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện: xuất khẩu mặt hàng này trong tháng 12 đạt 1,31 tỷ USD giảm 13,2% so với tháng trước, nâng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong năm 2015 đạt 15,61 tỷ USD, tăng mạnh 36,5% so với năm trước.
EU là đối tác lớn nhất nhập khẩu nhóm hàng này của Việt Nam trong năm qua với 3,2 tỷ USD, tăng 36,8%; tiếp theo là Hoa Kỳ đạt 2,83 tỷ USD, tăng 33,6%; sang Trung Quốc đạt 2,65 tỷ USD, tăng 20,8%; sang Hồng Kồng đạt 1,71 tỷ USD, tăng mạnh 84,2%... so với năm trước.
Máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng: trong tháng 12/2015, xuất khẩu đạt 758,53 triệu USD giảm 3,1% so với tháng trước, đưa tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 12 tháng/2015 lên 8,17 tỷ USD, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm 2014.
Trong năm 2015, xuất khẩu nhóm hàng này sang Hoa Kỳ đạt 1,67 tỷ USD, tăng 30,1%; sang Nhật Bản: 1,41 tỷ USD, giảm nhẹ 1,5%; sang Trung Quốc đạt hơn 721 triệu USD, tăng 23,14% so với cùng kỳ năm trước.
Hàng dệt may: trong tháng 12, xuất khẩu đạt 2,21 tỷ USD, tăng 29,1% so với tháng trước, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của cả nước trong năm 2015 lên 22,81 tỷ USD, tăng 9,1%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 16,4% của năm 2014.
Các thị trường chính nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam năm qua là: Hoa Kỳ đạt 10,96 tỷ USD, tăng 11,7%; sang EU đạt 3,47 tỷ USD, tăng 4,2%; sang Nhật Bản đạt 2,79 tỷ USD, tăng 6,3%; sang Hàn Quốc đạt 2,13 tỷ USD, tăng nhẹ 2% so với năm 2014.
Giày dép các loại: trong tháng 12 đạt 1,21 tỷ USD tăng 9,9% so với tháng trước. Xuất khẩu giày dép các loại của Việt Nam năm 2015 đạt 12,01 tỷ USD, tăng 16,3% so với năm 2014, giảm 6,6 điểm phần trăm so với tốc độ tăng 22,9% của năm 2014.
Xuất khẩu giày dép các loại sang Hoa Kỳ (22,5%) cao hơn nhiều so với sang EU (12,3%) nên kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ năm 2015 đạt 4,077 tỷ USD, chỉ thấp hơn 3 triệu USD so với kim ngạch xuất khẩu sang EU. Tính chung kim ngạch xuất khẩu sang 2 thị trường này là gần 8,16 tỷ USD, chiếm 67,9% tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép của cả nước.
Xơ, sợi dệt các loại: xuất khẩu mặt hàng này của cả nước trong tháng đạt hơn 85 nghìn tấn với trị giá đạt hơn 216 triệu USD, tăng 5,8% về lượng và tăng 5,4% về trị giá so với tháng trước. Tính đến hết tháng 12/2015, lượng xuất khẩu nhóm hàng này đạt gần 962 nghìn tấn, tăng 12,1% và trị giá đạt 2,54 tỷ USD, giảm nhẹ 0,1% so với cùng kỳ năm trước
Trong năm 2015, nhóm hàng xơ sợi dệt các loại xuất khẩu sang Trung Quốc đạt hơn 498 nghìn tấn tăng 26,2%; sang Hàn Quốc đạt 75 nghìn tấn, tăng 11,6%, sang Thổ Nhĩ Kỳ đạt 92,42 nghìn tấn, giảm 15,37% so với cùng kỳ năm 2014.
Túi xách, ví, va li, mũ và ô dù: trong tháng xuất khẩu mặt hàng này đạt 271,7 triệu USD, tăng 23,1% so với tháng trước, nâng tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong năm 2015 lên 2,88 tỷ USD, tăng 13,5% so với cùng kỳ năm trước.
Hoa Kỳ vẫn là đối tác chính nhập khẩu túi xách, ví, vali mũ và ô dù của Việt Nam trong năm 2015 với 1,18 tỷ USD, tăng 14,6% so với năm 2014, tiếp theo là EU với trị giá 759 triệu USD, tăng 12,7%; Nhật Bản là 317,77 triệu USD, tăng 11,9/span>% ..
Gỗ & sản phẩm gỗ: xuất khẩu trong tháng đạt 754,82 triệu USD, tăng 26,2% so với tháng trước, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu trong năm 2015 lên 6,9 tỷ USD, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm 2014.
Tính đến hết tháng 12/2015, nhóm hàng gỗ & sản phẩm gỗ xuất sang Hoa Kỳ đạt 2,64 tỷ USD, tăng 18,12%; sang Nhật Bản đạt hơn 1 tỷ USD tăng 9,52%; sang Trung Quốc đạt gần 978 triệu USD tăng 9,51% so với cùng kỳ năm 2014.
Dầu thô: trong tháng 12 lượng dầu thô xuất khẩu đạt 831 nghìn tấn, đưa lượng dầu thô xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2015 đạt 9,18 triệu tấn, giảm 1,3% nhưng kim ngạch chỉ đạt 3,72 tỷ USD, giảm tới 48,5% so với năm trước.
Dầu thô của Việt Nam trong năm qua chủ yếu được xuất khẩu sang Trung Quốc: 2,16 triệu tấn 36%; sang Singapore: 1,74 triệu tấn, tăng mạnh 176%; sang Ôxtrâylia:1,33 triệu tấn, giảm mạnh 39%; sang Nhật Bản: 1,4 triệu tấn, giảm 25% so với năm 2014…
Gạo: lượng gạo xuất khẩu của cả nước tháng 12 đạt gần 526 nghìn tấn với trị giá đạt 223,36 triệu USD giảm 26,1% về lượng và 26,3% về trị giá. Năm 2015 lượng xuất khẩu gạo là 6,59 triệu tấn, tăng 4% và trị giá đạt 2,8 tỷ USD, giảm 4,5% so với năm trước.
Trong năm qua, Trung Quốc là đối tác lớn nhất nhập khẩu gạo của Việt Nam với 2,1 triệu tấn, tăng 4,8% so với năm 2014. Xuất khẩu sang Philippin là 1,14 triệu tấn, giảm 14,1%; sang Malaixia là 512 nghìn tấn, tăng 8,3%. Riêng xuất sang Inđônêxia cao đạt 673 nghìn tấn, gấp hơn 2 lần so với năm trước.
Cà phê: lượng cà phê xuất khẩu trong tháng 12/2015 là 152,5 nghìn tấn, trị giá đạt 279,2 triệu USD, tăng 6,2% về lượng và tăng 5% về trị giá so với tháng trước. Tính đến hết tháng 12/2015, lượng cà phê xuất khẩu của nước ta đạt 1,34 triệu tấn, trị giá đạt 2,67 tỷ USD, giảm 20,6% về lượng và giảm 24,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2014.
Hàng thủy sản: kim ngạch xuất khẩu trong tháng 12/201 đạt 590,68 triệu USD, giảm 1,7% so với tháng 11/2015. Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam năm 2015 đạt 6,57 tỷ USD, giảm 16%, tương ứng giảm 1,25 tỷ USD so với năm trước.
Xuất khẩu hàng thủy sản trong năm qua giảm mạnh ở hầu hết các thị trường chính, cụ thể: sang Hoa Kỳ đạt 1,31 tỷ USD, giảm 23,4%; sang EU đạt 1,16 tỷ USD, giảm 17,1%; sang Nhật Bản 1,04 tỷ USD, giảm 13,4%; sang Hàn quốc đạt 572 triệu, giảm 12,2%.
- Một số mặt hàng nhập khẩu chính
Máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng: trị giá nhập khẩu nhóm hàng này trong tháng là 2,52 tỷ USD, tăng 14,8% so với tháng trước, nâng trị giá nhập khẩu trong năm 2015 lên 27,59 tỷ USD, tăng mạnh 23,1% so với năm 2014.
Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất cung cấp nhóm hàng này cho Việt Nam năm qua với trị giá là 9,03 tỷ USD, tăng 15,02%; tiếp theo là các thị trường: Hàn Quốc: 5,12 tỷ USD, tăng mạnh 62,6%; Nhật Bản: 4,51 tỷ USD, tăng 19,53%; Đài Loan: 1,46 tỷ USD, tăng 3,1%... so với cùng kỳ năm 2014.
Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện: trong tháng 12 nhập khẩu là 1,76 tỷ USD giảm 13,9% so với tháng trước, đưa kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này trong năm 2015 của cả nước đạt 23,13 tỷ USD, tăng 23,4%; trong đó chiếm 92% kim ngạch nhập khẩu là của khu vực FDI với 21,19 tỷ USD, tăng 24,3%.
Kể từ năm 2013 đến nay, Hàn Quốc chính thức vượt Trung Quốc trở thành đối tác lớn nhất cung cấp nhóm hàng này cho Việt Nam với trị giá nhập khẩu là 6,73 tỷ USD, tăng 33,5%; tiếp theo là các thị trường: Trung Quốc: 5,21 tỷ USD, tăng 13,9%; Nhật Bản: 2,27 tỷ USD, tăng 18,2%; Đài Loan: 2,19 tỷ USD, tăng mạnh 55,2%; Singapo: 1,77 tỷ USD, giảm 26,7%;... so với năm 2014.
Điện thoại các loại và linh kiện: trong tháng 12/2015, nhập khẩu nhóm hàng này đạt 647,5 triệu USD giảm 22% so với tháng trước. Trong năm 2015, cả nước nhập khẩu 10,6 tỷ USD nhóm hàng này, tăng 24,8%; trong đó chiếm 88% kim ngạch nhập khẩu là của khu vực FDI với 9,27 tỷ USD, tăng 28,3%.
Trung Quốc và Hàn Quốc là hai thị trường chính cung cấp điện thoại các loại & linh kiện cho nước ta với trị giá nhập khẩu và tốc độ tăng lần lượt là 6,9 tỷ USD, tăng 9,7% và 3,02 tỷ USD, tăng 76%. Tính chung kim ngạch nhập khẩu từ 2 thị trường này chiếm tới 94% nhập khẩu nhóm hàng này của Việt Nam.
Sắt thép các loại: lượng nhập khẩu trong tháng 12 đạt 1,78 triệu USD với trị giá đạt 667,86 triệu USD, tăng 44,3% về lượng và 29,5% về trị giá so với tháng 11.2015. Tính đến hết tháng 12/2015, lượng sắt thép cả nước nhập về là 15,7 triệu tấn, tăng 33,1% về lượng. Đơn giá nhập khẩu sắt thép các loại bình quân giảm 27,1% nên trị giá nhập khẩu là 7,49 tỷ USD, giảm nhẹ 2,9% so với /span> năm 2014..
Sắt thép các loại nhập khẩu vào Việt Nam trong năm qua từ Trung Quốc là 9,6 triệu tấn, tăng mạnh 54% và chiếm tới 61,3% tổng lượng nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước.
Sản phẩm từ sắt thép: trong tháng 12/2015, cả nước nhập khẩu hơn 277 triệu USD, tăng 2,2% so với tháng trước. Tính đến hết tháng 12/2015, tổng trị giá nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước là 3,81 tỷ USD, tăng 18% so với năm 2014.
Trong năm 2015, Việt Nam nhập khẩu mặt hàng này từ Trung Quốc với trị giá đạt 1,32 tỷ USD, tăng 28,57%; từ Hàn Quốc là hơn 1,02 tỷ USD tăng 28,82% so với cùng kỳ năm trước,…
Xăng dầu các loại:lượng nhập khẩu trong tháng là 1,02 triệu tấn, tăng 6,7%, tuy nhiên do sự sụt giảm về đơn giá nên trị giá nhập khẩu nhóm hàng này là 430 triệu USD, giảm 4,3% so với tháng trước.
Năm 2015, lượng nhập khẩu nhóm hàng này đạt gần 10,1 triệu tấn, tăng 19,3%, nhưng do đơn giá bình quân giảm tới 40,3% nên kim ngạch nhập khẩu chỉ đạt 5,36 tỷ USD, giảm 28,7%.
Xăng dầu các loại nhập khẩu vào Việt Nam trong năm qua chủ yếu có xuất xứ từ: Singapore với 3,84 triệu tấn, tăng 48,2%; Thái Lan: 2,28 triệu tấn, gấp gần 3 lần; Trung Quốc: 1,76 triệu tấn, tăng 4,6%; Đài Loan: 807 nghìn tấn, giảm 35,8%... so với năm 2014.
Biểu đồ 4: Lượng, kim ngạch và đơn giá nhập khẩu xăng dầu các loại giai đoạn 2009-2015
Chất dẻo nguyên liệu: lượng nhập khẩu trong tháng 12/2015 là hơn 370 nghìn tấn, trị giá đạt hơn 521 triệu USD. Tính đến hết năm 2015, tổng lượng nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu của Việt Nam là 3,92 triệu tấn, tăng 13,7%, kim ngạch nhập khẩu là 5,96 tỷ USD, giảm 5,7% so với năm 2014.
Trong nnăm 2015, Việt Nam nhập khẩu mặt hàng này chủ yếu từ các thị trường: Hàn Quốc đạt gần 721 nghìn tấn, tăng 11,77%; Ả rập Xê út đạt 803 nghìn tấn, tăng 6,63%; Đài Loan đạt 579 nghìn tấn tăng 15,27%; Thái Lan đạt hơn 392 nghìn tấn, tăng 25,55%… so với cùng kỳ năm 2014.
Sản phẩm chất dẻo: trong tháng 12/2015 sản phẩm từ chất dẻo nhập khẩu ở mức 336,86 triệu USD tăng 5% so với tháng trước. Nhập khẩu mặt hàng này năm 2015 đạt hơn 3,76 tỷ USD tăng 19% so với năm trước.
Việt Nam nhập khẩu mặt hàng sản phẩm chất dẻo từ Trung Quốc trong năm 2015 là 1,15 tỷ USD, tăng 32,31% so với năm 2014; Hàn Quốc là 1,07 tỷ USD, tăng 33,75%; Nhật Bản là hơn 635 triệu USD tăng nhẹ 1,54%,…
Nhóm hàng nguyên, phụ liệu dệt may, da, giày: trong tháng 12/2015 nhập khẩu đạt gần 1,5 tỷ USD, giảm 2,2% so với tháng trước. Tính đến hết tháng 12/2015, cả nước nhập khẩu 18,3 tỷ USD nhóm hàng này, tăng 7% so với năm trước. Đây là năm có tốc độ tăng gần thấp nhất trong giai đoạn 2011-2015, chỉ cao hơn tốc độ tăng của năm 2012 (là 1,7%); trong khi đó năm 2011 là 14,8%, năm 2013 là 18,8% và năm 2014 là 15,4%
Trong năm qua/span>,, Việt Nam nhập khẩu nhóm mặt hàng này chủ yếu từ Trung Quốc với 7,62 tỷ USD, tăng 12,5%; Hàn Quốc: 2,82 USD, giảm 0,6%; Đài Loan: 2,33 tỷ USD, tăng 3%; Hoa Kỳ: 1,08/span> USD, tăng 40,4%…… so với năm trước.
Thức ăn gia súc và nguyên liệu: trong tháng 12/2015, kim ngạch nhập khẩu đạt 337 triệu USD, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này trong năm đạt 3,39 tỷ USD, tăng 4,2% so với năm 2014.
Tính đến hết tháng 12/2015, nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu từ Ác-hen-tina đạt 1,44 tỷ USD, tăng 8,56%; từ Hoa Kỳ là gần 429 triệu USD, tăng 4,02%; từ Braxin là hơn 306 triệu USD, tăng 43,28% so với năm 2014.
Ô tô nguyên chiếc: lượng nhập khẩu ô tô nguyên chiếc các loại trong năm đạt mức cao nhất từ trước tới nay với 125,6 nghìn chiếc, tăng 77,1%; trị giá nhập khẩu là 2,99 tỷ USD, tăng 88,8% so với năm trước.
Trong đó, lượng nhập khẩu ô tô từ 9 chỗ ngồi trở xuống đạt 51,46 nghìn chiếc, tăng 63%; ô tô tải đạt gần 49 nghìn chiếc, tăng 79,6%; ô tô loại khác đạt 23,94 nghìn chiếc, tăng 114%; ô tô trên 9 chỗ ngồi đạt 1,25 nghìn chiếc, tăng 34% so với năm 2014.
Đặc biệt, lượng ô tô nguyên chiếc các loại nhập khẩu trong quý IV/2015 đạt gần 42 nghìn chiếc, cao hơn tới 12-16 nghìn chiếc so với quý I, II và III.
Biểu đồ 5: Lượng nhập khẩu ô tô nguyên chiếc các loại theo quý giai đoạn 2012-2015
Trung Quốc là thị trường chính cung cấp ô tô nguyên chiếc cho Việt Nam trong năm với 26,74 nghìn chiếc, tăng mạnh 94,7%; tiếp theo là Hàn Quốc: 26,57 nghìn chiếc, tăng 58,2%; Ấn Độ: 25,15 nghìn chiếc, tăng 89,1%; Thái Lan: 25,14 nghìn chiếc, tăng 74,4% ... so với cùng kỳ năm 2014.
Đặc biệt, nhập khẩu ô tô từ 9 chỗ ngồi trở xuống từ thị trường Ấn Độ đạt hơn 25 nghìn chiếc, chiếm tới 49% tổng lượng ô tô loại này nhập khẩu của cả nước và tăng 89% so với năm 2014.
- =======================================================================================
- 13.2 tấn vàng 9999 là số váng cục hải quan đã thu được của các doanh nghiệp từ đầu năm đến ngày 15-11-2019
-
Tính đến ngày 15/11/2019 Cục Hải quan Bình Dương thu được 13.982 tỷ đồng, đạt 96,69% chỉ tiêu Bộ Tài chính giao (14.460 tỷ đồng), tăng 8,54% so với cùng kỳ năm 2018. Đây là hết quả hết sức khả quan, thể hiện tinh thần nỗ lực, quyết tâm cao của toàn đơn vị.
-
Năm 2019, được đánh giá là năm tiếp tục có nhiều tác động từ việc thực hiện các cam kết Hiệp định tự do thương mại, ảnh hưởng đến công tác thu ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, bằng tinh thần nỗ lưc, quyết tâm cao, Cục Hải quan Bình Dương đã đạt được nhiều kết quả khả quan trên tất cả các mặt trận.
Theo thông tin từ Cục Hải quan Bình Dương, tính đến ngày 15/11/2019 đơn vị đã thu được 13.982 tỷ đồng, đạt 96,69% chỉ tiêu Bộ Tài chính giao (14.460 tỷ đồng), tăng 8,54% so với cùng kỳ năm 2018; đạt 90,79% chỉ tiêu phấn đấu (15.400 tỷ đồng). Kết quả này mang lại từ việc Hải quan Bình Dương đã triển khai đồng bộ các giải pháp từ nuôi dưỡng nguồn thu, làm tốt công tác thu hồi nợ, kiểm soát hải quan, chống buôn lậu, kiểm tra sau thông quan…
Trong những tháng đầu năm, Cục còn làm tốt công tác thu hồi nợ thuế quá hạn thông qua các biện pháp cưỡng chế dừng xuất nhập cảnh; trích tiền từ các tài khoản ngân hàng; thực hiện xóa nợ thuế đối với các trường hợp đủ điều kiện (trong năm đã tiến hành thực hiện xóa nợ 04 Công ty với số nợ được xóa là gần 5 tỷ đồng; thu hồi nợ quá hạn của 01 công ty số tiền trên 1,16 tỷ đồng. Với kết quả này, Cục đã hoàn thành chỉ tiêu theo Quyết định số 812/QĐ-TCHQ ngày 27/3/2019 của Tổng cục Hải quan giao thu hồi là 2.327.518.355 đồng.
Song song với đó, công tác kiểm soát hải quan, chống buôn lậu, gian lận thương mại luôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu được Hải quan Bình Dương quyết liệt thực hiện. Với tình thần, kiên quyết không để hình thành đường dây, ổ nhóm buôn lậu, gian lận thương mại trên địa bàn, để hạn chế dần các sai phạm Cục Hải quan Bình Dương đã tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật, thường xuyên nhắc nhỡ cảnh báo sai phạm đi đôi với hướng dẫn thủ tục hải quan định kỳ.
Công tác xử phạt vi phạm hành chính chủ yếu nhằm nâng cao tính tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng. Trong những tháng đầu năm, Cục đã phát hiện 1.735 trường hợp vi phạm với số tiền xử phạt 22.330.468.680 đồng.
Thực hiện Kế hoạch phê duyệt của Tổng cục Hải quan về công tác kiểm tra sau thông quan, ngay từ đầu năm, đơn vị đã xây dựng kế hoạch thực hiện chi tiết, sát sao chỉ đạo triển khai. Dó đó, công tác kiểm tra sau thông quan tại đơn vị được thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, chủ yếu nhằm đánh giá sự tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp. Kết quả, tính đến ngày 15/11/2019, đơn vị đã thực hiện được 52 vụ, số thuế thu nộp NSNN qua công tác kiểm tra sau thông quan đạt 134,36 tỷ đồng, tăng 209% so với cùng kỳ năm 2018 (43,4 tỷ).
Trong năm, đơn vị đã tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền vận động, hướng dẫn, giải đáp vướng mắc về dịch vụ công trực tuyến cho DN, góp phần đẩy mạnh công tác triển khai thực hiện các dịch vụ công trực tuyến trên địa bàn, giảm thời gian thông quan, tăng cường tính công khai, minh bạch, phòng chống nhũng nhiễu. Tính đến 15/11/2019, đơn vị đã tiếp nhận được 25.328 hồ sơ qua mạng, duy trì là đơn vị thứ 2 trong toàn ngành có số hồ sơ giải quyết qua mạng.
Không chỉ dừng lại ở những kết quả trên, trong những tháng đầu năm, Cục Hải quan Bình Dương đã hoàn thiện và đưa vào sử dụng 02 trụ sở làm việc mới khang trang tại Chi cục Hải quan Khu công nghiệp Mỹ Phước, Đội nghiệp vụ Bàu Bàng; Xây dựng mới và đưa vào sử dụng thêm 01 địa điểm kiểm tra hàng hóa tập trung có trang bị máy soi container di động.
Đặc biệt, Cục đã sửa đổi, ban hành Sổ tay hướng dẫn Thủ tục hải quan cho các doanh nghiệp bằng 5 thứ tiếng Việt, Anh, Hàn, Trung, Nhật; biên soạn và ban hành trên 39 Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ công chức giúp phát hiện và phòng tránh sai sót nghiệp vụ.
Công tác đào tạo, tự đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ tại Hải quan Bình Dương cũng đạt nhiều kết quả tốt; công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giữ gìn kỷ luật kỷ cương, phòng chống tham nhũng gắn với việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII và Chỉ thị 05-CT/TW luôn được Đảng bộ và Ban lãnh đạo Cục được quan tâm triển khai hiệu quả.
- ===========================================================================================================
-
Lương, thưởng Tết Dương lịch 2020, người lao động cần biết
07:00 16/12/2019
Tết Dương lịch, người lao động làm thêm giờ hưởng ít nhất 400% tiền lương, làm thêm vào ban đêm hưởng ít nhất 490% tiền lương.
-
Tết Dương lịch 2020, dù được nghỉ một ngày duy nhất nhưng người lao động (NLĐ) rất quan tâm, nhất là vấn đề tiền lương, thưởng
Được nghỉ làm và hưởng nguyên lương
Theo quy định tại điều 115 Bộ Luật Lao động 2012: NLĐ được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương trong những ngày lễ Tết, trong đó: Tết Dương lịch 1 ngày (ngày 1 tháng 1 dương lịch). Nếu những ngày nghỉ này trùng vào ngày nghỉ hàng tuần thì NLĐ được nghỉ bù vào ngày kế tiếp.
Tuy nhiên, ngày 1-1-2020 sắp tới rơi vào thứ Tư, chính vì vậy, NLĐ sẽ chỉ được nghỉ làm và hưởng nguyên lương 1 ngày duy nhất.
Làm thêm giờ hưởng ít nhất 400% tiền lương
Như đã phân tích, NLĐ được nghỉ làm việc trong ngày Tết Dương lịch. Trường hợp doanh nghiệp sắp xếp, bố trí người lao động đi làm vào ngày này thì sẽ coi là làm thêm giờ.
-
Lúc này, áp dụng khoản 1, điều 97 Bộ Luật Lao động 2012: NLĐ làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc đang làm. Vào ngày nghỉ lễ, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương đối với NLĐ hưởng lương ngày.
Do đó, nếu NLĐ làm thêm giờ trong ngày Tết Dương lịch sẽ được hưởng tối thiểu 400% tiền lương ngày làm việc bình thường.
Làm thêm vào ban đêm hưởng ít nhất 490% tiền lương
Khoản 2, điều 97 Bộ Luật Lao động quy định: NLĐ làm việc vào ban đêm thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc của ngày làm việc bình thường. Trường hợp làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo thời gian làm việc thực tế, tiền lương làm thêm giờ, NLĐ còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày.
Cụ thể, theo Công văn số 4163/LĐTBXH-LĐTL, giả sử đơn giá tiền lương hoặc tiền công của NLĐ hưởng lương tháng vào ngày bình thường là A. Khi đó, tiền lương làm thêm giờ vào ban đêm trong ngày Tết Dương lịch của NLĐ ít nhất sẽ bằng: 300%A + 30%A + 20% x (300%A) = 390%A.
Đối với người hưởng lương ngày thì ngoài tiền lương ít nhất bằng 390%A, NLĐ còn được trả tiền lương ngày Tết theo quy định. Và như vậy, nếu làm thêm vào ban đêm dịp Tết Dương lịch thì tổng tiền lương mà NLĐ nhận được bằng 490% tiền lương của ngày làm việc bình thường.
Có thể không được thưởng Tết
Liên quan đến tiền thưởng, theo Bộ Luật Lao động, cụ thể khoản 1, điều 103: Tiền thưởng là khoản tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho NLĐ căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh hàng năm và mức độ hoàn thành công việc của NLĐ.
Với quy định này có thể thấy, pháp luật không bắt buộc doanh nghiệp phải thưởng Tết Dương lịch cho NLĐ. Doanh nghiệp có thể thưởng hoặc không, trường hợp có thưởng thì mức thưởng cũng sẽ do người sử dụng lao động quyết định.
- mức lương tới thiểu mới năm 2020
-
Tại Công văn số 2781/BHXH-QLT ngày 29/11/2019, Bảo hiểm xã hội TP. Hồ Chí Minh hướng dẫn, kể từ ngày 01/01/2020, các đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn phải rà soát lại mức lương tối thiểu trong thang lương, bảng lương mà đơn vị đã gửi đến cơ quan quản lý Nhà nước về lao động để điều chỉnh lại cho phù hợp theo nguyên tắc không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng.
Trong đó, mức lương tối thiểu vùng là 4,42 triệu đồng/tháng áp dụng với doanh nghiệp tại các quận và các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè; mức 3,92 triệu đồng/tháng áp dụng với các doanh nghiệp tại huyện Cần Giờ.
Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp phải điều chỉnh lại mức tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động làm căn cứ đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN cho từng người lao động theo đúng thang lương, bảng lương đã xây dựng.
- ===============================================================================================================
-
năm năm trước doanh số xuất khẩu than đá cao giờ thì Chi tiền nhập khẩu than cả năm 2019 có thể lên tới 3,7 tỷ USD
Nhập khẩu than đá vào Việt Nam trong 10 tháng đầu năm 2019 tăng rất mạnh 112,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Chi ngoại tệ nhập khẩu than đá của cả nước có thể lên tới 3,7 - 3,8 tỷ USD trong năm 2019.
- ==========================================================================================================
-
9 tháng đầu năm 2019, Tập đoàn Bảo Việt đạt 1.037 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế
16:58 03/12/2019
Tập đoàn Bảo Việt công bố kết quả kinh doanh 9 tháng đầu năm 2019 (sau soát xét), theo đó Bảo Việt và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất đạt 32.568 tỷ đồng, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2018.
-
Đạt 1.037 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế hợp nhất, hoàn thành 84,6% kế hoạch năm
Là doanh nghiệp với quy mô tổng tài sản hàng đầu trên thị trường bảo hiểm, đạt trên 120.000 tỷ đồng, tương đương hơn 5 tỷ USD, Bảo Việt tăng cường đầu tư trở lại nền kinh tế với định hướng đầu tư trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc an toàn và hiệu quả nhằm gia tăng lợi ích của cổ đông, khách hàng cũng như các bên liên quan, nhằm thực hiện sứ mệnh của Bảo Việt trong suốt gần 55 năm thành lập.
Tổng doanh thu hợp nhất tính đến hết Quý III/2019 đạt 32.568 tỷ đồng, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2018; lợi nhuận sau thuế hợp nhất đạt 1.037 tỷ đồng, hoàn thành 84,6% kế hoạch năm. Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 30/9/2019 đạt 121.824 tỷ đồng.
Tổng doanh thu Công ty Mẹ đạt 1.082 tỷ đồng; lợi nhuận sau thuế đạt 809 tỷ đồng, hoàn thành 74,9% kế hoạch năm. Tổng tài sản Công ty Mẹ tại ngày 30/9/2019 đạt 14.783 tỷ đồng; vốn chủ sở hữu đạt 14.237 tỷ đồng.
Bảo hiểm nhân thọ đạt doanh thu 23.090 tỷ đồng
Tổng doanh thu của Bảo Việt Nhân thọ đạt 23.090 tỷ đồng, tăng trưởng 5,3% trong đó tổng doanh thu phí bảo hiểm đạt 18.198 tỷ đồng, tăng trưởng 17,4% so với cùng kỳ năm 2018, tiếp tục giữ vững ngôi vị số 1 thị trường về tổng doanh thu phí bảo hiểm.
Bảo Việt Nhân thọ ra mắt sản phẩm "An Phát Cát Tường" - giải pháp tài chính ưu việt giúp người dân Việt Nam được bảo vệ và đảm bảo về tài chính trước các rủi ro khó lường, trong đó có quyền lợi chi trả cho rủi ro mắc bệnh ung thư từ ngay giai đoạn đầu và đột quỵ, hỗ trợ tài chính để khách hàng an tâm điều trị, đồng thời có giải pháp tích lũy hiệu quả cho các kế hoạch tương lai.
Nhằm mang đến các giá trị gia tăng cho khách hàng, Bảo Việt Nhân thọ liên tục nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông minh vào quá trình quản lý vận hành và phục vụ khách hàng như chatbot tự động phục vụ khách hàng 24/24 giờ; đa dạng hình thức thanh toán; rút ngắn thời gian giải quyết quyền lợi bảo hiểm chỉ còn 15 phút - là thời gian ngắn nhất được công bố trên thị trường cho tới nay, ra mắt ứng dụng MyBVLife, phục vụ khách hàng nhanh chóng và thuận tiện nhất.
Bảo hiểm phi nhân thọ đạt 8.719 tỷ đồng doanh thu
- Tập đoàn Bảo Việt chuẩn bị chi trả cổ tức năm tài chính 2018 với tỷ lệ 10%, tương đương với hơn 700 tỷ đồng, nâng tổng số tiền chi trả cổ tức cho cổ đông BVH từ khi cổ phần hóa (năm 2007) đến nay lên tới hơn 8.000 tỷ đồng bằng tiền mặt. Tính chung từ khi cổ phần hóa đến nay, tổng số tiền thuế và cổ tức Bảo Việt đã nộp vào ngân sách Nhà nước lên đến hơn 20.000 tỷ đồng.
- ============================================================================================
-
Trộm lấy cắp 25.000 lít nước
AustraliaNhóm nghi phạm lái xe bồn, xe bán tải trộm 25.000 lít nước uống tại New South Wales, bang hứng chịu hạn hán và cháy rừng nghiêm trọng.
Cảnh sát Australia mở cuộc điều tra sau khi các nghi phạm lấy cắp số nước uống này tại một cơ sở ở thị trấn Murwillumbah, bang New South Wales.
Chánh thanh tra Luke Arthurs nói hành vi trộm nước này gây "sốc" khi nó xảy ra giữa lúc New South Wales gặp khó khăn vì hạn hán và cháy rừng. Lượng nước bị lấy mất có thể đổ đầy 6-7 xe cứu hỏa, theo cơ quan cứu hỏa nông thôn Australia.
"Loại trộm này không thể chấp nhận được. Cảnh sát sẽ tiếp tục điều tra sự việc và đề nghị những ai có thông tin về bọn trộm liên hệ với cảnh sát", Arthurs nói thêm.
Xe cứu hỏa tham gia chữa cháy tại một đám cháy cách Sydney, bang New South Wales, Australia 50 km, hôm 6/12. Ảnh: Reuters.
Thị trấn Murwillumbah nằm gần một đám cháy rộng 6.500 ha đang hoạt động ở New South Wales.
Các đám cháy ở miền đông Australia đã làm ít nhất 4 người chết, tàn phá một triệu ha đất nông nghiệp và khu vực cây bụi, đồng thời phá hủy hơn 680 ngôi nhà kể từ tháng 11.
Hơn 100 đám cháy bùng phát ở bờ đông làm Sydney, thành phố lớn nhất Australia, bị bao phủ trong màn khói mù tuần này, biến bầu trời ban ngày chuyển sang màu cam, che khuất tầm nhìn và làm gián đoạn giao thông công cộng.
Cảnh sát đang điều tra nguyên nhân gây ra các vụ cháy rừng. Nhân viên cứu hỏa và giới khoa học cho rằng phần lớn các đám cháy do nhiệt độ gia tăng và hạn hán kéo dài ba năm liên tiếp, khiến vùng cây bụi khô cằn, dễ cháy.
-
- =================================================================================================================
- Thứ năm, 12/12/2019, 16:02 (GMT+7)
Cháy tàu sân bay Nga
Đám cháy bốc lên trong khoang tàu sân bay Đô đốc Kuznetsov trong quá trình bảo dưỡng tại cảng Murmansk hôm nay, khiến 5 người bị thương.
"Ngọn lửa bùng lên trong khoang động cơ, tạo ra đám khói đen tràn lên boong tàu. Các biện pháp ngăn cháy lan đang được thực hiện, trước khi lực lượng cứu hỏa của hạm đội phun bọt khống chế ngọn lửa", nguồn tin trong ngành đóng tàu Nga hôm nay tiết lộ.

Hiện trường đám cháy hôm 12/12. Video: Twitter/RussiaActually.
Ngọn lửa bao trùm khu vực rộng 20-120 mét vuông và khiến ít nhất 5 người bị thương. Điều tra sơ bộ cho thấy sự cố có thể bắt nguồn từ sự tắc trách, không tuân thủ quy tắc an toàn của nhân viên kỹ thuật hàn trong quá trình bảo dưỡng.
Đô đốc Kuznetsov là tàu sân bay duy nhất trong biên chế hải quân Nga. Moskva gọi đây là tuần dương hạm hạng nặng mang được máy bay, nhưng nó thường được coi là hàng không mẫu hạm hoàn chỉnh.
Nga triển khai chiến hạm này tới Địa Trung Hải để tham chiến tại Syria đầu năm 2017, nhưng sự cố đứt cáp hãm đà trên tàu khiến không quân hải quân Nga mất một tiêm kích hạng nặng Su-33 và một chiến đấu cơ đa năng MiG-29K. Đô đốc Kuzetsov phải trở về nước và được đưa lên ụ nổi ngay sau đó.
Tàu sân bay Đô đốc Kuznetsov tại cảng Murmansk hồi năm 2018. Ảnh: TASS.
Tuy nhiên, ụ nổi này cũng bị chìm do sự cố về điện hồi năm ngoái, gây hư hại thân tàu và khiến Nga gặp thêm nhiều khó khăn trong quá trình bảo dưỡng tàu Đô đốc Kuznetsov. Những sự cố này khiến tàu sân bay duy nhất của Nga khó có thể quay trở lại hoạt động vào năm 2022 như kế hoạch.
-
================================================================================================================== -
Dấu ấn Lilama!
15:53, 12/12/2019
(CLO) Dự án Nhà máy xi măng Tân Thắng do Tổng Công ty Lắp máy Việt Nam (Lilama) thi công lắp đặt hoàn thành trong thời gian 17 tháng, được các chuyên gia đánh giá về tiến độ đạt được chưa từng có trong lịch sử lắp đặt của ngành xi măng Việt Nam.
Audio Player
00:00
00:00
Use Up/Down Arrow keys to increase or decrease volume.
Báo nói Công luận

Toàn cảnh Nhà máy xi măng Tân Thắng
Thời điểm chúng tôi đến là lúc nhà máy bước vào giai đoạn chuẩn bị chạy thử. Không khí làm việc trên công trường Nhà máy xi măng Tân Thắng hối hả sôi động. Những âm thanh rộn rã trên công trường hòa vào nhau tạo nên bản hòa ca tuyệt vời, âm vang lan tỏa một góc trời miền sơn cước Quỳnh Lưu - Nghệ An.
Dẫn đoàn chúng tôi đi thăm công trường nhà máy, Hoàng Ngọc Bằng – Giám đốc Ban dự án rất tự hào và phấn khởi cho biết; Thời gian này Lilama đang tiến hành bàn giao, đồng thời hỗ trợ chủ đầu tư vận hành chạy thử nhà máy. Dự án Nhà máy Xi măng Tân Thắng có công suất 5.000 tấn clinker/ ngày tương đương 2 - 2,5 triệu tấn xi măng/năm do Tổng thầu xây lắp gồm Liên danh Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - CTCP (Lilama) và Công ty CP đầu tư Xây dựng và Kỹ thuật Vinaconex (Vinaconex E&C) thi công.
Dự án này, Lilama thực hiện gia công chế tạo, lắp đặt kết cấu thép xây dựng và bao che. Gia công chế tạo lắp đặt thiết bị cơ, hệ thống đường ống khí nén, hệ thống đường ống nước. Lắp đặt bảo ôn và cung cấp và lắp đặt vật tư thiết bị điện. Ngoài ra còn thi công lắp đặt hệ thống điện nhà máy. Dự kiến, toàn bộ khối lượng công việc sẽ hoàn thành trong thời gian 21 tháng.

Tổng thời gian thi công đến khi hoàn thành trong vòng 17 tháng. Có thể nói đây là tiến độ ngắn kỷ lục của ngành xi măng Việt Nam tính đến thời điểm hiện tại
Khi bắt tay vào thực hiện, các chuyên gia nhận định, mốc tiến độ hoàn thành lắp đặt và đưa vào vận hành một nhà máy xi măng trong vòng 21 tháng là cực kỳ căng thẳng. Trên thực tế, chưa nhà máy xi măng nào hoàn thành lắp đặt và đưa vào sử dụng trước 24 tháng. Đây sẽ là thử thách lớn đối với năng lực của các nhà thầu lắp đặt trong nước.
Tuy nhiên với bề dầy kinh nghiệm và sự quyết tâm không ngại khó, không ngại khổ, với tiến độ thi công xây lắp theo hợp đồng những người thợ Lilama đã cán đích vượt hơn cả sự mong đợi .Tổng thời gian thi công đến khi hoàn thành trong vòng 17 tháng (từ ngày 21/06/2018 đến ngày 17/11/2019).Tổng khối lượng lắp đặt là 19.964 tấn, tổng khối lượng GCCT là 15.266 tấn.Có thể nói đây là tiến độ ngắn kỷ lục của ngành xi măng Việt Nam tính đến thời điểm hiện tại.
Đưa đoàn chung tôi lên tháp cao của dự án để nhìn thấy toàn bộ nhà máy, nói về quá trình thi công, Bằng không dấu được xúc động nói với chúng tôi; Đến thời điểm này khi công trình hiện hữu sừng sững giữa vùng núi rừng bàng bạc, nhìn lại mới thấy việc thi công dự án này là cả quá trình sáng tạo, vượt khó của những người thợ Lilama. Trong quá trình thi công đã vượt qua được những điều kiện không thuận lợi như: Phải thi công trong hai mùa mưa liên tiếp. Giải phóng mặt bằng khó khăn, chậm so với tiến độ cam kết, hơn nữa có các cơn bão lớn xuất hiện khu vực này gây mưa lớn, dừng thi công.
Mặc dù thời gian không thể thi công do mưa bão là trường hợp bất khả kháng được quy định trong hợp đồng là 29 ngày, nhưng bằng kinh nghiệm, năng lực của mình Liên danh và đơn vị đứng đầu liên danh là Lilama đã có các phương án thi công sáng tạo, rút ngắn được tiến độ, khắc phục được các vướng mắc. Nhưng cũng phải xin nhấn mạnh rằng, mặc dù tiến độ thi công nhanh chạy đua với thời gian, nhưng vấn đề an toàn và chất lượng vẫn phải được đặt lên hàng đầu, Bằng nói.

Công trình Nhà máy xi măng Tân Thắng mang đậm dấu ấn bàn tay và trí tuệ những người thợ Lilama.
Tôi trở lại câu chuyện với Bằng về vấn đề vận hành chạy thử nhà máy, Bằng cho hay, Lilama chỉ có nhiệm vụ gia công chế tạo và lắp đặt, ngoài ra Lilama sẽ hỗ trợ chủ đầu tư trong quá trình chạy thử nhà máy. Để hiểu rõ hơn mời các nhà báo làm việc thêm với chủ đầu tư, tôi nghĩ có nhiều vấn đề chủ đầu tư cần chia sẻ.
Vui vẻ nhận lời, đoàn chúng tôi được anh Nguyễn Văn Vượng – Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Xi măng Tân Thắng tiếp đón rất hồ hởi. Anh Vượng cho biết; Dự án Xi măng Tân Thắng được triển khai xây dựng với tổng mức đầu tư 4.086 tỷ đồng, nhà máy sử dụng thiết bị, dây chuyền sản xuất nhập khẩu từ nhóm nước EU, G7 cùng thiết bị được nội địa hóa tại Việt Nam đạt tỷ lệ 77%.
Phải nói rằng, với công suất nhà máy xi măng tương tự như Tân Thắng, tỷ lệ nội địa hóa khoảng 50% thì tối thiểu tiến độ thi công là 27-33 tháng. Nhưng đối với công trình Nhà máy xi măng Tân Thắng với tiến độ thi công 17 tháng, thậm chí một số hạng mục quan trọng đã hoàn thành sớm hơn tiến độ cam kết.
Công trình này mang đậm dấu ấn bàn tay và trí tuệ những người thợ Lilama, là một mốc son đáng ghi nhận về tiến độ chưa từng có trong lịch sử lắp đặt của ngành xi măng cũng như ngành lắp máy tại Việt Nam. So với tiến độ thi công của các nhà thầu Trung Quốc vốn khó khăn trong công tác kiểm soát chất lượng thi công và công tác gia công chế tạo, mua sắm thiết bị của nhà thầu gần như hoàn thành ngay sau khi ký hợ đồng, bởi phía nhà thầu Trung Quốc chủ động về nguồn nguyên vật liệu GCCT đầu vào và có sẵn một số mặt hàng trong nội địa cũng như nguồn thiết bị nội địa phong phú và hơn nữa họ được chính phủ nước họ bảo hộ.
“Thật bất ngờ cho ngành lắp máy Việt Nam, bởi ngay khi nhận thông tin về việc Liên danh ký kết hợp đồng sẽ hoàn thành trong vòng 17 tháng với khối lượng thi công lắp đặt khổng lồ gần 20.000 tấn với tỷ lệ nội địa hóa phần chế tạo thiết bị lên đến 77% tôi nghĩ không thể thực hiện được thành công”. Anh Vượng xúc động nói
Tiến độ ấn tượng là vậy, nhưng xem ra con đường dẫn đến công trường nhà máy có đoạn đi khó khăn lắm, cả dự án lớn thế mà có một đoạn đường chưa hoàn thành, sau các xe tải trọng lớn vào lấy hàng thì sao anh Vượng?
Dường như đúng vấn đề công ty quan tâm, anh Vượng nói ngay, về tổng thể chính sách thu hút đầu tư của Nghệ An đã hấp dẫn được các nhà đầu tư. Chính quyền tỉnh Nghệ An luôn quan tâm, chỉ đạo, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư thực hiện dự án trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, một số đơn vị triển khai công việc được UBND tỉnh giao như; làm đường giao thông, cấp điện…còn chậm, làm ảnh hưởng đến nhà máy. Không giải quyết được vấn đề này, trong thời gian tới khi nhà máy chính thức đi vào hoạt động sẽ rất khó khăn.
Anh Vượng hóm hỉnh liệt kê tóm gọn trong 3 chữ Đ, đó là “Điện - Đường - Đá”. Đấy các nhà báo xem con đường dẫn vào nhà máy mà đoàn đi qua về cơ bản đã hoàn thành, tuy nhiên chỉ một đoạn khoảng 1km là chưa làm xong còn dang dở, vấn đề này chúng tôi cũng đã làm việc với chính quyền địa phương để tháo gỡ, xem ra trong năm nay chưa xong được. Phần đường đã vậy, phần đá nguyên liệu để sản xuất thì giờ này mỏ đá chưa được cấp giấy phép để khai thác, mặc dù công ty đã hoàn tất thủ tục trình lên Bộ Tài nguyên và Môi trường, dự kiến nếu có nhanh thì cuối tháng 12 này mới có được giấy phép.
Đấy mới là dự kiến nhé, khi có được giấy phép lúc đó tỉnh mới tiến hành giải phóng mặt bằng và bàn giao mỏ cho công ty. Như vậy chậm ngày nào thì công ty tốn kém chi phí ngày ấy. Mặt khác thiệt hại cho ngân sách địa phương.
Về phần điện vừa hôm 8/12, Ban phát triển lưới điện miền Bắc thuộc Công ty lưới điện cao thế miền Bắc đã nghiệm thu đường dây và đóng điện để nhà máy tiến hành chạy thử. “Qua đây chúng tôi mong muốn các cơ quan chức năng, ban ngành từ Trung ương, địa phương tạo điều kiện hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn vướng mắc để nhà máy sớm đi vào sản xuất chính thức” anh Vượng kiến nghị
Chia tay những người thợ Lilama trên công trường nắng gió khắc nghiệt, trong lòng mỗi chúng tôi rất đỗi tự hào vào vui mừng. Một mùa xuân nữa lại về. Nhìn những gương mặt ngời sáng của người thợ hàn, bàn tay khéo léo của người thợ lắp máy Lilama, tôi cảm nhận thấy mùa xuân đang bừng sáng trên gương mặt họ.
Nhà văn nổi tiếng người Trung Quốc Lỗ Tấn từng nói “Trên đường thành công, không có dấu chân của kẻ lười biếng”. Qủa thật đúng như vậy, kỳ tích mà những người thợ Lilama làm được tại dự án Nhà máy xi măng Tân Thắng hôm nay một lần nữa khẳng định Lilama là một nhà thầu EPC có uy tín, là “Cánh chim đầu đàn” của ngành cơ khí Việt Nam.
-
================================================================================================================
-
Tại sao cây mai chết???
Cây sống nhờ đất –ph =7 là đất tốt cây có thể trồng được
Kiểm tra đât:bạn lấy 20 hạt đậu xanh ngâm nước 1 ngày đêm cho hạt nảy mầm sau đó đào 1 rãnh sâu 3 cm rắc các hạt đậu xanh vào rãnh rồi lấp đất lại –tưới nước ph=7 mỗi ngày 1 lần vào 17h
Nếu sau 5 ngày hat đậu xanh lớn khỏe mạnh không tàn úa là đất tốt
-khi trong đất có axit thương là trong phân bón npk sẽ làm cây bị chết rễ và khô cành
- ==========================================================================================================
-
Nhà vườn em Tuấn Phường Đập Đá, Thị xã An Nhơn, Bình Định
thị xã an Nhơn tỉnh Bình Định chuyên cung cấp cây mai tết với giá sỉ trên toàn quốc. Các loại mai dáng long, mai bonsai, mai lùm... với giá từ vài trăm đến vài chục triệu. Kính mời quý khách có nhu cầu kinh doanh mai tết hoặc mua một vài cây chơi tết liên hệ em Tuấn để được tư vấn kĩ hơn. Em Tuấn rất hân hạnh được phục vụ. Cảm ơn
Nhấn để hiện số: 0975045139
cần thanh lý gấp 10 cây mai tứ quý Xã Tân Thới Nhì, Huyện Hóc Môn, Tp Hồ Chí Minhđã trồng 15 năm Ghép mai vàng cực đẹp Bán 6 cây mai tứ quý đã ghép 3 năm tàng 2m giá 2tr Giao hàng toàn quốc
Nhấn để hiện số: 0937985987
Bán cây mai vàng cao 60 cm giá 170’000 vnd
Địa chỉ :79/30 phú thọ hòa –f phú thọ hòa-quận tân phú –tp hồ chí minh
Điện thoại:0937135723
Có ít cây mai vàng cần bán. Giá cả thương lượng. Mai cả vườn. Mai không to lắm
Nhấn để hiện số: 0377429453
Xã Thới Lai, Huyện Bình Đại, Bến Tre
thanh lý lô 20 cây mai mới ghép thành công giống cúc tân châu và cúc thọ hương . Giá thương lựợng ae nào cần lh đến nhà giao luu . K bán lẽ nhe ae
Nhấn để hiện số: 0984009149
Xã Lộc Hòa, Huyện Long Hồ, Vĩnh Long
Giá 400n/pcs
Tú trinh Mình có 100 cây mai vàng đế đẹp còn nguyên chưa uốn Ace ai cần lhệ y như hình cây lớn tàn to đẹp
Nhấn để hiện số: 0903616967
Phường Phước Long B, Quận 9, Tp Hồ Chí Minh
Mua mai giống ở đâu, giá mai giống tại vườn
Mua mai giống tại các vườn ươm, giá tại vườn
- Được chăm sóc, tư vấn
- Không phải lo tới việc đổi trả
Tham khảo giá mai giống năm 2019
- Giống mai vàng: 5-8 cánh cao 20 cm trở lên giá 7.000vnd/cây
- Giống mai Giảo: 7-10 cánh cao 20 cm trở lên giá 10.000vnd/cây
- Giống mai Giảo Thủ Đức: cao 20cm trở lên giá 10.000vnd/cây
- Giống mai vàng khác: cao 25cm trở lên giá 4000-7.000
Mua mai giống trên chợ thương mại điện tử MuaBanNhanh
- Linh hoạt khi mua sắm
- Tiết kiệm thời gian
- Thoải mái so sánh giá cả và chất lượng các sản phẩm
- Được mua sắm an toàn
- Tránh khỏi những phiền phức khó chịu



Nơi bán phôi mai vàng giá rẻ, bán mai giống TPHCM
Mai vàng là đặc trưng của ngày tết Miền Nam, các nhà vườn tại TPHCM chuyên cung cấp mai phục vụ thị trường.
Mai vàng Bình Lợi
Làng mai vàng Bình Lợi là một trong những cơ sở trồng và chăm sóc mai lớn nhất tại Sài Gòn.
Đến tận nơi bạn sẽ thấy những cây mai ở đây được chăm sóc khá kĩ lưỡng từ việc kiểm tra đất, nước, nhiệt độ, ánh sáng cho đến việc tạo hình, cắt tỉa để cho ra một chậu mai đẹp.
Ngoài việc bán mai vàng mỗi năm, ở đây còn cho khách thuê mai về chơi Tết nữa, nếu muốn trưng mai cho mùa xuân này hãy ghé mai vàng Bình Lợi nhé.
Thông tin liên hệ:
- Địa chỉ: C9-345 Đường Vườn Thơm, Xã Bình Lợi, Huyện Bình Chánh, TP.HCM
- Điện thoại: 0989.699.125
Sài Gòn hoa
Thế giới hoa luôn đa dạng và đầy màu sắc, nếu những cây mai được trồng và chăm sóc một cách tự nhiên có vẻ đẹp hoang dã thì những cây bonsai từ mai vàng lại có vẻ đẹp kiêu sa và quý phái.
Sài Gòn hoa không chỉ bán những cây mai lớn, được cắt tỉa gọn gàng mà tại đây người nghệ nhân làm ra những cây mai nhỏ xinh đầy tính nghệ thuật phục vụ cho mỗi dịp Tết đến, xuân về.
Thông tin liên hệ:
-
- https://saigonhoa.com/
- Địa chỉ: 74/2/1D Đường 36, Quận Thủ Đức, TP.HCM
- Điện thoại: (028) 3720 3389
Vườn Mai Tết
Nằm ở khu vực ven thành phố, cơ sở Vườn Mai Tết có nhiều không gian thoáng hơn để những cây mai có điều kiện sinh trưởng và phát triển.
Mai tuy có nguồn gốc từ tự nhiên, chịu được môi trường khắc nghiệt nhưng để chúng ra hoa đúng độ Tết thì cần một quá trình chăm bón khá nghiêm túc. Vườn Mai Tết mỗi năm cho ra mắt hàng trăm mẫu mai vàng khác nhau nhằm đáp ứng mong mỏi của khách thuê, mua.
Giá cả mỗi chậu mai đa dạng từ bình dân đến cao cấp phù hợp cho mỗi đối tượng khách hàng.
Thông tin liên hệ:
- Địa chỉ: Thạnh Lộc, Quận 12, TP.HCM
- Điện thoại: 098 275 08 08
Cây cảnh Hoa Điệp
Là một cơ sở chuyên trồng cây cảnh tại Hóc Môn, Hoa Điệp mỗi năm cho ra thị trường nhiều mẫu cây cảnh đẹp, lạ mắt như tắc kiểng, kim phát tài, đuôi phụng, vạn lộc...
Riêng đối với nguồn mai vàng được nhập từ làng mai giảo Thủ Đức, địa điểm nổi tiếng về mai Tết.
Do vậy các bạn ở khu vực Hóc Môn, Bình Chánh có thể yên tâm lựa chọn mai tại cơ sở cây cảnh Hoa Điệp.
Thông tin liên hệ:
- Địa chỉ: 7/4F Đông Lân, Xã Bà Điểm,
- Huyện Hóc Môn, TP.HCM
- Điện thoại: 0909 139 683
Làng mai Thủ Đức
Nếu như bạn ở khu vực Đông Sài Gòn, Quận 2, 9, Thủ Đức thì chắc hẳn không thể không biết đến làng mai Thủ Đức, nơi nổi tiếng với những cây mai bông lớn, nở đều và đẹp mỗi độ xuân về.
Với kinh nghiệm lâu đời trong nghề chăm sóc mai vàng, dù thời tiết có diễn biến bất thường trong thời gian qua những năm nào làng mai Thủ Đức cũng đem đến cho khách mua, khách thuê những chậu mai tươi nhất, đẹp nhất có thể.
Thông tin liên hệ:
- Địa chỉ: Đường số 2, Khu phố 6, Phường Hiệp Bình Phước, Quận Thủ Đức, TP.HCM
-
TRUYỆN :NƯỚC MẮT LƯNG TRÒNG
lẠI VẪN BÓT CẢNH SÁT CŨ. NGUYỄN ĐẠM ngồi co ro như con chó ốm chờ tới lượt hạch hỏi mình. Nó rút thuốc lá châm hút. Que diêm xòe lửa. Điếu thuốc vừa cháy, Đạm chưa kịp hút hơi đầu thì hai ngón tay chuối mắn đã kẹp giữa điếu thuốc của nó rút khỏi môi nó. Đạm ngạc nhiên ngước mắt nhìn lên. Người cảnh sát nhe hàm răng vàng. Đạm giật mình đánh thót một cái. Không nói không rằng, người cảnh sát dụi đầu điếu thuốc có lửa lên vai áo Đạm. Áo vải mỏng, tuy không cháy nhưng có đốm vàng đủ làm Đạm đau điếng. Người cảnh sát lim dim đôi mắt gật gù rồi bóp nát điếu thuốc ném mạnh vào mặt Đạm. Nó ngồi im chịu nhục, không dám tỏ vẻ gì chống đối. Người cảnh sát vươn tay chộp lấy tay Đạm, xoắn thật mạnh: - Cấm hút thuốc! Đạm nuốt nước bọt. Nước mắt nó ứa ra, chảy xuống má. Người cảnh sát xoắn tay nó thêm cái nữa: - Có tai không? - Dạ có. - Có miệng không? - Dạ có. - Sao không trả lời? Đạm đưa cánh tay quẹt nước mắt: - Dạ, cháu không dám hút thuốc nữa ạ! Người cảnh sát xoắn gỡ tay Đạm cái thứ ba: - Mày giả đò khéo quá ta! Rồi ông ta lững thững bước ra ngoài. Đạm lấm lét nhìn theo mới biết người cảnh sát vừa “át giọng” mình là một anh Chà và lai Việt. Nó mím chặt môi. Đạm suy nghĩ liên miên. Nó chợt nổi da gà. Người nó lạnh và mồ hôi bắt đầu toát ra. Đạm mường tượng bộ mặt lạnh lùng của bố nó đợi nó về ăn cơm trưa. Đã một lần nó bị cảnh sát “tạm giữ hai đêm”. Chuyện giải dị như thế này: Đạm mặc chiếc áo ca rô sặc sỡ, quần cao bồi ống túm hệt một tài tử đợt sống mới trong phim hiện thực. Nó đang nện gót giày trên hè phố, miệng phì phèo thuốc lá thì gặp một cuộc thanh toán giữa hai phe du đãng. Nó ngu dại đứng xem. Tưởng mình là người ngoài cuộc. Khi cảnh sát rú xe tới “hốt”, bọn du đãng bỏ chạy hết. Cảnh sát đã đeo kính đen thành kiến, hễ thấy đứa nào ăn mặc lố lăng, tóc để rậm um tùm, giầy không vớ, quần không dây lưng là liệt ngay vào hàng ngũ du đãng. Đạm bị “xúc” về bót. Nó đã làm hề cho cảnh sát cười ngây ngất. Đạm vẫn nhớ như in cảnh tượng chiều hôm đó. Một người cảnh sát đã lấy kéo cắt một mớ tóc trên đầu nó. Người khác dùng lưỡi dao cạo cạo nhẵn một bên tóc mai. Người khác nữa xé cái túi áo ca rô bảo đem về làm kỷ niệm. Những thâm hiểm nhất là người cảnh sát Chà và lai Việt. Anh này bảo Đạm vén ống quần lên đi tiểu. Ống quần hẹp bó lấy đùi, vén sao nổi. Đạm nhăn nhó cầu xin sự thương hại. Người cảnh sát Chà và lai Việt nhe răng cười. Anh ta nói: “Để tao vén cho”. Rồi cúi xuống nắm lấy gấu quần Đạm, giật mạnh một cái. Đạm ngã ngửa, đầu đụng vô tường. Chơi thế vẫn chưa đủ, anh ta lấy kéo cắt ngược từ gấu quần lên tới lưng rồi chửi thề: “Đ.m., thế này thì đái mới được”! Cảnh sát cười hô hố. Họ thích thú công việc “vờn” du đãng lắm. Du đãng khốn nạn, du đãng cướp giật, đâm chém nhau, đánh lén cả cảnh sát cướp súng. Vậy bắt được du đãng cảnh sát phải “vờn” chúng thật xứng đáng rồi giáo dục chúng đã có trại tế bần. Đạm bị “vờn” chán chê, bị nhốt một đêm. Sáng sau, bố nó phải đến bót cảnh sát lãnh nó về. Bố nó không đánh đập nó song im lặng không thèm hỏi han, nhòm ngó. Sự im lặng ấy, đối với Đạm còn đau đớn hơn cả vị cảnh sát “vờn”. Nó sợ bố, thương bố, đã xé hết những chiếc áo ca rô sặc sỡ, những chiếc quần ống túm nó đã may vì ngỡ ngàng mặc thế hợp với tuổi trẻ. Đạm chí thú tu tỉnh. Cuối năm, nó đậu tú tài. Bố nó thấy nó hối cải, dù nó chẳng có gì hối cải, nhìn ngó nó. Nhưng lại có hôm nay. Vẫn bót cảnh sát cũ. Nó ngồi co ro như con chó ốm. Nó đã từng nếm đòn “vờn” của cảnh sát. Nó đã sợ hãi, cố tránh cảnh sát. Thế mà nó vẫn đụng cảnh sát. Chuyện giản dị như thế này: Đạm tới chợ Cầu Muối thăm một người bạn. Khát nước quá, nó đứng bên đường uống nước dừa. Nó đang uống thì cảnh sát công lộ đến đuổi xe nước dừa đi, lấy cớ chỗ này cấm đậu bất cứ một loại xe nào. Người bán nước dừa là một thanh niên ngoài 20 tuổi. Anh ta năn nỉ người cảnh sát cho anh ta dẹp xong đống vỏ dừa sẽ đi. Người cảnh sát la lối um xùm rằng: Đã đuổi mấy lần mà không chừa. Anh bán nước dừa lầm bầm: “Thì cũng cho kiếm ăn tí chứ’! Người cảnh sát ngỡ anh bán nước dừa chửi thầm mình, nổi giận, đá tung cái xọt đựng vỏ dừa: - A lê, về bót! Anh bán nước dừa cãi: - Tôi làm gì mà phải về bót? - Mày chửi cảnh sát! - Tôi chửi đâu? - A lê, về bót hãy hay! Người cảnh sát vươn tay khóa cổ, anh bán nước dừa kêu cứu ầm ĩ: - Bớ người ta, làm chứng dùm tôi... Chị vợ anh khóc bù lu bù loa. Anh bán nước dừa giãy giụa, cố gỡ cổ khỏi tay người cảnh sát. Người cảnh sát xiết tay chặt hơn và kéo anh bán nước dừa đi. Chị vợ càng khóc thảm thiết. Đám đông đổ xô lại. Nhưng không ai dám nói gì, chỉ xanh mặt nhìn và biểu lộ sự thương hại anh bán nước dừa và lòng căm ghét người cảnh sát bằng những đôi mắt. Nguyễn Đạm đặt vội cái ly xuống mặt bàn xe ba bánh. Nó móc túi lấy 5 đồng nhét vào ly. Rồi toan bỏ đi. Nhưng tiếng khóc của chị vợ anh bán nước dừa làm nó quên chuyện vào bót hôm nào. Máu tuổi trẻ bốc mạnh. Tinh thần hào hiệp thôi thúc nó. Đạm bước xuống đường, chạy nhanh tới gỡ người cảnh sát ra: - Tôi làm chứng giùm anh này, anh ấy đâu có chửi cảnh sát. Đám đông xì xầm bàn tán. Hình ảnh Đạm thu vào mắt họ như hình ảnh một hiệp sĩ. Người cảnh sát buông anh bán nước dừa, cà khịa Đạm: - Anh muốn gì? Đạm lễ phép: - Ông bắt oan ông này. Người cảnh sát sửng cồ: - Ai khiến mày? Đạm nổi giận: - Thời buổi dân chủ, ông không có quyền chạm đến nhân vị của người khác, nghe chưa? Ông lấy quyền gì xiết cổ dân giữa đường? Người cảnh sát vung tay tát Đạm để giảng giải ý nghĩa dân chủ trên xứ sở này. Đạm hưởng trọn cái tát trả thù ấy. Nó nói lớn: - Ông không có quyền. Người cảnh sát nói lớn hơn: - Tao có quyền. Cậy mình là học sinh có bằng Tú Tài I, đã từng được các ông giáo sư Công dân nhồi vào óc nhiều thứ quyền của công dân dưới chế độ dân chủ. Đạm đem “sách vở” ra đấu lý: - Ai cho ông quyền đó? Người cảnh sát vỗ bàn tay vào khẩu súng lục đeo ngang hông: - Cái này! Máu của tuổi trẻ dồn hết về hai bàn tay. Đạm mím môi: - Ông dám cởi quần áo cảnh sát ra không? Người cảnh sát nghiến răng: - Mày thách tao, hả? - Ừ, tôi thách ông đấy! Có ngon bỏ bộ đồ nhà nước ra. Bỏ bộ đồ cảnh sát ra tôi đấm bỏ mẹ ông! Người cảnh sát lại vung tay. Nhưng lần này Đạm thộp được cánh tay của ông ta. Là môn đệ của giáo sư nhu đạo nổi tiếng, Nguyễn Đạm toan dùng một thế nhu đạo quật ngã người cảnh sát cho bõ ghét. Khốn nỗi, nó đã học “công dân giáo dục” nên phân vân trước bộ đồng phục cảnh sát. Nguyễn Đạm nắm chặt cánh tay người cảnh sát. Nó vừa định mở miệng “giáo dục” nhân viên của chánh phủ thì chiếc xe Jeep màu xanh của cảnh sát áp tới. Đám đông tự động giải tán. Hai người mặc thường phục từ trên xe nhảy xuống. Hai người này đều đeo kính đen, đội mũ phớt. Họ giắt súng lục ở sau lưng và cố tình để vạt áo máng vào súng lục cho mọi người biết họ có súng lục. Một người hỏi nhân viên cảnh sát: - Gì thế? Người cảnh sát đáp: - Thưa xếp, du đãng Cầu Muối hành hung cảnh sát. Người đội mũ phớt “chặt” cạnh bàn tay vào cánh tay Đạm: - Du đãng Cầu Muối à? Đạm đau điếng phân trần. - Thưa ông, tôi là học sinh, có thẻ học sinh... Người đội mũ phớt thứ hai bợp gáy Đạm một cái: - Thiếu gì thằng du đãng có thẻ học sinh. Về bót! - Thưa... - Về bót nói chuyện nhiều! Người cảnh sát tiếp dầu vô lửa: - Nó thách cảnh sát đánh nhau với nó. Người đội mũ phớt lên gối vào mông Đạm: - Thế hả? Người cảnh sát gọi anh bán nước dừa: - Cả thằng kia nữa, lại đây! Và trình báo: - Thưa xếp đồng bọn của nó. Anh bán nước dừa méo xệch miệng, run rẩy bước tới: - Thưa... oan... con... bán... nước... dừa... Người đội mũ phớt thứ hai búng mẩu thuốc trúng cổ anh bán nước dừa. - Mày tưởng du đãng làm tổng thống nước Mỹ, hả? Anh bán nước dừa xờ tay lên cổ xít xoa. Trong khi vợ anh ta khóc nức nở. Người đội mũ lôi ra hai cái còng tay. Đã quen nghề, anh ta cột Nguyễn Đạm và anh bán nước dừa không đầy hai phút. Rồi lôi hai tên “du đãng Cầu Muối” lên xe Jeep. Trước khi bánh xe nhúc nhích, người đội mũ phớt mỉm cười, giơ tay chào hứa hẹn người cảnh sát: - Tôi sẽ trình cấp trên, anh đã vì dân thộp cổ bọn du đãng. Yên chí, sẽ chóng lên chức! Người cảnh sát rạng rỡ khuôn mặt. Chiếc xe Jeep rú ga mạnh rồi vọt nhanh. Một trận đấm bụng rất hào hứng xảy ra trên đường về bót. Hai tên “du đãng Cầu Muối” ngồi yên chịu đòn. Trận đòn này làm mất nhuệ khí của Nguyễn Đạm. Nên khi người cảnh sát Chà và lai Việt dí đầu thuốc lá cháy vào vai nó, nó nghiến răng chịu nhục, xưng “cháu” một cách thật tình. Nó không ngán cảnh sát phạt nó nhưng nó ngán bộ mặt lầm lì của bố nó khi hay tin. Nguyễn Đạm hy vọng nó sẽ gặp viên thẩm vấn cũ. Và nó có thể trình thẻ học sinh để chứng minh rằng nó không phải là du đãng Cầu Muối. Người Chà và lại vô. Ông ta đứng trước mặt Nguyễn Đạm một lúc rồi đẩy cửa vào phòng trong. Rồi ra. Và vươn tay xoắn tay Đạm cú thứ tư: - Đến lượt mày, ôn con ạ! Nguyễn Đạm đứng lên. Nó bước được vài bước, người Chà và gọi giật lại: - Ôn con! - Dạ! - Đứng im đừng có quay mặt lại. Người Chà và đạp mạnh vào khuỷu chân Đạm. Nó ngã xấp mặt. - Đứng dậy! Nguyễn Đạm ngoan ngoãn như con chó đang được chủ huấn luyện. Người Chà và nói: - Bận sau nhớ cám ơn nghe, du đãng! - Dạ. - Thôi cút vô đi! Đạm bước gần trước cửa. Nó đứng lại nghe tim đập thình thịch. Rồi nó đẩy cửa vào. Viên thẩm sát là một người đã đứng tuổi. Ông ta làm cảnh sát từ hồi Tây. Qua những giai đoạn ông cò, phú lít, đội xếp. Thời đại gột rửa danh vị của ông tặng ông một danh vị mới: Cảnh sát. Mặc dù đất nước đã có cuộc cách mạng nhân vị nhưng ông ta vẫn chưa hiểu nhân vị là gì. Có lẽ, ông ta chưa được cử đi học tại Vĩnh Long, nơi đào tạo các cán bộ trung kiên của cách mạng nhân vị. Viên thẩm vấn hút thuốc lá, dường như không để ý tới Đạm. Nó cũng không dám nhìn ông ta. Đạm đứng chôn chân, nhìn xuống mũi giày. Viên thẩm vấn hút hết điếu thuốc lá, rút điếu khác. Ông ta cầm hộp quẹt, bất chợt, ông ta xoay đầu, chiếu đôi mắt vào Nguyễn Đạm. Nó vừa len lén ngó ông ta. Bốn con mắt gặp nhau. Nguyễn Đạm muốn té xỉu. Mắt nó hoa lên như mắt nó đã hoa lên từ năm ngoái khi ông này tát nó năm sáu cái và đuổi nó xuống phòng tạm giữ. Viên thẩm vấn ngắm nghía Đạm không chớp mắt. Ông ta rút điếu thuốc khỏi môi, đặt lên thành cái gạt tàn rồi nhếch mép cười. Ông ta vẫy tay: - Đ.m., lại gần đây coi, dân Cầu Muối! Nguyễn Đạm cơ hồ bị thôi miên. Nó nghĩ một đàng mà cứ bước. Viên thẩm vấn đứng dậy: - Dân Cầu Muối ngon hé mày? Đạm ấp úng: - Thưa ông, cháu là học sinh trường Chu văn An. Viên thẩm vấn đập bàn: - Đ.m., không có cãi nghe mày. - Dạ. - Mày toan “hạ” cảnh sát có “chó lửa” hả? - Cháu đâu dám. Viên thẩm vấn hét: - Thằng bán dừa khai rõ quá mà, nó biểu mày là trùm du đãng Cầu Muối. Nguyễn Đạm chết lặng người. Viên thẩm vấn đã rời khỏi bàn giấy. Ông ta nện gót giày, từ từ bước đến gần Đạm. Tiếng gót giày nện muốn vỡ tan đầu Đạm. Viên thẩm vấn đưa tay nâng cầm Đạm. Ông ta gật gù: - Phải không? Đạm lắc đầu: - Thưa không phải ạ! Viên thẩm vấn nhíu lông mày: - Tụi bay, thằng nào đóng cải lương cũng giỏi cả. Đ.m. tao xem mày giỏi tới mức nào, thằng chó đẻ! Ông ta vung tay tát Đạm liên tiếp. Tới khi máu ứa ra hai mép nó, viên thẩm vấn mới dụ nó ngồi xuống ghế và đưa cho nó tờ giấy đánh máy sẵn bảo nó ký vào. Đạm bị đánh đau, song nó còn trí khôn để đọc qua hai tờ giấy đánh máy. Và nó từ chối không ký. Viên thẩm vấn ném cái gạt tàn thuốc trúng ngực nó: - Ký vô, đừng làm mất thì giờ của tao. Thì giờ là vàng bạc nghe, mày! Nguyễn Đạm quệt nước mắt: - Thưa ông cháu là học sinh, cháu đâu phải là du đãng Cầu Muối. Nó móc túi đưa cho ông thẩm vấn viên cái thẻ học sinh. Ông ta cầm lấy, vò nát, vất vào sọt rác: - Tao làm nghề này lâu đời rồi, tao nhớ hết mọi chuyện xảy ra từ hai mươi năm nay. Mày qua mặt tao sao nỗi, thằng chó đẻ? Mày không nhớ tao nhưng tao nhớ mày. Ký vô! - Cháu là học sinh. - Ký vô rồi bố mày mới đến lãnh mày về được. - Cháu đâu phải du đãng. Cháu làm chứng cho anh bán... - Im miệng! - Thưa ông, ông thương cháu, tội nghiệp cháu... - Mầy không chịu ký, hả? - Cháu có tội gì đâu... Viên thẩm vấn vớ cái thước quất vào gáy Đạm: - Mầy có tội, tội dám nói “thời buổi dân chủ” với cảnh sát. Ai dạy mầy thế? Mầy còn thêm tội “làm chứng”. Ai dạy mầy thế? Đ.m., dân chủ cái non c. Mầy muốn dân chủ hả? Viên thẩm vấn dằn giọng: - Dân chủ với dân chủ, đ.m., lộn xộn vừa chứ. Mầy tưởng ông cũng được hưởng dân chủ, hả? Như nhớ một điều căm phẫn không biết trút vào ai, viên thẩm vấn đập bốp tay xuống mặt bàn: - Dân chủ con c. Đ.m., mấy thằng con ông lớn làm du đãng bắt nhầm nó, bợp tai sơ sơ vài cái, bố nó gọi xếp mình lên xài xể. Sếp mình gọi mình xài xể trả thù. Mình lo nồi cơm nhà mình, nghiến răng chịu nhục đâu dám dở dân chủ. Viên thẩm vấn tặng Đạm một cú tát “rờ ve”: - Thế mà mày dám dở dân chủ à? Tội cho mày đó, thằng chó đẻ! Không nện được du đãng con ông cháu cha, thì tụi tao nện du đãng Cầu Muối, mầy biết chưa? Đạm nín thinh. Viên thẩm vấn quát: - Mày câm hả? - Dạ không. - Ký vô đi ôn con! - Thưa ông... - Tao không thương mày đâu. - Cháu ký thì cháu chết mất, cháu... Viên thẩm vấn tặng Đạm cú tát “rờ ve” thứ hai: - Rồi sẽ phải ký, chó đẻ! Viên thẩm vấn đạp Nguyễn Đạm té nhào. Ông ta bước khỏi phòng. Một lát, tên Chà và đẩy cửa bước vào. Nó đã trút bỏ bộ đồ cảnh sát. Nó cởi trần. Ngực đầy lông lá. Người ta hay mướn bọn lai căng làm thợ đánh đấm. Dân lai căng không có ấn tượng gì về tổ quốc và nòi giống. Phần đông, nếu có học là những thằng lưu manh, buôn lậu, lừa gạt, phản bội quê hương cha hoặc mẹ chúng; nếu vô học thì là những thằng ma cô; những chuyên viên đấm đá rất tàn nhẫn, chúng nó không cần tình thương mà chỉ cần tiền. Quê hương cha hoặc mẹ chúng càng tỏ vẻ hất hủi chúng, chúng càng tàn nhẫn. Và càng tàn nhẫn, đôi tay của chúng càng có hiệu quả trong công việc đấm đá. Tên Chà và lại “vờn” Nguyễn Đạm một hồi. Con mồi của nó sau năm phút bị đòn mềm nhũn như con giun quằn quại dưới đất. Thợ đánh người Chà và không tốn một giọt mồ hôi. Nó nhếch mép cười, bỏ con mồi đi ra. Nguyễn Đạm ngất xỉu. Khi nó mở mắt, nó thấy nó được bế lên ghế. Viên thẩm vấn có vẻ hiền lành, xoa tóc nó: - Ký đi con, tao thương mầy lắm, con ạ! Ký đi kẻo thằng lai nó nổi nóng. Nguyễn Đạm gật đầu liền. Viên thẩm vấn đưa bút cho nó. Tay nó run rẩy làm rơi bút. Viên thẩm vấn tử tế nhặt bút giùm nó. Mắt nó hoa lên, chẳng biết ký vào đâu. Viên thẩm vấn cầm tay nó, giúp nó ký. Nguyễn Đạm ngoằn nghòe vài nét. Vài nét chữ khốn nạn đó đã biến nó từ một thanh niên có tâm hồn hào hiệp trở thành tên trùm du đãng khét tiếng ở Cầu Muối. Ký xong cái tên mình, máu trong miệng Nguyễn Đạm đổ xuống nền nhà, kéo chiếc ghế đổ theo.
HÒNG TẠM GIỮ NGĂN ĐÔI BẰNG NHỮNG chắn song sắt to, dài. Một bên đàn bà, con gái, một bên nhốt đàn ông, con trai. Bên nhốt đàn ông gồm đủ thành phần: ăn cắp, thổi xe, nghiện hút, cao bồi, du đãng. Bên nhốt đàn bà chỉ có hai hạng người: mãi dâm và bị nghi là mãi dâm. Danh từ tạm giữ đã ấn định rõ quyền giam người của cảnh sát. Khi thẩm vấn, kẻ có tội được giải ra phòng dự thẩm, kẻ vô tội được trả tự do. Phòng tạm giữ không cho phép giam người quá mười tiếng đồng hồ. Luật dạy thế. Nhưng luật ở cái nước khốn nạn, ngu dốt này co dãn theo ý muốn của từng người, theo cảm hứng của từng người. Nên, nhiều kẻ ký nhận tội vẫn có thể nằm ỳ trong phòng tạm giữ vài tuần. Nó muốn cảnh sát giải nó tới phòng dự thẩm để ông dự thẩm tống nó vào khám chờ ngày ra tòa lãnh án mà cũng chẳng được. Vào khám không khí dễ thở và... tự do gấp ngàn lần ở phòng tạm giữ. Những kẻ vô tội còn thê thảm hơn. Đã bị đối xử tàn nhẫn, cảnh sát dạo vài câu, ai nấy nín thinh, nuốt sự bất công, không dám nghĩ tới chuyệt luật pháp phục hồi danh dự cho mình, pháp luật xoa dịu nỗi đau cho mình. Bởi vậy, không ai dám truy tố những người đã hiếp dâm công lý. Nguyễn Đạm ở phòng tạm giữ đã được mười hai tiếng. Lúc người cảnh sát dẫn nó đi, mở cửa phòng giam, xô nó vào. Nó ngã chúi. Liền mấy trận đòn phủ đầu khiến thân thể nó ê ẩm, trí óc nó rời rã. Nó không ngóc đầu nổi cứ gục xuống mê man. Khi nó mở mắt ra, nó thấy đầu nó gối trên vũng nước, tóc nó sững. Đạm sờ tóc, đưa tay lên mũi ngửi. Mùi nước đái khai nồng. Nó ngồi nhổm dậy, ngạc nhiên lặng người. Mấy chục mạng đang bó gối, không ai nói với ai một lời nào. Trong số những kẻ bị nhốt, Đạm chú ý một đứa nằm riêng một khoảng đất khá rộng, ngáy khò khò. Nó ngủ say sưa, coi nhà tù như cái giường có đệm. Đạm toan đứng lên cởi áo lau tóc thì một bàn tay chụp lấy lưng nó. Đạm hoảng hốt, co rúm thân thể; Giọng nói yếu ớt thì thầm: - Ngồi im cậu, động đậy nó đánh cậu chết! Đạm sẽ quay lưng. Người chụp lưng nó là anh bán nước dừa. Nước mắt anh ta trào ra: - Nó đánh tôi đau quá, tôi nhận đại là du đãng Cầu Muối và báo hại cậu. Tôi hối hận quá cậu ơi! Đạm chưa kịp nói, anh bán nước dừa đã nức nở: - Mới đầu tôi chối, sau thằng Chà và tẩn tôi muốn dập phổi, tôi đành nhận. Vợ tôi chắc chết đói mất, cậu ạ! Nguyễn Đạm đập tay lên vai anh bán nước dừa: - Tôi còn đau hơn anh. Sực nhớ ra lời dọa, Đạm hỏi khẽ: - Ai bảo động đậy thì bị đánh chết? - Thằng Chà và. - Sao thế? - Cậu ngủ mê cậu không biết, chúng nó vừa tranh chỗ nằm đánh nhau chí tử. Hai thằng bị lôi đi rồi. Thằng Chà và ra lệnh cấm động đậy, phải ngồi bó gối cho tới lúc hai tên trùm du đãng trở về. Rồi cậu xem, hai thằng trở về sẽ sống dở chết dở. Nguyễn Đạm trỏ ngón tay về phía góc tường, nơi có thằng dám nằm ngáy khò khò, nháy mắt ngầm ý hỏi anh bán nước dừa. Anh ta ghé sát tai Đạm: - Hưng mặt thẹo đó. Nó mắc đái không thèm đập cửa, vén quần đái đại ra phòng. Cậu bị xô trúng bãi nước đái của nó. Anh bán nứớc dừa vừa nói tới đó thì cửa sắt mở tung, tên Chà và đã đánh Đạm, hai tay nắm gáy hai tên nạn nhân đẩy mạnh. Hai đứa khốn nạn ngã chúi xuống nền gạch như Đạm đã ngã. Tên Chà và dựa lưng vào cánh cửa phòng, rút thuốc châm hút, mùi thơm thuốc lan tỏa khắp phòng làm nhiều đứa nghiền thuốc nuốt nước miếng. Tên Chà và hít chừng vài hơi, ném điếu thuốc tới chỗ Hưng mặt thẹo. Điếu thuốc trúng người Hưng mặt thẹo. Nó quơ tay chụp vội, hút tiếp. Tên Chà và nhe răng cười. Nó móc túi lấy còng sắt chọi trúng đầu Hưng mặt thẹo. Thằng này ngồi dậy, nhăn nhó: - Xếp chơi chi kỳ vậy? Tên Chà và vẫy tay: - Lại đây! - Em bị sốt, chân tê liệt, xếp ơi! Em xin lỗi xếp đã nằm, xếp phạt ngồi bó gối nhưng em bị sốt. - Lết lại đây! - Em xin xếp. - Cầm cái còng lết lại đây! - Em không lết được. - Mày bắt tao phải bước vô trong? - Em đâu dám. Một mặt cứ xin xỏ, một mặt cứ hít thuốc lá Hưng mặt thẹo tỉnh bơ, khiến tên Chà và nổi nóng: - Đ.m, mày khi dễ tao quá hả? Hưng mặt thẹo lại nhăn nhó: - Em sốt, em lạy xếp. Tay nó đã cầm cái còng sắt. Tên Chà và nhổ bãi nước miếng, bước vô. Nó bước vào giữa phòng thì, nhanh như chớp, một tội phạm nhào tới khép cánh cửa lại. Chừng mười thằng trong đám ngồi bó gối vụt đứng dậy vây lấy tên thợ đánh người. Tên Chà và bối rối chưa biết xử sự ra sao. Chiếc còng sắt từ tay Hưng mặt hẹo tống ra. Đường phóng tuyệt tác của một du đãng khét tiếng miệt Khánh Hội văng đúng mũi tên Chà và. Nó té nhào, máu mũi phun có vòi. Hưng mặt thẹo chồm đến: - Tụi bây xích ra, để tao thanh toán thằng Chà và này! Bọn gái giang hồ bên kia song sắt ngó sang khuyến khích Hưng mặt thẹo: - Giết nó đi anh, nó đã hiếp em đấy! Cô ả hứa hẹn: - Lát nữa em tặng anh cái này... Hưng mặt thẹo hất mái tóc, mỉm cười với ả giang hồ. Nó sút tên Chà và một cú vào quai hàm. Cái đầu tên thợ đánh người ngoẹo đi. Hưng mặt thẹo nhảy lên ngực tên Chà và thúc gót chân nó xuống mạng mỡ của tên thợ đánh người. Một lúc, nó say đòn. Kéo áo tên Chà và lôi dậy mà đấm. Nó đấm đến lúc mỏi tay, ngồi thở hổn hển. Những thằng du đãng khác tiếp tay Hưng mặt thẹo trả đòn thù. Bọn du đãng chuyên nghiệp quần tên Chà và nửa tiếng đồng hồ. Thân thể tên thợ đánh người bấy nát. Hưng mặt thẹo tụt quần đái lên mặt tên Chà và. Bọn gái giang hồ cười khúc khích. Một ả vẩy mời kẻ “chiến thắng”. Hưng mặt thẹo khệnh khạng bước lại song sắt, nó luồn đôi tay qua kẽ hở của hai chiếc song sắt, ôm lấy một con điếm. Đôi môi con giang hồ cắn chặt lấy môi thằng du đãng. Chúng yêu cuồng trước bao nhiêu con mắt. Nhưng yêu trộm cảnh sát. Mười phút đồng hồ ái ân thành thật và tha thiết trôi qua, Hưng mặt thẹo rời khỏi song sắt. Nó kéo cái xác mềm nhũn của tên Chà và vào góc phòng. Sau đó nó lại nằm ngủ. Lần này nó ngủ say sưa thật tình. Nguyễn Đạm vừa chứng kiến một pha táo bạo, tàn nhẫn hơn trên màn ảnh. Nó lấy làm lạ, không hiểu Hưng mặt thẹo nghĩ sao mà lại dám đánh tên Chà và, và mấy chục mạng người để yên cho Hưng mặt thẹo đánh. Hậu quả sẽ thế nào? Một tên du đãng trả lời ý nghĩ của Nguyễn Đạm: - Chuyện đâu bỏ đấy nhé! Thằng nào hó hé toi mạng à! Anh bán nước dừa véo Đạm một cái: - Nó chết chưa cậu? - Chết rồi. - Nguy to cậu ạ. Lại ăn đòn cả lũ mất thôi. - Đừng lo. - Không lo sao được. Số tôi xui quá, giá tôi đừng lẩm bẩm, bất quá xe chỉ bị nhốt ở phú de. Tôi sinh sự trước, được cậu làm chứng, vạ lây cho cậu. Bị khép tội du đãng bao giờ mới ra nổi? Lại thằng Chà và bị đánh chết nó sẽ tra tấn, chịu không thấu tôi lại phải nhận tội giết người cho mà coi. Nguyễn Đạm mím môi. Nó đang theo dõi mấy thằng ý chừng là đàn em của Hưng mặt thẹo, bàn tán thì thầm. Bây giờ có lẽ đã sắp tối. Cánh cửa sổ trên trần phòng lộ ra một khung trời vuông xám xịt. Phòng tạm giữ có hai cửa sổ dùng là hai lỗ thở đều ở trên trần. Và cũng bằng song sắt. Một bên có bức tường. Từ chân tường lên cao tới quá tầm tay với, toàn màu rệp. Rệp cắn tội nhân đầy mình. Tội nhân bắt rệp giết đầy tường, thành thử, nửa tường phía dưới quét đầy máu người. Máu thấm vào tường vôi, lớp này chồng lên lớp kia. Rệp càng giết càng nhiều. Rệp là kẻ thù của tù. Tù giết rệp lấy máu mình tô tường. Trên lớp vôi máu ấy, nhiều lời nguyền đã khắc ghi. Có đứa dùng móng tay nhọn cạo hàng chữ “thù này quyết trả”. Có đứa lợi dụng giờ đi tắm, đi ỉa, nhặt mảnh thủy tinh khắc cả một câu dài “Đ.m, đứa nào làm cái phòng này? Ông sẽ giết thằng X khi ra khỏi đây”. Có đứa ghi “Vào đây lần thứ nhất ngày... tháng... năm 19... Ký tên...” Và ngay dưới hàng chữ đó, ghi tiếp: “Vào đây lần thứ hai ngày...tháng... năm 19... Ký tên” Chữ ký giống nhau. Những lời nguyền này chi chít, đọc không xuể. Bọn du đãng coi những lời nguyền trên máu đó là những lời son sắt. Tới sắp tối, sắp đến bữa ăn. Mỗi thằng được vất cho một mẩu bánh mì kẹp trứng vịt trắng chừng năm đồng bạc. Trong mỗi bên phòng có một cái thùng nước nhỏ và một cái ca uống chung. Khi nào được ra ngoài, bọn tội nhân bê cái thùng theo để múc nước vào. Mỗi lần ra, cảnh sát ốp đi. Cả bọn chia làm hai toán: toán đàn ông và toán đàn bà. Tội nhân đã phải nhịn ỉa, đái cả ngày chờ đến tối rời phòng, phòng tạm giữ chừng hai mươi phút làm các việc thở, tắm, ỉa và đái. Lợi dụng lúc đông người, lộn xộn này, nhiều đứa đã chạy trốn. Cảnh sát đuổi bắt. Thằng nào hên nhất thoát thân. Thằng nào xui nhất, ăn đạn trúng cẳng. Những thằng bị tóm lại, chịu đòn Chà và, chết dở sống dở. Cũng có đứa lười biếng không thèm rời phòng. Nó nằm ì, đái ỉa ra đấy trêu tức cảnh sát. Bọn này toàn là dân “chì”. Thành tích sơ sơ là dám dùng dao con chó đâm người không gớm. Và, dưới trướng ít ra có độ hai mươi tên đàn em đứng bến hoặc cai quản một khu vực chuyên cướp giật, bắt địa và thổi xế. Những tên này ở bên ngoài kình địch nhau, tranh nhau ảnh hưởng và đất làm ăn. Vô tình gặp gỡ trong này, chúng nó thanh toán nhau để rửa hận và dành chức vua phòng. Hôm qua, Tám xích lô làm vua. Sáng hôm nay, Hưng mặt thẹo và hai thằng đàn em của nó vô đây, Tám xích lô đã bị truất phế sau mười phút ăn no đòn hội chợ... Tám xích lô xuống chân, nhường ngôi vua cho Hưng mặt thẹo, trùm du đãng miệt Khánh Hội. Những trận thanh toán tại phòng tạm giữ âm thầm nhưng không kém phần tàn bạo, khốc liệt. Bọn du đãng giết nhau bằng lưỡi dao cạo giấu kín ở gấu quần, lưỡi dao cạo nhỏ nhoi này để cắt gân địch thủ. Hoặc chúng nó bóp cổ địch thủ, trợn mắt tới khi tắt thở. Hoặc chúng dựng địch thủ xô đầu vào tường... Giữa cuộc thư hùng, cảnh sát hay tin, lôi cả bọn lên “cảnh cáo” rồi còng tay, xích chân chúng lại. Nếu cảnh sát không biết gì khi xảy ra án mạng, kẻ xấu số coi như thứ đồ bỏ. Người ta lôi nó ra khỏi phòng, cho nó đến nhà xác, thế là xong. Ít khi kiếm ra thủ phạm. Đem một xấp bạc nhử mồi cũng không có đứa nào dám tố cáo kẻ sát nhân. Luật phòng giam vậy đó. Chức vua phòng chẳng ăn cái giải gì ngoài quyền lợi tự do tán tỉnh và ôm ấp bọn gái giang hồ giam bên cạnh. Khi có gái xùy, máu du đãng bốc lên, vua phòng sẽ làm bất cứ một việc gì để lấp đầy hố tự ái và thỏa mãn người đẹp. Bọn gái giang hồ gần thời buổi nhiễu nhương, khó làm ăn; không bị Mỹ say quịt thì bị kiểm tục ruồng bố. Không bị du đãng bắt địa thì bị mụ đầu bốc lột. Mỗi ả phải chọn lựa một thằng du đãng khét tiếng làm nhân tình và nuôi nó. Thằng du đãng có bổn phận dùng sức mạnh và sự liều mạng của nó bảo vệ con giang hồ. Nếu cần, thằng du đãng dùng cả máu mình bảo vệ cơm áo, cây nhân sinh của nó. Sự lựa chọn ở đây bảo đảm nhất. Ả nào đắt khách, sáng nước nhất xí phần ưu tiên. Vua phòng cũng không dại gì bảo trợ cho ả giang hồ hạng bét thứ ba chục bạc rẻ rúng. Ả giang hồ vừa ôm ấp Hưng mặt thẹo là hoa khôi của gian giam đàn bà. Chiếc hôn nóng bỏng, dai dẳng hứa hẹn nhiều say mê khi hai đứa ra ngoài. Không cần nói, chỉ cần mắt nhìn nhau và đôi tay phiêu lưu trên thân thể nhau là mối tình hoang dại đã gắn bó. Bây giờ là phòng giam im lặng. Gian bên này, trống ngực bọn bị nghi oan là du đãng, bọn ăn cắp, mấy ông nghiện hút, đổ bác run cầm cập. Bên kia, bọn mãi dâm, bọn chứa thổ nín khe hết còn léo nhéo kể chuyện tục tỉu nữa. Tất cả đều lo ngại hình phạt sắp xảy ra. Thằng Chà và đã chết hẳn rồi. Trong nỗi sợ có duyên cớ ấy, Hưng mặt thẹo vẫn ngày khò khò. Con bồ của nó đăm đăm nhìn nó. Thốt nhiên, ả đứng lên quét mắt nhìn đủ mặt bên gian của ả nghiến răng ken két: - Phải giả vờ mù và điếc ráo trọi nghe. Đứa nào không biết giả vờ mù và điếc tao bảo nó chọc đui con mắt, thủng lỗ tai nghe chưa? Rồi im lặng. Chỉ còn nghe chung tiếng ngáy của Hưng mặt thẹo. Và, mỗi tội nhân nghe rõ tiếng trái tim mình đập. Anh bán nước dừa ghé sát tai Đạm: - Tính sao cậu? Đạm nhìn anh ta thầm thì: - Tính sao bây giờ? - Nó lôi lên tẩn nhừ tử thì mù thế nào được hả cậu? - Phải giả vờ. - Đau chết người, giả vờ sao được, cậu ơi! Đạm quàng tay lên anh bán nước dừa: - Anh theo đạo gì? - Đạo Phật. - Khấn Phật độ trì anh đi... - Tôi không đi chùa đâu biết khấn vái ra sao? Đạm nhăn nhó: - Thì khấn ông bà anh đi... - Khấn làm gì? - Cứ khấn đi, còn biết làm gì nữa. Anh bán nước dừa lâm râm khấn vái cha mẹ, ông bà phù hộ anh khỏi ăn đòn tra khảo. Đạm ngồi bó gối tưởng tượng sự việc sắp xảy ra. Nó nhớ tới những bài báo của ông luật sư, các ông thẩm phán về sự quan trọng của đôi mắt nhân chứng. Nó muốn chửi cha những tác giả bài báo đó. Đạm vừa sáng mắt. Thực sự nó thấy nó hơi lớn vì nó đã nhìn rõ cuộc đời. Luật lệ của các ông chánh án, các ông luật sư chỉ là những thứ phù phiếm, những chậu hoa làm cảnh cho các ông ấy và làm cảnh cho nhà nước. Những người làm luật chỉ là những người mơ mộng, những người trùm chăn, những người chỉ biết phòng giam là nơi dùng để giam người. Và mù tịt mọi chi tiết, mọi luật lệ của kẻ canh phòng giam và kẻ mạnh nhất trong phòng giam. Đạm muốn uống một liều thuốc tẩy cho tiêu hết những bài công dân giáo dục mà nhà trường đã dạy nó. Nó muốn thoát khỏi đây, có thật nhiều quyền hành phá phách tòa án, đổi hết sách luật. Nó muốn... Tiếng chìa lách cách ở ổ khóa khiến Đạm rợn người. Chưa có thứ tiếng nào rợn người hơn tiếng chìa khóa tra vào ổ của phòng sắp có kẻ tử tội. Mấy chục mạng người không bảo nhau, mắt cùng mở thao láo. Những ông nghiện thuốc phiện, rãi rớt xuống mép cũng cố gắng thẳng cổ lên. Chỉ có Hưng mặt thẹo vẫn nằm ngáy. Cửa phòng đã mở. Gã Chà và khác xuất hiện. Nó hất hàm: - Sao có chìa khóa gài ở cửa? Không đứa nào trả lời. Gã Chà và chửi thề: - Đ.M, tụi mày câm hả? Vẫn không đứa nào trả lời. Gã Chà và đã bốp một cú lão nghiện: - Mày cũng câm à? Lão nghiện xít xoa: - Tôi ngủ gà ngủ gật, đói thuốc muốn chết đâu có biết gì thầy? Gã Chà và lại đạp lão cái nữa: - Chết cha mày đi. Bỗng nó hỏi: - Hai thằng nào nằm kia? Một đứa đàn em của Hưng mặt thẹo nhanh miệng: - Hưng mặt thẹo đó thầy ơi, nó bị sốt từ hồi trưa. Hưng mặt thẹo cựa quậy, rồi nó ngồi nhổm dậy xoa tóc rối bù: - Gì vậy tụi bây? Đàn em nó đáp: - Có thầy hai đến cho ra ngoài. Gã Chà và đã lùi về phía cửa, quát: - Còn thằng nào nằm kia? Hưng mặt thẹo ngơ ngác: - Thằng nào hả, xếp? - Thằng nào co quắp như mả cha mày đó? Hưng mặt thẹo lắc đầu: - Con không biết xếp ơi! Gã Chà và la lối om xòm. Nhưng thằng nằm co quắp quay mặt vào tường không thèm nhúc nhích. Vì nó là thằng... Chà và bị Hưng mặt thẹo thanh toán rửa hận “thẩm vấn”. Gã Chà và sống móc túi lấy ra cái còng ném thật mạnh vào người gã Chà và chết, y hệt gã Chà và chết đã ném cái còng vào người Hưng mặt thẹo. Thấy con mồi bất động, gã Chà và nhỗ bãi nước miếng: - Đ.m, ông phải xẻo tai mày đa... Hưng mặt thẹo phá ra cười. Gã Chà và quét tia mắt quanh phòng: - Mày cười gì đó, chó để? Hưng mặt thẹo coa cằm: - Con hổng biết xếp ơi! Gã Chà và bảo nó: - Lôi cổ cái mả cha mày ra đây cho tao. Hưng mặt thẹo đứng dậy liền. Nó túm cổ cái xác chết lôi ra cửa. Gã Chà và đạp cái xác chết: - Mày chết rồi à? Bỗng nó tái mặt đi: - Ganesh Sang! Nó lùi dần rồi thoát ra cửa. Gã Chà và biến mất, quên cả đóng cửa. Hưng mặt thẹo phá ra cười. Nó bước tới chỗ anh bán nước dừa lôi anh ta đứng lên, tát lia lịa vào má anh. - Mày giết con nhà Ganesh Sang hả? Anh bán nước dừa chối lia lịa: - Đâu phải em, đại ca... - Chính mày đánh nó, tụi tao thấy rõ mà. Hai thằng đàn em của Hưng mặt thẹo làm chứng: - Không mày thì ai, tao thấy rõ hết. - Tao cũng vậy. Nguyễn Đạm toan đứng dậy. Hưng mặt thẹo nhìn nó cười gằn: - Tao muốn một thằng giết tên chó đẻ Ganeh Sang thôi. Mày hiểu chưa? Đạm gật đầu: - Dạ, hiểu. Hưng mặt thẹo cảnh cáo Đạm: - Coi chừng tao cắt lưỡi mày. - Dạ. Nó ra lệnh: - Ào ra tắm đi! Nó dẫn đầu cả phòng ùa ra theo nó. Đạm và anh bán nước dừa đi sau cùng. Anh bán nước dừa níu áo Đạm: - Nguy to rồi cậu ơi! Đạm an ủi: - Đừng sợ cuống lên thế, tướng anh đâu phải tướng giết người. Anh bán nước dừa vẫn níu áo Đạm: - Chúng nó cứ đổ riết cho tôi thì sao? Đạm gỡ tay anh ra khỏi áo mình: - Án mạng lớn chuyện lắm, người ta sẽ điều tra. Cảnh sát tư pháp khôn khéo chứ đâu ngu xuẩn như bọn Chà. - Nó lại tẩn mình. - Thì nghiến răng mà chịu. - Chịu hết nổi phải khai. - Ráng nghĩ đến vợ con mà chứ biết tính sao bây giờ. Anh có mấy đứa con? - Hai đứa. Chắc tôi khai mất cậu ơi. Tôi khai để đi tù may còn sống về nuôi con. Chứ nó đánh đau thế, chịu đòn cũng thối phổi. Đạm chép miệng: - Vậy hãy oán cha mẹ anh đi, ai bảo cha mẹ anh không mua cho anh cái nhà ở phố Catinat! Anh bán nước dừa không hiểu Đạm nói gì. Bọn phạm nhân đã kéo ra sân. Lúc này cảnh sát kịp tới canh chừng chúng. Như thường lệ, bọn phạm nhân đứa đi đái, đứa đi ỉa, đứa uống nước rồi chờ phiên nhau tắm gội. Đến lượt Đạm, nó vừa xối nước vào đầu thì có tiếng hô: - Đứng lại! Và những bước chân đuổi lộp cộp trên sân lát đá. Ý chừng có đứa trốn. Tiếng hô thứ ba: - Đứng lại Rồi ba phát súng nổ liên tiếp. Tiếng bước chân đuổi im bặt. Hưng mặt thẹo bô bô cái miệng: - Nó giết xếp Ganesh Sang nó sợ lên máy chém, nó chẩu anh em ơi! Thiên bất dung nhân, nó bị cảnh sát bắt gục rồi. Đạm khẽ thốt: - Chết cha! Nó nghiến răng: - Con nhà Hưng mặt thẹo nham hiểm thật. Có tiếng cảnh sát thúc dục. Đạm vội vàng vò đầu, vuốt qua mình mẩy rồi mặc quần áo. Cảnh sát lùa chúng nó vào phòng tạm giữ trước khi cửa phòng khóa kín. Tên Chà và dọa: - Chiều nay nhịn đói nghe bọn chó để. Lát nữa ông sẽ hỏi thăm chúng mày. Phòng tạp giữ thiếu mất một tên. Nó vừa bị cảnh sát hạ. Chưa biết sống chết ra sao? Nguyễn Đạm không sợ đòn Chà và nữa. Giờ nó sợ cái lưỡi của Hưng mặt thẹo. Nó quay đi chỗ khác để khỏi nhìn bộ mặt ghê tởm của thằng du đãng nham hiểm hèn nhát, chó đểu. Nó mới hiểu tại sao cảnh sát thù hận bọn du đãng. Tuy hiểu cảnh sát nhưng nó không quên thù hận. Những trận đòn đã làm long tính bản thiện của trái tim nó. Từ đóm lửa trên đầu điếu thuốc mà tên Chà và dụi trên vai nó tới những cú đấm đá dán lên thân thể nó, Nguyễn Đạm không thể quên. Nó sẽ nhớ muôn đời. Hưng mặt thẹo gọi vọng sang gian nhốt điếm: - Vang ơi, cưng của anh ơi! Giọng con điếm ỏn ẻn: - Chi đó anh? Hưng mặt thẹo nham nhở: - Cho anh xem một tí, một chút xíu cho đỡ thèm, nghe em... Con điếm đã ra chỗ song sắt. Nó vươn cao cánh tay bám lấy song sắt. Bọn du đãng căng mắt nhìn bộ ngực no tròn, đón mời một cách tha thiết của con điếm. Chúng nó nuốt nước bọt ừng ực. Con điếm khẽ lắc đầu, mái tóc bồng bềnh của nó như máy bay trên vòm trời vàng huyền ảo mà vòm trời là khoảng không gian với ánh điện vàng khè. Nó nhỏ nhẻ: - Lại đây cưng... Hưng mặt thẹo đứng lên, bước tới chấn song sắt. Như lần trước, nó lại luồn tay qua cái song sắt tròn, ôm chặt ngang lưng con điếm. Con điếm đôi tay buông lơi. Rồi cũng luồn qua song sắt ôm ngang lưng thằng du đãng. Môi hai đứa dính chặt lấy nhau, Hưng mặt thẹo xoa vuốt bàn tay lên cái lưng ong của con điếm. Khi hai bàn tay thô bạo của nó vừa bám lấy cạp quần của con điếm ở hai bên hông định kéo xuống thì cửa phòng xịch mở. Hưng mặt thẹo mới kịp rút tay khỏi song sắt, chiếc còng đã ném trúng lưng nó. Thằng Chà và xuất hiện. Nó to con hơn Ganesh Sang và có vẻ hung bạo hơn. Con mắt chột của nó chứng tỏ điểm này. Nó bước hẳn vào phòng, tiến ngay đến chỗ Hưng mặt thẹo. Nó đá Hưng mặt thẹo một cú, Hưng mặt thẹo quay lơ. Nó chửi: - Đ.m, mày muốn làm ái tình ở đây hả? Ông sẽ cho mày làm. Nó chõ miệng sang gian giam điếm: - Cả con kia nữa, đồ đĩ! Nó nhặt cái còng đút vào túi quần. Rồi hất hàm: - Đứng lên thằng chó! Hưng mặt thẹo ngoan ngoãn hơn cả bao giờ. Thằng Chà và chợt đẩy nó ra khỏi phòng. Rồi cửa phòng lại đóng kín. Gian bên cạnh, con điếm Vang cũng bị lôi ra. Tên đàn em của Hưng mặt thẹo gườm gườm nhìn mọi người. Nó nhe răng, quệt hai ngón tay trên hai hàm răng rít lên: - Nó hỏi thằng nào giết con nhà Ganesh Sang, nhớ bảo thằng bị bắn nghe chưa? Nó lôi lưỡi dao cạo khỏi gấu quần: - Đứa nào khai Hưng mặt thẹo, ông sẽ cắt gân. Nó lên giời, ông cầm chân lôi xuống, nó xuống đất ông kéo cổ nó lên. Nó giấu lưỡi dao cạo vào chỗ cũ. Không khí phòng giam ngột ngạt căng thẳng.
ỘT TIẾNG SAU, HƯNG MẶT THẸO TRỞ VỀ. Mặt nó bê bết máu. Áo quần rách bươm. Nó ôm ngực lảo đảo. Rồi khạc ra, búng máu tươi và rũ xuống sàn phòng như một cây chuối đổ. Thằng Chà và chột đứng ngắm tác phẩm của nó. Nó xắn tay áo: - Ngon không? Bọn phạm nhân ngậm miệng. Nó quát: - Đ.m., chúng mày câm, hả? Nó trỏ ngón tay đúng chỗ tên đàn em của Hưng mặt thẹo ngồi. Dẫu là dân chì, thằng này cũng run bắn lên. - Ngon không mày? - Ngon chi vậy xếp? - Tao hạ nó ngon không? - Dạ ngon. Nó làm gì mà xếp tẩn nó ác vậy? Thằng Chà và chột cười khẩy: - Nó toan đ. má mày đó, con ạ! Tên đàn em Hưng mặt thẹo giả bộ: - Ờ nhỉ, nó đáng kiếp quá hé, xếp? Thằng Chà và chột vẩy tay: - Lên phòng tao nói chuyện đi, Đ.m. tụi bây định qua mặt tao, hả! Lên phòng tao xem mày qua nổi không? Tên đàn em Hưng mặt thẹo gượng: - Xếp muốn kiếm thằng khốn nào giết xếp Ganesh Sang không? Thằng Chà và chột gật đầu: - Muốn. Tên đàn em Hưng mặt thẹo chỉ Nguyễn Đạm: - Thằng đó, xếp ạ! Nguyễn Đạm nhắm nghiền mắt lại. Thằng Chà và chột nói: - Sẽ đến lượt nó. Mày trước, đồ chó đẻ! Tao xem mày láu cá tới mức nào. Nó hét: - Đứng lên! Tên đàn em Hưng mặt thẹo đứng lên như máy. Thằng Chà và chột hỏi: - Mày kêu chi? - Dạ, Lâm xùi. - Lên phòng tao, Lâm xùi! Lâm sùi ngoan ngoãn như Hưng mặt thẹo đã ngoan ngoãn. Cửa phòng lại đóng kín. Lần này cửa phòng mở sớm hơn lần trước nửa tiếng. Lâm xùi là kẻ thứ hai trở về. Mặt nó cũng bê bết máu, áo quần rách bươm. Nó ôm ngực lảo đảo, rồi khạc ra búng máu tươi và rũ xuống sàn phòng. Lại cũng như lần dẫn Hưng mặt thẹo trở về, thằng Chà và chột hất hàm: - Ngon không? Thằng đàn em thứ hai của Hưng mặt thẹo nhanh miệng: - Thưa xếp ngon lắm ạ! Thằng Chà và chột quắc mắt: - Ai hỏi mày, chó đẻ, mày kêu chi? - Dạ tên em Bảy rỗ. - Lên phòng tao, Bảy rỗ. Bảy rỗ ôm mặt khóc rống. Thằng Chà và chột mỉa: - Đ.m., du đãng Nguyễn Thông nối dày mà hèn vậy. Bảy rỗ nín khe. Nó biết đóng kịch hết nổi, giở giọng bướng: - Ông không lên phòng đâu, đồ lai! Thằng Chà và chột gật gù: - Ngon đa, mày ngon dữ đa, tao khoái những thằng ngon như mầy vậy đó, em út. Lên phòng anh rồi anh nhờ em việc này cưng... Bảy rỗ liều lĩnh: - Đằng nào chúng mày cũng thịt ông, có giỏi thịt ở đây đi! Thằng Chà và chột vẫn dịu dàng: - Ngon dữ đa, em út. Nào thì tao thịt mày ở đây. Bảy rỗ thủ thế. Nhưng nó cụt hứng ngay vì đã nhìn thấy hai cái nòng súng, đen ngòm chĩa vô. Nó đổi giọng: - Lên phòng thì lên, bất quá mầy đánh ông nhừ đòn là cùng chứ gì? - Tao cưng chú mày mà... - Mày đánh ông chết coi như bỏ, để ông còn thoi thóp, ông không quên mày đâu. Bảy rỗ lầm lũi bước khỏi phòng. Phòng tạm giữ hổi hộp chờ nó vác cái mặt đẫm máu trở về. Nhưng một giờ, hai giờ, ba giờ sau, Bảy rỗ vẫn chưa về. Không khí phòng giam nghẹt thở. Không ai nói ra, nhưng tất cả đều nghi Bảy rỗ đã bị thằng Chà và chột “vờn” chết rồi. Nỗi lo sợ làm những thằng còn lại toát mồ hôi. Chúng quên đói song không thể quên khát. Có thùng nươc nhỏ bọn Chà và đá tung, ở ngoài sân. Khát khô cổ. Nuốt nước miếng mãi hết cả nước miếng. Hưng mặt thẹo và Lâm xùi nằm co quắp. Chúng nó thở dồn. Chỉ một gáo nước dội lên mặt là hai đứa tỉnh ngay. Khốn nỗi nước không có. Trông hai đứa nằm thoi thóp, những thằng du đãng thắt ruột lại. Một đứa đề nghị: - Đập cửa đi! Những đứa khác hưởng ứng ngay. Chúng nó đập cửa thình thình. Khác hẳn mọi lần, lần này đập chán chê, cánh cửa không nhúc nhích. - Đ.m. nó trù mình đấy mà... - Tổ sư bố chúng mày, ông thoát khỏi đây chúng mày biết ông. - Thù này ông quyết trả. Bọn du đãng thay phiên nhau chửi bới. Bọn phạm nhân ăn cắp, nghiện hút ngồi bó gối nghe. Thấy đập cửa, chửi bới mãi không ăn cái giải gì, chúng bắt cả phòng hát vang bài suy tôn Ngô tổng thống. Gian nhốt điếm cũng bắt chước hát vang. Chiến dịch hát của bọn du đãng có kết quả. Mười phút sau, cánh cửa mở. Giọng thằng Chà và: - Bố chúng mầy chết hay sao mà la to dữ vậy? Thằng du đãng: - Khát quá! - Khát mặc cha chúng mày. - Ác thế. - Ác mả bố chúng mày; chết cha chúng mày đi! - Cho uống nước mau, xếp ơi! - Đái ra mà uống. - Hết mẹ nó nước đái rồi, cho nước uống mới đái được chứ bộ... Cánh cửa đóng rầm. Lời chửa bới trỗi vậy, mãnh liệt, tục tỉu hơn cả bao giờ. Một lát, cánh cửa lại mở đủ lọt một ca nước nhỏ. Bọn du đãng giằng vội. Đứa nào cũng cũng muốn uống trước. Ca nước đổ tung tóe xuống sàn phòng. Thằng chịu khát hết nổi, nằm sấp gục mặt liếm nước. Rồi chúng nó lại hét. Bây giờ không có kết quả nữa. Trời đã sang đêm. Bọn du đãng mệt nhoài dựa lưng vào tường ngủ gà ngủ gật. Nguyễn Đạm không nhắm mắt nổi. Cảnh tượng thê thảm, tàn nhẫn xảy ra từ chập tối lọt hết vào mắt nó để in sâu vào tâm tưởng của nó. Nó đứng lên bước hai ba thước thì rũ xuống. Bụng đói khát. Tinh thần căng thẳng. Nó biết chắc sẽ tới lượt nó lên phòng, hoặc đêm nay hoặc sáng mai. Hình phạt nhịn uống ghê gớm thật. Nguyễn Đạm sắp sửa gục thì cánh cửa phòng mở. Thằng Chà và chột xuất hiện với thùng nước. Nó mở rộng cửa đứng ngoài. Lúc này bọn du đãng đã hết nhuệ khí đâm ra hèn. Thằng Chà và chột cười sằng sặc: - Khát quá hả? Không có tiếng trả lời. Nó múc nước hắt vào trong. Những đứa được nước hắt trúng mặt, tỉnh người. Thằng Chà và chột đắc chí: - Hết ham du đãng rồi hả? Nó tiếp tục hắt nước. Một thằng du đãng thều thào: - Chơi ác vậy, xếp ơi! Thằng Chà và chột nói. - À, có thằng mở miệng rồi. Mầy muốn uống nước không, chó đẻ? - Muốn chứ. - Uống xong tao nhờ một việc nhé! - Việc gì? - Việc gì thì việc, ai cho mày hỏi. Thằng du đãng như vừa được uống ly nước đá lạnh. Nó tỉnh táo lạ thường, như ngọn đèn sắp tắt lóe sáng! - Hưng mặt thẹo còn sống phây phây, sao xếp không hỏi nó? Thằng Chà và chột dạng chân ra: - Nó bướng lắm. Cứ khăng khăng bảo thằng bán nước dừa giết Ganesh Sang. Đ.m. thằng ấy đâu có tướng giết người. - Nó là du đãng Cầu Muối thứ chì mà... - Đ.m. nó láo đó, nó nhận ẩu thì xúc nó chứ tính sao giờ! Nguyễn Đạm muốn hét lớn. Đời chó má đến thế là cùng. Công lý ở cái xã hội này như mớ giẻ rách bẩn thỉu. Chỉ một trận đòn là từ con người lương thiện biến thành đứa bất lương xứng đáng để pháp luật trừ khử. Nhưng Đạm không thể hét lên được. Môi nó đã rợp và cổ họng khô cứng. Những đứa khác há hốc miệng. Có đứa lè lưỡi cơ hồ con chó bầy bán giữa chợ dưới trời nắng gắt. Kể ra, chúng có thể nhịn uống tới sáng mai, trưa mai, chiều mai, nếu không khí của phòng tạm giữ bình thường. Đằng này, vừa trải qua cơn hung bạo của Hưng mặt thẹo thanh toán Ganesh Sang, cơn hãi hùng của những phát súng nổ hạ gục tên bán nước dừa, cơn ghê rợn của những trận đòn thù trút xuống thể xác Hưng mặt thẹo và Lâm xùi, rồi Bảy rỗ ra đi không về... Bằng ấy thứ làm chúng nó nóng ran mạch máu, cháy bỏng dạ dày và chúng nó khát muốn phát điên. Thằng Chà và chột thừa hiểu điều đó. Nó cứ tiếp tục hất nước vào phòng. Bọn du đãng cay lắm. Song sức đã đuối, đành chịu nhục húc đầu xuống sàn liếm nước. Chỉ có mấy ông nghiện là vẫn thản nhiên. Thằng Chà và chột cao hứng: - Vui quá hé! Nó hất hàm mặc cả với thằng du đãng: - Mày tính lại đi. - Tính sao? - Mày giúp tao việc này. Tao biết mày đâu có phải ở phe Hưng mặt thẹo. Mày bênh nó làm gì, Mừng lác? Thằng du đãng tên Mừng lác suy nghĩ một lát rồi dứt khoát: - Xong rồi. Thằng Chà và chột vẫy nó: - Lên phòng tao! Mừng lác bước gần cửa phòng: - Khoan đã. - Gì? - Xếp có thấy chúng nó đang làm gì không? - Kệ cha chúng nó. Mày hãy lo lấy thân mày. - Bộ xếp tưởng nói ngon lành vậy là xong, hả? Xếp thử ngó những con mắt tụi nó xem? Thằng Chà và chột đảo mắt nhìn. Nó chợt thấy tia lửa căm hơn tóe ra từ những con mắt của đám du đãng đang rọi vào người Mừng lác. Nó gật gù: - Tao biết. Tao bảo vệ mày. - Không ổn đâu. Xếp cho tôi một ân huệ rồi tôi sẽ cho xếp biết đứa nào giết xếp Ganesh Sang. Mừng lác ngó Nguyễn Đạm. Khiến Đạm run rẩy. Thằng Chà và chột hỏi: - Mày muốn xin gì? - Trong này có một đứa giết xếp Ganesh Sang thôi. Chả lẽ xếp bắt chúng nó chết khát hết à? Xếp cho tôi thùng nước và cái ca, hễ tôi không cho thằng nào uống là thằng đó giết xếp Ganesh Sang. Xếp sửa soạn bảo vệ tôi là vừa. Thằng Chà và chột tin Mừng lác. Nó gật đầu, Mừng lác ra bưng thùng nước. Nó ghé sát tai thằng Chà và nói khẽ: - Tôi cũng cho nó uống nhưng tôi sờ đầu nó, xếp nhờ giùm. - Mày “điệu” lắm đó. Mừng lác đã bưng thùng nước vào phòng. Đầu tiên nó múc cho Đạm uống. Đạm uống cạn ca nước, ngước mắt nhìn Mừng lác. Thằng du đãng cũng nhìn lại nó. Hai đứa không nói gì song mắt chúng nó đã nói với nhau nhiều, rất nhiều. Mừng lác cho mấy chục đứa uống. Nó chừa có ba thằng. Đó là Hưng mặt thẹo, Lâm sùi và Hội lùn. Hội lùn là đàn em của nó - Hắt nước vào mặt Hưng mặt thẹo và Lâm sùi và đỡ cổ hai thằng này dậy cho chúng nó uống xong xuôi Mừng lác mới bước tới chỗ Hội lùn. Thằng Chà và chột chắc mẩn con nhà Hội lùn là thủ phạm giết Ganesh Sang. Nó đã nghĩ trong óc những lối đòn thủ mới lạ. Nhưng nó chết lặng người. Mừng lác không xoa tay lên đầu Hội lùn bất thình lình, nó liệng cái thùng ra cửa, chửi thề: - Đ.m., mày, còn khuya ông mới nói. Thằng Chà và chột hoảng quá, đóng sầm cửa lại. Bọn du đãng cười ha hả. Bây giờ chúng tỉnh táo vô cùng. Hưng mặt thẹo đã ngồi dậy. Nó ngơ ngác. - Cái gì đó? Không ai kịp trả lời nó. Tiếng Mừng lác oang oang: - Trên đời tao, tao ghét kẻ thù năm phần nhưng tao ghét những thằng chỉ điểm mười phần. Đ.m., ông là du đãng chứ không là chỉ điểm, hiểu chưa? Hưng mặt thẹo gắng gượng đứng lên, bước tới gần Mừng lác, thều thào: - “Chơi” thế mới “điệu”. Nó chìa tay bắt tay Mừng lác. Nhưng Mừng lác, thay vì bắt tay nó, đã nhổ bãi nước miếng vào giữa lòng bàn tay nó. Hưng mặt thẹp sựng đứng. Mừng lác chửi Hưng mặt thẹo: - Đ.m., mày, ông tởm mày lắm. Hưng mặt thẹo ngớ ngẩn chưa biết tính sao với “ân nhân” của nó, Mừng lác đã tránh xa nó: - Có gan giết người có gan chịu tội. Đổ thừa cho thằng khác đâu phải dân chì. Ông ghét bọn chỉ điểm, hiểu chưa? Mừng lác trút sự tức giận: - Ông ngó ngơ việc mày làm, mày tưởng mày là vua phòng, hả? Biết Mừng lác không? Hưng mặt thẹo gật đầu rất ngoan ngoãn: - Biết. - Biết tiếng hay biết người. - Biết tiếng. - Thề thì về chỗ mày đi! Hưng mặt thẹo lũi lũi về chỗ mình. Mừng lác bĩu môi: - Tao cũng biết tiếng mày, mày chuyên cướp giật đâm người, vu oan và hèn như chó. Tao đã có ý định hạ mày. Hiếm vì chưa biết mặt mày. Bây giờ tao hạ mày như tao giết con rệp. Tao không hạ thế đâu. Hạ mày hèn như mày hạ thiên hạ, mất tiếng giang hồ của tao. Nó dằn giọng: - Ông đã ngó ngơ mày để xem mày múa trò gì. Mày bắt nạt thằng bán nước dừa. Đàn em mày toan trút tội cho thằng kia... Nó bắt đầu hỏi Đạm: - Kêu chi? - Đạm. - Thằng Đạm đâu phải dân mình. Ông nói để mày hay, hễ tụi mày hó hé khai láo thằng Đạm ông cắt gân. Nó phanh áo ra, giọng nói bớt hằn học: - Một bài học cho các con. Gặp cảnh sát rán mà nhũn như con chi chi, đừng xưng hùng xưng bá, giết tụi nó trên đất tụi nó nghe, các con. Giết người chưa thể là dân chì đâu. Biết chịu đòn thù, biết coi mình như cức đối với dân không biết mặt mình là dân chì các con ạ! Nó vỗ ngực rất kiêu hãnh: - Như bố mày đây nè, Hưng mặt thẹo! Hưng mặt thẹo nghe đến đâu thấm thía đến đấy. Lâm sùi ngạc nhiên thấy đàn anh của mình hèn quá. Nó nổi máu: - Mừng lác! Giọng kể cả, Mừng lác hỏi: - Chú mày muốn gì? Lâm sùi đứng lên: - Tao lộn ruột vì đôi mắt đèn pha đèn cốt của mày quá! Hưng mặt thẹo quát: - Im miệng, Lâm sùi! Lâm sùi cười khinh bỉ: - Tao chán mày rồi, mày hèn quá, đâu xứng làm anh tao. Nó mới đánh võ miệng mà mày đã co vòi. Nó hét: - Đứng dậy Mừng lác! Mừng lác vẫn ngồi yên bên cạnh Nguyễn Đạm. Nó ngả người, gục đầu vào lưng Đạm. Nguyễn Đạm duỗi chân ra và đỡ đầu Mừng lác đặt lên đùi mình. Lâm sùi toan xông tới. Nhưng Hưng mặt thẹo đã nhoài người chụp lấy chân Lâm sùi kéo lại. Nó đè thằng đàn em, ghé sát tai Lâm sùi: - Đừng đụng vào nó mà toi mạng. Lâm sùi vùng vằng, giẫy giụa. Vừa lúc đó, cửa phòng sịch mở. Hai nòng súng đen chĩa vô. Và lần này, cạnh thằng Chà và chột còn một thằng Chà khác. Hai tên du đãng buông nhau ra. Thằng Chà và chột đảo mắt tìm Mừng lác, Hưng mặt thẹo nói lớn: - Xếp ơi! Thằng Chà và chột đạp nó một cái: - Mày muốn mở miệng hả? - Phải. - Ai giết Ganesh Sang? Hưng mặt thẹo cười hề hề: - Xếp ngây thơ bỏ mẹ đi ấy! Thử ngó coi dân nào chì nhất ở đây? Thằng Chà và chột đạp nó cái nữa. Hưng mặt thẹo trở giọng: - Bố mày đây chứ còn ai. Ông giết thằng Ganesh đấy! Bốn bàn tay hộ pháp đã bóp mạnh da thịt của Hưng mặt thẹo. Thằng du đãng cố nói câu cuối cùng: - Ông ghét thợ đánh người, ông là dân chì. Rồi nó bị lôi ra khỏi phòng. Nó cố ngoái cổ lại nói với Mừng lác: - Tao là dân chì có phải không, mày? Nhưng Mừng lác nhắm mắt, đầu gối trên đùi Nguyễn Đạm, coi như không biết chuyện gì. Mãi khi ổ khóa lách cách và tiếng bước chân của bọn người đáng người mất hẳn, Mừng lác mới ngồi nhỏm dậy lắc đầu một cách chán nản: - Còn khuya mày mới xứng đáng là dân chì. Lâm sùi vẫn chưa hết hận Mừng lác, nó khinh khỉnh: - Chắc mày là dân chì? Mừng lác lại ngả đầu trên chiếc-gối-đùi Nguyễn-Đạm. Nó thản nhiên: - Tao cũng chưa phải là dân chì. - Thế đứa nào là dân chì? Cả phòng chờ đợi câu trả lời của Mừng lác. Nhất là những thằng du đãng chánh cống. Chúng nó chưa hiểu nhiều về Mừng lác. Song hành động vừa rồi của nó đã chứng tỏ nó chỉ hơn Hưng mặt thẹo. Nó đã dám phịa chuyện gạt thằng Chà và chột để lấy nước cho anh em uống. Hẳn nhiên nó chì rồi. Bọn du đãng nghiêng cảm tình về phía Mừng lác. Nó coi hành động của Mừng lác như hành động của một thứ anh hùng. Đứa nào cũng nghĩ, lần sau hoặc ra ngoài, nó sẽ bắt chước lối chơi của Mừng lác. Một thằng tỏ tình: - Nói đi anh Mừng lác! Lâm sùi chửi đổng: - Đ.m., bợ chóng thế. Mừng lác phớt tỉnh. Nó nghiêng đầu, mắt hướng sang kẻ đối diện đang cố ý ăn thua với nó: - Mày đã vô Tế bần chưa? - Chưa. - Thế thì mày không biết dân chì cũng phải. Tao kể cho mày nghe: Bốn bức tường đầy máu rệp, muỗi như bức tường cái phòng này này, hàng trăm đứa đã viết tên có một thằng. Mày biết thằng nào không? - Đ. cần biết! - Mày mới ra lò, đã học làm tàng. Thằng đó là James Dean Hùng. Một thằng du đãng reo to: - Tôi có nghe tiếng. Mừng lác chống một tay lên cằm: - Đó là thằng duy nhất dám giết giám thị Tế Bần là thằng duy nhất tình nguyện vào Tế Bần để cứu anh em nó. Và anh em đã viết tên nó trên bốn bức tường đầy máu rệp, máu muỗi. Nó dịu giọng: - Lâm sùi, mày rán vô Tế Bần đi, tụi trỏng sẽ kể chuyện James Dean Hùng cho mày nghe. Tao chắc mày sẽ lớn thêm và dè dặt thêm. Bắt thình lình, Mừng lác vụt dậy. Nó nghiến răng ken két: - Và bây giờ, tạm giở vài ngón đòn hèn của mày tao coi! Lâm sùi bắt đầu ngán Mừng lác. Nó không dám hung hăng như lúc nãy nữa. Nhưng Mừng lác đã dục: - Nhào vô! Tao chưa nhịn ai bằng nhịn mày... Lâm sùi đứng lên. Nó chôn chân một chỗ. Mừng lác mời mọc: - Nhào vô đi chứ? Lâm sùi toát mồ hôi trán. Nó buông thõng đôi tay nói nhỏ: - Thôi bỏ qua đi! Mừng lác nắm chặt hai bàn tay: - Mày nói dễ nghe quá. Đ.m., mày chỉ giỏi bắt nạt những thằng yếu hơn thôi à? Mày làm đàn em của Hưng mặt thẹo mà dám qua mặt ông. - Thôi bỏ qua đi... - Không bỏ qua được. Bọn du đãng vốn ghét bọn Hưng mặt thẹo, khắp khởi trong lòng, chúng nó chờ Lâm sùi nhào vô. - Đ.m., mày bảo đôi mắt đèn pha đèn cốt của tao làm mày phát tởm mà. Ông nín, mày làm tới. Cái thứ du đãng bạ ai đánh người ấy lúc nào cũng ngứa chân, ngứa tay như bọn mày, gặp thằng dễ nóng thì mất gân nghe con, nhào vô! - Thôi bỏ qua đi Mừng lác... - Không được. - Tôi xin anh. - Tao bảo không được. Mày đâu có phục tao, mày mới sợ tao thôi. Đầu óc mày đang tính kế trả thù mà. - Tôi đâu dám. Đàn em đâu dám... Mừng lác nguôi giận. Nó xòe đôi bàn bàn tay ra bước về chỗ Nguyễn Đạm: - Ông đã qua cái thời ngứa tay đấm bậy như chúng mày rồi; ông đâu có bị bắt về tội du đãng, ông bị bắt về cái quá khứ du đãng của ông. Ông làm ăn đàng hoàng mà tụi nó vẫn không tha ông. Cao hứng, nó cởi khuy áo rồi lột phăng ra: - Nhìn kỹ đi! Cả thảy trố mắt nhìn mình mẩy Mừng lác. Tuy ánh điện vàng khè, tất cả đều nhận thấy những vết đâm chém sần sùi trên ngực, trên lưng Mừng lác. Biểu diễn thành tích xong, Mừng lác mặc áo lại đàng hoàng rồi kết luận: - Không chì đâu, chúng mày ạ! Làm du đãng không bị đâm chém vết dao nào, không cần mở miệng chửi thể, không cần kéo nhau cả lũ đi đánh đấm mà vẫn được anh em kính phục mới là dân chì. Tao ngẫm nghĩ cái tài tao nhỏ quá nên tao bỏ nghề từ khuya, sau lần ở Tế Bần ra. Hãy vào Tế Bần đi, rồi được tha mà còn dám làm du đãng mới là dân “chì” hạng nhì. Hiểu chưa? Mừng lác ngồi xuống. Nó lại ngả đầu lên đùi Nguyễn Đạm. Bọn du đãng nhìn nó, chiêm ngưỡng nó cho tới khi buồn ngủ quá, thiếp đi...
ỘT ĐÊM THẬT DÀI ĐÃ QUA. PHÒNG TẠM GIỮ sống động hẳn lên vì nhiều đứa sắp được ra. Gian điếm, bọn giang hồ cười nói tíu tít. Chúng nó thay phiên nhau đứng bám vào song sắt ưỡn ngực hứa hẹn với bọn du đãng. Đêm nay hay đêm mai. Nhân vật Hưng mặt thẹo đã bị quên lãng. Bây giờ, bọn giang hồ ve vãn Mừng lác, Năm sáu ngón và Nguyễn Đạm. Con điếm lống tình Hưng mặt thẹo chập tối, đang thò hai tay qua song sắt với Nguyễn Đạm. Mừng lác lộn tiết. Nó bảo Đạm: - Để tôi cho nó bài học. Nó ghì chặc đến nổi con điếm hét lên: - Đau thấy mẹ! Mừng lác gắn môi nó vào môi điếm. Hai môi dính chặt với nhau như nam châm hút sắt. Mừng lác xoa lưng, xoa mông con điếm, nó lần khuy áo con điếm cởi dần. Con điếm thỏ thẻ: - Em tên Vang... - Anh biết quá mà. Con điếm sau lưng Đạm chưa thôi nức nở. Mừng lác thò tay qua vai lọt sang gian của con điếm, đập khẽ lên vai nó: - Có nín đi không? Con bé giẫy nẩy, ôm mặt khóc ròng. Mừng lác cười mỉa: - Mẹ, cứ làm như oan uổng lắm. Mất khứa Mẽo hả? Con bé sụt sùi: - Tôi đâu phải điếm, họ bắt bừa, bắt bậy. Xin họ không tha... Nguyễn Đạm xoay người. Nó hướng về gian nhốt điếm. Mừng lác đã rút tay về, nó không ngạc nhiên lắm. Mừng lác an ủi con bé bị bắt oan: - Thế hả. Con bé ngoan ngoãn: - Dạ. Nguyễn Đạm khẽ gọi: - Này cô! - Dạ. - Tôi cũng bị bắt oan như cô. Họ bắt cô ở đâu? - Tôi đang ngủ họ ruồng bố và họ bắt. - Nhà cô khu nào? Cô bé do dự mãi mới nói: - Nhà... tôi... ở lăng Cha Cả! Mừng lác xía vô: - Ở lăng Cha Cả là có tội rồi. Ai bảo cô em không ở Catinat! Xuống cái xóm điếm ấy mà ở tụi nó tha gì mà không khép tội cô em là điếm. Nó chửi đồng: - Đ.m., đời chó đẻ đến thế là cùng! Cô bé đưa tay quyệt nước mắt: - Nhà tôi nghèo ông ạ! Rồi cô bé ngậm miệng không nói gì nữa. Nguyễn Đạm khơi chuyện: - Tên tôi là Đạm, tôi chẳng đánh lộn bao giờ mà tụi nó bắt tôi, đánh tôi, khép tôi vào tội du đãng. Mừng lác cười ha hả: - Tại số chú em sau này làm du đãng. Bộ mày tưởng du đãng không có số à? Người thì có số làm tổng thống, thủ tướng, kẻ thì có số làm ăn cắp, đĩ điếm. Mày cũng có số làm du đãng chứ sao. Mình đâu phải là du đãng, nó cứ đổ riết mình là du đãng rồi mình bất buộc là du đãng cho mà xem. Nó hỏi Đạm: - Chú em tên Đạm à? - Dạ. - Bao tuổi? - Mười chín. - Ở ngoài chú em làm nghề ngỗng gì? - Đi học. - Đi học à, oai quá ta, học lớp mấy? - Tôi có bằng tú tài nhất. Mừng lác ngừng chất vấn Đạm. Nó nhìn Đạm mắt không chớp. Những thằng du đãng giết người không gớm có một khía cạnh rất đáng nói tới là chúng nó ngưỡng mộ những người hiền lành, học giỏi hơn chúng nó. Du đãng, đôi khi, có đàn anh không hề biết đánh đấm, đâm chém. Nhưng chúng nó phục thứ đàn anh này sát đất. Đàn anh sai bảo, dẫu lao vào chỗ chết, chúng nó cũng lao. Chúng nó cung phụng, chiều chuộng đàn anh và không hề có gì ý nghĩ phản bội. Mừng lác nhìn Đạm, giọng nó bớt “đàn anh”: - Có bằng tú tài à? - Dạ. Nó chìa tay bắt tay Đạm. - Giờ chúng mình đã là bạn. Tôi đã hơn bạn bốn tuổi lận. Tên tôi là Mừng, bị lác nên “giang hồ” gọi là Mừng lác. Đạm nắm chặt tay Mừng lác: - Lúc nãy anh bênh tôi, tôi chưa cám ơn anh. Mừng lác xuề xòa: - Có gì mà cám ơn. Nó vỗ vai Đạm: - Tôi tin tử vi hàng ngày lắm. Tôi cũng bì bõm vài chữ, chỉ thích đọc kiếm hiệp với xem mục tử vi. Bạn biết không, tử vi bảo tôi hôm nay gặp anh bạn tốt. Để ý bạn, tôi thấy bạn hiền lành không phải dân “giang hồ” nhưng đợi mãi mới có dịp làm quen bạn. Nguyễn Đạm thấy cách xưng hô của Mừng lác ngượng nghịu quá. Dường như nó chỉ quen “mầy tao” hoặc “ông con” một cách trịch thượng. Mừng lác đã cố gắng “làm dáng đứng đắn”. Nguyễn Đạm tự nhiên, thương cái sự “làm dáng” của Mừng lác. Nó tỏ tình ngay với Mừng lác: - Cám ơn anh Mừng. Mừng lác thêm: -... Lác. Cứ gọi tôi là Mừng lác cho thân tình. Nó tâm sự: - Anh làm gì mà nó bắt anh? Tiếng “anh” thay thế tiếng “bạn” nghe một vẻ gì quý mến quá, Nguyễn Đạm cảm động: - Không ngờ được gặp anh Mừng trong này. Mừng lại nhắc lại: -... lác... Mừng lác, anh cứ gọi trống không. Nguyễn Đạm lắc đầu. - Tôi không thấy anh lác. Tôi chỉ thấy anh khác Hưng mặt thẹo. Lâm sùi, Bảy rỗ... Anh khác xa chúng nó. Mừng lác giải nghĩa: - Tôi muốn đời gọi tôi là Mừng lác. Dân “giang hồ” không có cái dấu hiệu theo sau cái tên thì chỉ là “giang hồ” giẻ rách. - Vậy mà tôi đâu có hiểu. - Anh không hiểu vì anh không thuộc thành phần “giang hồ”. Anh biết không, hễ được gọi là mặt thẹo, sùi, rỗ, sư tử, thợ điện, lùn, bé, lác kèm với tên của mình, một thằng du đãng đã phải xầy vảy, đã phải chịu hàng chục vết đâm chém. Nó ngừng lại, nuốt nước bọt: - Như tôi chẳng hạn. Nên tôi thích ai gọi tôi là Mừng lác. Nói anh đừng giận nhé! - Đâu dám giận anh. - Ai gọi tôi Mừng là người đó khinh tôi. Dân “giang hồ” mà quên tiếng lác thì tôi phải dùng dao để nhắc nhở nó đừng có quên mà toi mạng. Nguyễn Đạm hơi hơi ớn, Mừng lác mỉm cười nói tiếp: - Nhưng anh đâu thèm là dân “giang hồ”. Mừng lác này không dám vô lễ với anh. Chỉ xin anh đừng kêu Mừng gọn lỏn, tủi Mừng lác lắm. Nguyễn Đạm thân tình: - Tôi sẽ gọi Mừng lác. - Cám ơn anh. Giọng Mừng lác trĩu nặng tâm sự: - Chắc sớm mai tụi nó sẽ tha anh. À quên, lấy cớ gì tụi nó bắt anh. Nguyễn Đạm thuật lại chuyện đã xảy ra. Nó kể cho Mừng lác hai lần gặp lão thẩm vấn viên và ớn cảnh sát. Mừng lác xoa tay: - Anh hiệp sĩ rồi đấy. Đời này không có hiệp sĩ anh nghe chưa. Biết võ phải biết thêm đâm chém nếu anh muốn “vì đời rửa hận”. Anh khơi khơi đợi tụi nó xử dụng pháp lý là anh dại hết chỗ nói. Nó kể: - Xưa tôi ở lò Mã Thượng. Thầy võ của tôi dạy tôi tinh thần thượng võ, cứu khốn phò nguy, bênh vực kẻ cô thế. Tôi đem lời thầy ra áp dụng. Kết quả là tôi thành du đãng. Nó thở dài: - Anh sẽ gặp người cảnh sát biết điều không chó như lũ Chà và lai. Người ta sẽ thả anh. Nguyễn Đạm buồn buồn: - Chắc không? - Chắc. Ra khỏi đây anh sẽ học hành sướng nhé? Chỉ Mừng lác là suốt đời khốn nạn, suốt đời bị đe dọa... Nó nghiến răng: - Đ. m. đời, đời đã chê mình, mình cần đ. gì đời. Mừng lác chớp mắt: - Ra ngoài anh đừng quên Mừng lác này. Nói thật Mừng lác thèm chơi với một người học giỏi, hiền lành lắm. Nhưng đến gần người nào là người ấy lánh mình coi mình như chó dại. Nếu họ biết mình là Mừng lác, họ còn tởm mình nữa. Anh có tởm Mừng lác không? - Không, anh tốt lắm. - Mừng lác đã giết hai mạng. Không ai biết chuyện này trừ Mừng lác, và nay anh là người thứ hai. Giết người anh có tởm không? - Không? - Anh nói thật hay anh muốn vui lòng Mừng lác? - Tôi nói thật. - Ra ngoài đừng quên nhau nhé. - Tôi không quên anh đâu, anh Mừng lác à! Nhưng biết có được ra không? Mừng lác bẻ bão răng rắc: - Nó hành mình vài ngày chơi cho bõ ghét. Rồi cũng thả ra chứ. Nó khôi hài: - Ăn bánh mì mãi chán bỏ mẹ đi ấy. Tôi thèm một miếng bít tếch mà cảnh sát nghèo mạt, đâu có bít tếch cung phụng cho tụi mình. Mừng lác cười ha hả: - Ra ngoài, mời anh ghé tôi, sẽ tiếp đãi anh nồng hậu hơn cảnh sát. Nó hỏi Đạm: - Chắc anh cừ tiếng Mẽo lắm hả? - Tàm tạm đủ dùng. Tôi học thêm ở Hội Việt Mỹ được một năm. Mừng lác vỗ đùi: - Thế là cha rồi. Mừng lác chỉ cần được một tháng thôi. Nghề của tôi đang đòi hỏi một sự nói nổi vài câu tiếng Mẽo. - Sao anh không đi học? Mừng lác nhăn mặt: - Đi học và đi tù, tôi chọn đi tù. Tôi ngại cắp sách đến trường quá đi thôi. Xách dao rượt địch thủ đã khó, đi học còn khó hơn. Giá có bạn nằm bên mình dạy mình vài câu mình cần nói thì nhất. Đi học nó dạy đâu đâu. Tôi đã đi học, được hai ngày quăng mẹ nó sách đi. Mình cần nói “cô em này thơm lắm”, “chọi không”, nó đéo dạy, lại bắt mình học “Oắt-i-dờ-Giách? Giách-i-dờ-ơ-boi”, nản thấy mồ... Mừng lát vừa dứt câu khôi hài thì có tiếng quát: - Mày có xê ra không, chó đẻ? Nguyễn Đạm và Mừng lác cùng hướng mắt về phía có tiếng quát. Mừng lác khẽ bấm Đạm: - Dân Cầu Muối chính cống đó. Tên nó là Năm sáu ngón, bàn tay phải nó có sáu ngón. Để xem nó làm gì... Năm sáu ngón giơ chân đá phốc vào mông một thằng đang bó gối. Nó hung hăng: - Xích chỗ khác. Kẻ bị áp bức ngước đôi mắt nai tơ: - Chỗ em ngồi từ tối tới giờ mà anh. Năm sáu ngón cười khẩy: - Thế hả? Cụ tổ mày ngồi từ hôm nọ cơ. Chỗ này là chỗ của ông. Kẻ bị áp bức xích ra chỗ khác. Năm sáu ngón gật gù: - Biết điều lắm. Mày sang chỗ tao ngồi. Chỗ đ. gì khai sặc sụa. Mừng lác vỗ vai Đạm: - Anh xem tôi trị thằng Cầu Muối này. Nó nháy Đạm: - Khi tôi đấm nó trái thứ ba, anh kêu “Mừng lác” nhé! - Để làm gì? - Cứ nghe tôi đi. Tôi xem số anh khó mà về nhà sống với ông cụ được. Ông cụ khó tính thế, lần này dễ gì ông cụ chứa anh. Mừng lác đã nói trúng cái nỗi lo ngại của Nguyễn Đạm. Nó lại nháy Đạm: - Nhớ nhé! Nó đứng lên, vươn vai ngáp... Mừng lác bước tới chỗ Năm sáu ngón ngồi, dừng lại và dạng chân trước mặt tên du đãng Cầu Muối: - Mầy là Năm sáu ngón hả? Năm sáu ngón ngồi thủ thế: - Đúng tẩy, tao là Năm sáu ngón. - Xòe tay ra cho tao coi! - Bộ mầy là cha tao hả cắc ké? Bọn du đãng mới vào chưa biết Mừng lác. Chúng chỉ biết Năm sáu ngón thôi. Nhưng bọn cũ, nhất là Lâm sùi đã hiểu Mừng lác. Lâm sùi vẫn còn cay cú Mừng lác. Nó hy vọng tên du đãng Cầu Muối sẽ hạ Mừng lác cho bõ ghét. Mừng lác nói: - Ta không là cha mày nhưng ở đây có người là cha mày. Thái sơn trước mặt chúng mày mà chúng mày chưa biết đó thôi. Năm sáu ngón bĩu môi: - Tổ sư xạo có lẽ là mày! - Tao nói thiệt tình, xòe tay mày ra! - Tay tao khó xòe lắm, mày làm cho nó xòe ra đi. Mừng lác lao người vào ôm lấy Năm sáu ngón. Hai tên du đãng vật lộn nhau một lúc, chưa đầy 3 phút. Mừng lác dựng Năm sáu ngón dậy đấm vào mặt nó một cái ghê gớm. Năm sáu ngón lặng người. Mừng lác chồm tới đấm trái thứ hai. Năm sáu ngón ngã như cây bị đốn. Mừng lác dựng Năm sáu ngón dậy lần nữa. Nó sắp sửa đấm thì, theo lời nó dặn, Nguyễn Đạm hét: - Mừng lác! Mừng lác ngừng tay đấm Năm sáu ngón, quay lại: - Tha nó hả, anh? Nó nháy mắt, Đạm hiểu ý, gật đầu. Mừng lác đẩy Năm sáu ngón ngã ngửa: - Thái sơn trước mặt mày đó du đãng Cầu Muối ạ! Mày thấy chưa? Năm sáu ngón đang choáng váng đòn, chưa kịp mở mắt nhìn. Mừng lác quát: - Năm sáu ngón! - Dạ! - Mày nghe tên Mừng lác bao giờ chưa? - Dạ rồi. - Biết nó ra sao không? - Dạ, nó khét tiếng miệt Phú Thọ. - Gặp nó mày dám “thử lửa” không? - Dạ, không dám. - Thế mà mày đã “thử lửa” đó, Năm sáu ngón ạ! - Đâu có anh! - Mày vừa “thử lửa” xong mà... Năm sáu ngón tịt họng. Mừng lác nói: - Gặp Mừng lác rồi con ráng nhớ mặt Mừng lác nhé! Kẻo tao chặt ngón tay thứ sáu của mày à. Nó hét: - Đứng dậy Năm sáu ngón! Năm sáu ngón ngoan ngoãn đứng dậy. Mừng lác chỏ về phía Nguyễn Đạm ngồi. - Không biết mở miệng cám ơn Thái Sơn trước mặt mày à? Nó giới thiệu với cả phòng: - Đ. m., lũ mắt thịt. Hôm nay anh Nguyễn Đạm có chuyện buồn không muốn bẩn tay. Chứ không, con nhà Lâm sùi bị cắt gân trước nhất. Mừng lác quét sạch sự ngờ vực của du đãng: - Từ tối chúng ông giả đò xem tụi mày giở những trò gì. Tụi mày lộng quá trời. Năm sáu ngón đã bước tới trước mặt Nguyễn Đạm. Vẻ hung hăng ban nãy của nó biến đi đâu hết. Nó lí nhí: - Em cám ơn anh... Mừng lác đưa Nguyễn Đạm lên địa vị anh chị dễ như trở bàn tay. Cũng chẳng lạ. Vì uy quyền trong phòng tạm giữ đương nằm gọn trong tay nó. Uy quyền của cái xã hội nào mà không là sức mạnh. Có kẻ dùng súng ống làm sức mạnh. Có kẻ dùng tiền. Có kẻ dùng thủ đoạn. Có kẻ dùng sắc đẹp. Du đãng dùng thành tích của mình. Thành tích đó, một thằng du đãng muốn có, nó đã phải giết người nổi tiếng trước nó. Nghĩa là thanh toán những thằng chì nhất vùng để đoạt cái địa vị của địch thủ. Hai năm về trước, một thằng du đãng mới vô nghề, bước chân xuống vùng Phú Thọ, ngại ngùng hơn bước chân vào khám Chí Hòa. Chúng nó sợ Mừng lác. Danh của Mừng lác nổi như cồn. Xuất thân nó cũng như bất cứ thằng du đãng nào: bắt địa, cướp giật, đâm mướn, đánh thuê. Máu anh hùng chảy song song với máu mất dạy trong cơ thể nó. Khi máu anh hùng chảy mạnh hơn máu mất dạy, tên du đãng biết chê sự bắt địa, cướp giật, đâm mướn, đánh thuê. Nó muốn hách hơn. Muốn hiên ngang hơn, muốn trở thành thứ Bảy Viễn, Năm Lửa để chỉ huy một số đàn em “trọng nghĩa” khinh tiền. Mừng lác bị ảnh hưởng kiếm hiệp. Nó ao ước trở thành hiệp sĩ thanh toán kẻ giàu, bao bọc người nghèo. Nó đã giết Toàn móm, Hải chột, hai tên du đãng bất trị ở vùng Phú Thọ để đoạt ngôi vị của hai tên này. Nó, vô tình hạ giúp xã hội hai con chiên ghẻ khát máu. Cảnh sát biết nó là thủ phạm nhưng làm ngơ, theo dõi hành động của nó. Thấy nó không giống Toàn móm, Hải chột. Và từ ngày nó trông nom bọn du đãng Phú Thọ, sự cướp giật, đâm chém ít xảy ra. Cảnh sát đã “cảm” nó. Mừng lác có máu hiệp sĩ, chỉ tội nó dốt nát. Chí lớn của nó nhỏ bằng cái tài đấm đá của nó. Nó muốn thoát nghề du đãng. Không nổi. Cuối cùng, nó làm nghề ma cô. Tuy thế, đàn em nó vẫn kính phục nó. Và bọn du đãng mới lớn lên nghe tên nó vẫn rụng rời. Năm sáu ngón thấy Nguyễn Đạm không thèm trả lời, lặp lại to hơn: - Em cám ơn anh... Nguyễn Đạm gật đầu: - Không... Mừng lác nhăn mặt. Nguyễn Đạm trót lên sân khấu đành đóng trọn vai trò: - Bận sau chú mày bớt hung hăng nhé! Vào đây thương nhau không thương được thì thôi, còn sinh sự làm gì? Năm sáu ngón lễ phép: - Em nhớ. - Thôi về chỗ của chú. Năm sáu ngón lủi thủi về. Mừng lác ngồi xuống cạnh Nguyễn Đạm. - Anh biết ăn nói lắm. Nguyễn Đạm nhếch mép cười. Mừng lác ghé sát tai Đạm: - Nghe anh nói khá “judo”, cho thằng Lâm sùi hưởng thế cho nó phục luôn cả tài lẫn đức... của anh. Nguyễn Đạm tròn xoe mắt. Nó chưa kịp mở miệng thì Mừng lác đã rót thêm vào tai nó: - Có lợi cho anh lắm! Cho bọn nó kiềng mặt đi! Nó dồn Đạm vào chân tường, bằng cách xách mé gọi: - Lâm sùi! Lâm sùi giật mình. Mừng lác cười hề hề: - Chú mày hồi tối đã nói gì? Cả phòng đang ngủ gà ngủ gật đều chột dạ bởi tiếng cười của Mừng lác. Gian điếm ngủ ngon lành, trừ tiếng khóc tỉ tê của người em nhà nghèo trót cư ngụ tại Lăng Cha Cả. Những tiếng tỉ tê đó không ai còn chú ý từ lúc Năm sáu ngón tác yêu tác quái bị Mừng lác át giọng. Bọn du đãng mở căng mắt theo dõi Mừng lác. Bây giờ trời đã khuya lắm. Bên ngoài chắc xã hội ăn chơi chưa cho là khuya. Bên trong không có đồng hồ nhưng nghe điệu ngáy người ta đoán chừng đã một, hai giờ. Mừng lác đợi Lâm sùi lên tiếng. Nó lại trỗi nhịp cười nghe ớn xương sống. Tiếng cười làm sáng ngời thành tích của một chúa trùm du đãng miệt Phú Thọ. - Mày câm hả, Lâm sùi? - Dạ, không. - Sao chưa trả lời tao? - Dạ, em không nhớ hồi tối đã nói gì. - Thật chứ? - Dạ. - Đ. m. dạ dạ vâng vâng nhiều vậy. Miệng mày dạ mà bụng mày chửi thầm. Thôi im cha nó cái điệu bộ điếu đóm của mày đi. - Em đâu dám chửi thầm. - Thì mày cố nhớ xem hồi tối mày đã nói gì? - Em xin lỗi anh. - Mày có nói gì tao đâu mà xin lỗi tao. Bộ mày quên à? Thằng này giả đò khéo ta. Để tao nhắc mày nghe! - Dạ. - Mày đã chỉ điểm thằng Chà chột người giết thằng Ganest Sang, nhớ chưa? - Dạ nhớ, em trót dại. - Sao mày hèn thế! Hơi một tí là trót dại... Không biết Mừng lác giấu dao con chó ở chỗ nào mà cảnh sát không khám ra. Nó ném cho Lâm sùi: - Đỡ lấy, bật dao ra! Lâm sùi tóm con dao, năn nỉ: - Em xin anh... Mừng lác lạnh lùng: - Không xin tao. Bật lưỡi dao ra! - Mày không đứng lên bật lưỡi dao ra, tao đè mày cắt gân mày đa... Lâm sùi ngoan ngoãn đứng lên, bật lưỡi dao tách một cái. Lưỡi dao sáng loáng thoát khỏi vỏ, nằm trong tay run rẩy của Lâm sùi. Mừng lác hích Nguyễn Đạm: - Nó mất tinh thần rồi, anh hạ nó như giết ruồi. Nó trách trước: - Đừng làm tôi mất mặt! Nguyễn Đạm đứng dậy. Lâm sùi toát mồ hôi. Con người có dáng dấp hiền lành kia, có ai ngờ được tay khét tiếng Mừng lác tôn làm Thái Sơn trong làng. Lâm sùi xin xỏ: - Em xin lỗi anh! Nguyễn Đạm không nói năng gì, khiến Lâm sùi càng lo sợ: - Em xin anh tha mạng, còn sống em sẽ là đàn em khốn nạn dưới trướng anh. Em mới ra lò, có mắt như mù. Em xin anh, em lạy anh... Nguyễn Đạm toan bảo Lâm sùi về chỗ. Nhưng Mừng lác đoán được ý nghĩ đó. Nó khuyến khích: - Hạ nó đi! Bằng thế võ nhu đạo, Nguyễn Đạm chụp tay cầm dao của Lâm sùi bóp mạnh. Con dao rơi xuống đất, Nguyễn Đạm buông tay Lâm sùi ra: - Tha mày lần đầu nhớ chưa? Bọn du đãng nhà nghề nhìn cú chụp tay cầm dao của Nguyễn Đạm vốn đã sợ bóng sợ gió Đạm qua Mừng lác, giờ chúng nó sợ thật tình. Lại thấy Nguyễn Đạm tha Lâm sùi. Chúng nó đâm cảm phục Nguyễn Đạm. Mừng lác dang hai tay đón Đạm nó, hỉ hả: - Anh chinh phục bọn nó rồi. Ra ngoài tha hồ anh phá phách ở các phòng trà, không đứa nào dám động đến lòng chân anh đâu. Bọn nó đồn đãi anh, coi anh là “thần tượng” cho mà coi. Nguyễn Đạm trả Mừng lác con dao chửa kẹp lưỡi lại. Hai đứa ngồi khít bên nhau như cũ. Pha hồi hộp thoáng qua, nhạt nhẽo vô vị. Khi đá chọi với trứng bao giờ cũng tẻ nhạt. Trừ phi trứng chọi với đá. Bọn du đãng gục đầu xuống gối, tiếp tục ngủ. Lâm sùi cũng ngủ. Phòng tạm giữ chỉ còn nghe tiếng ngáy, tiếng thở và thỉnh thoảng, tiếng nấc của người em ngõ hẹp bị nghi oan là điếm. Mừng lác vỗ vai Đạm: - Chắc anh lạ lắm nhỉ? - Lạ gì? - Cái không khí này. Không đâu giống đâu cả. Nếu anh bị nhốt ở Tân Bình hay quận khác, phòng giam giữ lại khác. Có nơi trai gái bị nhốt chung, tha hồ sờ mó, hôn hít. Anh chưa biết đấy thôi, vào tù mà chúng nó còn hứng thú “bề” nhau. - Thật sao! - Thật chứ. Nhưng cớm nó biết, nó lôi lên quật no đòn, té đái, vãi cứt. Cũng hấp dẫn lắm! Mừng lác chuyển giọng: - Này Đạm! - Gì thế? - Gọi tên anh cho thân tình nhé! - Được mà. - Đạm đã rõ rồi đấy, du đãng chỉ hiếm hoi, tìm cả Saigon may ra được mấy mạng. Bọn cắc ké thì vô kể. Chúng nó bất tài vô tướng, chuyên đánh đòn hội đồng cậy đông bắt nạt ít. Như thằng kia, nó có gì đâu. Vậy mà ai không biết nó tưởng nó ghê gớm tầy trời. Mửng đó vô Tế Bần một phen, đuổi ra là về nhà ngoan ngoãn ngay. Nó nhăn mặt: - Đòn Tế Bần ác liệt chịu không thấu đâu. Giám thị nó cho mình chọn hai thứ. Một là ăn cứt, hai là ăn đòn thù. Chịu nổi thì thành anh hùng. Tiếng nói của nó uể oải: - “Anh hùng” chẳng ăn cái giải gì. Rốt cuộc phí đời mình Đạm ạ! Cuối cùng Mừng lác làm ma cô. Xã hội đã dùng tài chịu đòn của Mừng lác như thế đó... Rồi thưa dần... Và Mừng lác rũ đầu xuống gối, ngáy khò khò. Nguyễn Đạm ngắm ân nhân của mình. Nó thấy cái xác của kẻ gục đầu xuống gối toát ra một chất gì vừa đáng kinh tởm vừa đáng yêu mến. Tên du đãng khét tiếng ngủ một cách vất vả quá. Ai đảm bảo nó là du đãng nếu không biết nó là Mừng lác? Nguyễn Đạm chớp mắt nghĩ về mình. Mừng lác nói đúng. Dễ gì Bố Đạm đã tha thứ cho Đạm dù nó chẳng có lỗi gì. Cuộc đời Đạm sẽ rẽ sang một ngã rẽ nào? Nó đưa tay quệt hai giọt nước mắt bỗng dưng ứa ra, nó thở dài. Tiếng người con gái sau lưng nó vọng sang: - Anh chưa ngủ à? Đạm xoay hẳn lại. Hai tay nó bám vào song sắt. Cùng lúc đó, người con gái cũng xoay người lại. Hai tay nàng bám cùng hai song sắt Đạm bám. Bốn bàn tay hơi chạm nhau. Bốn con mắt gặp nhau. Không chớp. Người con gái nhỏ nhẹ: - Anh chưa ngủ à? Đạm kéo xích tay lên: - Chưa, tôi chưa ngủ, cô ạ! Ngủ làm sao được mà ngủ? Người con gái nói một câu bâng quơ: - Đêm dài quá! - Tại mình thức đấy mà! Tôi là Đạm, Nguyễn Đạm, học sinh đệ nhất Chu văn An. Cô tên gì nhỉ? - Dạ, Thủy, Trần Thu Thủy. - Cô còn đi học không? - Còn. - Trường nào? - Gia Long. - Lớp mấy? - Đệ tứ. - Năm nay cô Thủy thi rồi nhỉ? - Dạ. Im lặng. Hai người không biết nói thêm câu gì. Đạm nghĩ mãi mới hỏi: - Cô ở đâu? Chợt nhớ ra, Đạm lấp liếm: - Tôi ở đường Trần Bình Trọng, cô Thủy ạ! Tôi bị bắt buồn cười lắm. Bênh một người bán nước dừa mà nó vu tôi là du đãng Cầu Muối. Đạm thuật lại một ngày vất vả dài nhứt của đời mình cho Thủy nghe. Rồi nó kết luận: - Mai mốt giá tôi có trở thành du đãng, chẳng biết các nhà xã hội học sẽ phân tách tâm lý ra sao? Nó chép miệng: - Nhưng mình đâu có nhìn thấy tương lai của mình, cô Thủy nhỉ? À, cô đông anh chị em không? - Dạ, đông lắm ạ! - Mấy người? - Năm người. - Cô là thứ mấy? - Thứ nhất. - Tôi hỏi tò mò cô Thủy có phiền không? - Dạ, không dám phiền đâu ạ! - Vậy ông cụ ở nhà làm gì? - Ba tôi làm trong phi cảng. - Hồi đêm ông cụ có nhà không? Thủy chớp mắt thật mau: - Giá ba tôi ở nhà thì đâu đến nỗi... Hai giọt nước mắt Thủy ứa ra, chảy xuống má và dừng lại ở bên mép. Và rồi hai giọt nước mắt đó len lỏi trong miệng nàng, khơi nguồn cho những giọt nước mắt trào ra, rơi rụng... Đạm ngắm những giọt nước mắt của Thủy. Nó không khuyên nàng thôi khóc. Nó muốn nàng khóc nhiều, khóc thật nhiều... Đạm hy vọng nước mắt nàng sẽ tắm sạch chất dơ bẩn của cuộc đời, của xã hội vừa bám vào bộ lông trắng của con bồ câu. Thủy thổn thức: - Người ta bắt nạt chị em tôi, anh ạ! Đưa sổ gia đình người ta xé đi. Đạm thở dài: - Cô Thủy còn may mắn hơn tôi. Tôi bị chúng nó đánh hộc máu mồm, đánh mềm nhũn người rồi bắt tôi ký nhận tội du đãng. Thủy giật mình: - Nó có bắt tôi ký nhận làm điếm không anh? - Chưa biết. Thủy bật khóc khiến Mừng lác chợt thức. Nó ú ớ: - Cái gì đó? Đạm đưa tay khẽ đặt vào miệng nó: - Không có gì đâu. - Ai khóc đấy? Sợ Mừng lác nói năng nhảm nhí làm đau lòng Thủy. Đạm phủ đầu: - Cô Thủy, bạn của tôi, bị bắt oan tủi thân đó, Mừng lác ạ! Mừng lác đã tỉnh hẳn. Nó ngoái sang gian điếm, an ủi Thủy: - Khóc làm chi cô. Bọn chúng nó có biết mủi lòng đâu mà khóc. Tôi hoa dao định đâm địch thủ, nó xin, tôi tha nó để nó sống nó nuôi mẹ nó. Nó khóc, tôi còn biết khép lưỡi dao lại. Chứ bọn khốn kiếp này càng khóc nó càng đánh, càng xin tha nó càng quật mạnh. Cô khóc làm gì, phí nước mắt. Mừng lác nói dứt câu, ngó Đạm. Nó tự ý đứng lên đi ra chỗ khác. Đạm bảo Thủy: - Anh ấy là trùm du đãng Phú Thọ đấy, cô Thủy ạ! Nói theo các nhà đạo đức thì Mừng lác là cánh sen trong bùn. Không có Mừng lác che chở, tôi bị bọn du đãng trong này hành hạ đến chết mất. Nó móc túi lấy mùi soa đưa cho Thủy: - Cô dùng tạm, khăn hơi dơ một chút. Thủy đỡ khăn: - Cám ơn anh. Nàng thấm nước mắt. Nhưng vẫn sụt sùi: - Liệu nó có bắt tôi ký nhận làm điếm không anh nhỉ? Đạm không dám nói sự thực tàn nhẫn. Nó trấn tỉnh Thủy: - May ra nó tha đàn bà, con gái. Nó chỉ thù du đãng thôi. Thủy nhăn nhó: - Nhỡ nó bắt ký thì sao? - Thì cũng đành. - Rồi ba tôi sẽ nghĩ sao, các em tôi sẽ nghĩ sao, họ hàng tôi sẽ nghĩ sao, bạn bè tôi sẽ nghĩ sao? Đạm như đứt từng khúc ruột. Nó mang cái tâm sự của Thủy. Giống hệt, không khác mảy may. Nó nói nhỏ, đủ để Thủy nghe. - Tôi cũng đang lo như cô. Không biết gia đình tôi sẽ nghĩ thế nào khi có đứa con bị cảnh sát khép vào tội du đãng. Thì cũng đành vậy, cô Thủy ạ! Ba cô chắc sẽ hiểu cô. - Ba tôi khó tính lắm, mẹ tôi chết rồi không ai làm chứng được, các em tôi còn nhỏ. Giữa lúc đó, bên gian điếm có tiếng lách cách ở ổ khóa và cánh cửa kèn kẹt mở. Thằng Chà và chột lừng lững bước vào. Nó ngắm nghía các em điếm vừa thức giấc một lát rồi chỉ mặt năm em. Trong số đó có Thủy. Đạm đau nhói ở tim. Thủy òa lên khóc. Thằng Chà và chột ngắm con nai tơ, nham nhở: - Lên phòng anh ký giấy rồi về, em nhỏ. Nàng nức nở: - Tôi đâu có làm điếm mà ký? Thằng Chà và chột cười hềnh hệch: - Biết rồi, biết em không làm điếm anh mới tha chứ. Lên phòng anh lẹ lên kẻo anh buồn ngủ, hết mẹ nó hứng, cưng ơi! Đạm nghiến răng kèn kẹt. Hai bàn tay nó nắm thật chặt. Mắt nó tóe lửa nhìn Thủy đứng lên. Thủy ngoái lại. Đôi mắt sầu thảm của nàng gặp đôi mắt ngời căm hờn của Đạm. Nhưng Đạm bất lực. Nó hơi cúi đầu, quay đi chỗ khác. Tới lúc cánh cửa bên gian điếm đánh rầm, nó mới vụt đứng dậy, hai tay bám vào hai song sắt như muốn lay đổ. Mừng lác đã đến bên nó. Tên trùm du đãng Phú Thọ ghé sát tai Đạm: - Lo lấy thân mình, Đạm ạ! Nguyễn Đạm buông thõng hai tay: - Chúng nó sẽ làm gì nàng? - Hiếp! - Chúng nó hiếp nàng? - Lạ à? - Khốn nạn vậy ư? - Còn khốn nạn hơn nhiều, vớ món bở, hai ba đứa thay phiên nhau. Nguyễn Đạm khạc bãi đàm nhổ vào hàng song sắt: - Tôi tưởng chỉ có thú vật mới làm cái trò khốn nạn này. Ai ngờ... Mừng lác nhếch mép cười: - Chà và lại còn tệ hơn. - Người ta để chúng nó hãm hiếp đàn bà à? Mừng lác nhún vai: - Ai biết, đêm khuya mà. Các xếp Việt đi ngủ rồi. - Rồi kẻ bị hiếp ra sao? - Là điếm chính cống thì căm thù cớm, chưa là điếm sẽ biến thành điếm. Nguyễn Đạm thở dài: - Chúng nó sẽ hiếp nàng! Mừng lác thản nhiên đáp: - Chứ sao. Nàng ngon lành thế, gái tơ hơ hớ dễ gì thoát khỏi những con mắt dâm dật của lũ thợ đánh người. - Tởm quá! - Tởm quá thật! - Cứ thế mà tiếp diễn sao? - Cứ thế. - Sao không ai tố cáo? - Tố cáo ai? - Tố cáo pháp luật. - Làm chó gì có pháp luật ở cái xã hội này! Nguyễn Đạm chợt thấy nó đã hơi ngây thơ. Nó mới chửi những tác giả các bài báo viết về quyền nọ quyền kia của công dân. Nó mới chửi các ông luật sư, chánh án... Thế mà còn hỏi Mừng lác tại sao không tố cáo tội ác của bọn thợ đánh người với pháp luật. Nó lại ngồi xuống, dựa lưng vào song sắt. Mừng lác cũng ngồi xuống. Nguyễn Đạm hỏi: - Bao lâu nó đưa nàng về phòng? - Có thể nó tha luôn. - Thật không? - Thật, nếu nàng có ông Tổ rất thiêng! Nguyễn Đạm chán nản: - Thế là toi một đời con gái. - Toi nhiều rồi Đạm ơi! Nguyễn Đạm mím môi: - Mừng lác! - Gì thế? - Không dễ gì được tha, tôi đã về nhà nổi. - Tôi biết, ông cụ xua đuổi anh. - Mừng lác nói đúng. - Nhưng anh đừng lo, anh về ở với tôi tiếp tục học. Nguyễn Đạm vươn cánh tay: - Học hành chó gì nữa. - Học chứ. - Học làm gì? - Học để làm luật sư. - Bộ anh giỡn hả? - Thật đó. - Tôi nghĩ rằng anh cần phải làm luật sư. Anh không kéo dài vụ kiện để xoay tiền cơm của thân chủ, anh không lột của dân nghèo trơ trụi, anh chỉ cần đủ sống để phục vụ công lý, anh không cần phú quý thì không cần sài cảnh sát tư pháp làm ma cô đưa mối cho anh. Mừng lác tưởng nghề luật sư đâu có bần tiện, hèn nhát. Nguyễn Đạm trợn mắt nhìn Mừng lác: - Mừng lác biết nhiều quá nhỉ! Mừng lác hỉnh mũi: - Xó xỉnh nào tôi chẳng tới. Chuyện gì chẳng lọt mắt tôi. Đ. m. luật sư nhiều thằng bẩn như cứt. Nó cho vợ nó ra cửa tòa đón mối cho nó. Nó lột những người nghèo khổ, ngu dốt ưa kiện tụng đến phải bán cả cái quần rách, tống con đi ở đợ... Mừng lác dịu giọng: - Nhưng cũng có người tốt, những người tốt thì lại tốt quá. Tại sao Đạm không là một trong số những người tốt đó? Nguyễn Đạm ngạc nhiên. Nó ngó Mừng lác. Không phải là lần đầu tiên nó ngó Mừng lác, bây giờ nó mới nhận rõ khuôn mặt thật của Mừng lác. Đạm hỏi: - Mừng lác học đến đâu? - Chữ nghĩa ăn đong. - Sao Mừng lác nói văn văn hoa thế? - Chữ nghĩa của đời mà. Nó lảng chuyện. - Thế nào? Đạm bằng lòng về sống với Mừng lác không? Đạm gật đầu: - Đành thế thôi. - Sao lại đành? - Chẳng về với Mừng lác thì về đâu? Đạm chắc ông cụ không chứa chấp Đạm nữa. Nhưng Mừng lác cũng cứ cho Đạm một dịp may nhé! - Nghĩa là được tha Đạm thử về? - Đúng. - Đạm về tùy Đạm, song Mừng lác đã có kinh nghiệm về những chuyện “trở về” rồi. À Mừng lác nói ngay, bây giờ Mừng lác sống bằng huê lợi của bọn điếm. Nó nói tiếp, không đợi Đạm tỏ phản ứng: - Sống bám bọn điếm thì đê tiện thật nhưng mình đâu có bóc lột tụi nó. Một con điếm ở xóm nhỏ đáng lẽ “đi” một lần có năm chục, mình đưa nó lên hàng hai trăm, chỉ lấy có một trăm, nó vẫn lợi cơ mà... Nó xoa tay: - Xã hội này có cả triệu thằng ăn bẩn hơn mình. Càng làm lớn càng ăn bẩn, chúng nó ăn tiền của điếm để điếm tự do hành nghề, ăn tiền của bọn ăn cắp để bọn ăn cắp tự do “đi hiu”, ăn tiền của bọn chứa thổ đổ hồ để bọn chứa thổ đổ hồ ngang nhiên hoành hành. Chúng nó đem luật để bênh vực một con đĩ, một trùm nhà thổ, thản nhiên nhận thù lao kiếm bằng sự “bán trôn” và móc túi của bọn bất lương. Thì cũng bẩn như mình. Có gì là lạ phải không, Đạm? - Tôi chưa hiểu về cuộc đời. - Rồi Đạm sẽ hiểu và Đạm chỉ muốn “ỉa” vào cuộc đời. Cuộc đời thiếu chó gì chuyện đưa đẩy mình tới chỗ không cầm dao đâm người thì không chịu nổi. Nữa là chuyện bọn Chà và hiếp dâm tội nhân. Đạm chợt nghĩ tới Thủy. Mắt nó hoa lên. Lòng dạ bồi hồi. Nó níu cánh tay Mừng lác: - Liệu chúng nó có hiếp Thủy không? - Liệu gì nữa? - Nó hiếp à? - Chứ sao! - Thế thì... Mừng lác tiếp lời Đạm: - Thế thì nhớ mặt thằng khốn nạn đó. Nhớ những bộ mặt của những thằng khốn nạn đó nghe, Đạm. - Để... - Để... Mừng lác nghiến răng: -... Ra ngoài cắt gân chúng nó. Nó vỗ vai Đạm: - Còn giờ hãy nuốt căm hờn đi kẻo chúng nó cắt gân mình. Mừng lác xoa vai Nguyễn Đạm: - Hoặc Đạm nuôi chí căm thù bằng cách học thật giỏi để làm lớn bắn bỏ mẹ hết những thằng khốn nạn. Hoặc Đạm nuôi chí căm thù bằng cách nhập làng du đãng. Tỉa từng thằng mình thù ghét. Mừng lác muốn Đạm trở thành luật sư là thế đó. - Cần gì phải là luật sư. Vô khối thằng làm lớn dốt như chó thì sao? - Là luật sư thì có lợi cho du đãng. Chưa ai bênh vực du đãng một cách thực tình. Chẳng hạn, Đạm giết thằng Chà và chột vì thằng khốn hiếp cô Thủy của Đạm. Nếu Đạm không có luật sư riêng của giai cấp Đạm, làm cố vấn giết người cho Đạm, công lý nào soi sáng nguyên do khiến Đạm giết thằng Chà và? Nó nuốt nước miếng: - Mình nghèo xoay đâu ra tiền mướn luật sư khác. Đ. m., đụng đến chúng nó, chúng nó bòn rút không còn xì líp! Luật sư có đứa nào tình nguyện cãi phước thiện cho dân khố rách áo ôm đâu? Mừng lác biết có nhiều vụ các luật sư chê bỏ, Luật sư Đoàn chỉ định một thợ cãi cãi Phước thiện. Thí dụ: Cãi cho thiếu tá nọ, tên thợ cãi vừa nổi tiếng vừa lột cả mấy trăm ngàn của vợ tội nhân. Đến nỗi khi chồng bị khổ sai chung thân, bầy con đứa thì gửi chỗ này, đứa thì gửi chỗ nọ nhờ người nuôi nấng dùm vì có tí tiền nào thợ cãi lột sạch. Ấy thế mà nó vẫn bảo nó vì... lòng hào hiệp, vì muốn làm sáng tỏ công lý nó nhận cãi phước thiện thì có chó không cơ chứ! Mừng lác đang say sưa chửi bới luật sư. Bỗng nó im bặt. Vì cửa phòng giam điếm kêu ken két. Mấy con điếm thản nhiên bước vào, coi như chẳng có chuyện gì. Tới lượt Thủy. Nàng mệt mỏi, đầu tóc bơ phờ, quần áo rách bươm. Nàng khập khiễng bước vào. Tới giữa gian Thủy ngã khụyu. Vừa lúc, cánh cửa đóng rầm. Nguyễn Đạm vụt dậy. Mừng lác kéo nó xuống. Tiếng thằng du đãng rít qua kẽ răng: - Nghiến răng mà chịu, kẻo đứt gân thì hết trả thù. Nó nói nhỏ: - Không thiếu quân chỉ điểm quanh chúng mình đâu. Nguyễn Đạm nhìn Mừng lác. Nó không tỏ thái độ mà chỉ nhìn Thủy bằng đôi mắt đầy xót thương.
ỘT ĐÊM THẬT DÀI ĐÃ QUA. PHÒNG TẠM GIỮ sống động hẳn lên vì nhiều đứa sắp được ra. Gian điếm, bọn giang hồ cười nói tíu tít. Chúng nó thay phiên nhau đứng bám vào song sắt ưỡn ngực hứa hẹn với bọn du đãng. Đêm nay hay đêm mai. Nhân vật Hưng mặt thẹo đã bị quên lãng. Bây giờ, bọn giang hồ ve vãn Mừng lác, Năm sáu ngón và Nguyễn Đạm. Con điếm tống tình Hưng mặt thẹo chập tối, đang thò hai tay qua song sắt với Nguyễn Đạm. Mừng lác lộn tiết. Nó bảo Đạm: - Để tôi cho nó bài học. Nó bước tới chấn song sắt luồn tay ôm lưng con điếm. Nó ghì chặc đến nổi con điếm hét lên: - Đau thấy mẹ! Mừng lác gắn môi nó vào môi điếm. Hai môi dính chặt lấy nhau như nam châm hút sắt. Mừng lác xoa lưng, xoa mông con điếm, nó lần khuy áo con điếm cởi dần. Con điếm thỏ thẻ: - Em tên Vang... - Anh biết quá mà. - Em ở Gò Vấp. - Khai nốt đi. - Khu có bọn chuyên chơi quỵt. - Thì đánh bỏ mẹ nó. - Em nhờ anh nhé. - Ừ. Mừng lác đã lột áo con điếm. Những thằng du đãng khác muốn phát sốt. Chúng nó quên cả đói khát, mắt hau háu theo dõi cảnh diễm tình nhà tù. Những con điếm khác bắt chước Vang, xí phần: - Anh Năm sáu ngón của em. - Anh Lâm sùi của em. - Anh Bảy rỗ của em... Khoảnh khắc, chấn song sắt đã khiến thành hàng rào thịt. Một bên là du đãng. Một bên là điếm, chúng nó tự nhiên tỏ tình. Tỏ tình trong phòng giam, trong sự ê chề, tủi nhục của kiếp người. Nguyễn Đạm chờ đợi “bài học” Mừng lác dạy con Vang. Nhưng không nghe thấy gì. Chỉ nhìn đôi bàn tay Mừng lác xoa nắn con điếm. - Em thơm quá! - Anh đẹp trai ghê! - Ra ngoài ở bin đinh với anh nhé! - Thèm vào! - Em ở với anh lên giá năm bò. Chứ em ở Gò Vấp hạng nhất là bảy chịch. Những cặp khác đấu hót: - Anh lấy mẹ nó em đi, anh ạ! - Lấy em ăn giải gì? - Thì khỏi phải đi đấm đá. - Đấm đá em hết cha nó xí oát! Tiếng cười sằng sặc: - Dạo này lính bố dữ, anh ơi! - Sao nữa? - Tụi mình ở với nhau, hai đứa xoay lấy cái sổ gia đình, anh làm chồng em làm vợ. Anh gác cho em tiếp khứa, khỏi bị lính xúc. Rồi hai đứa cùng no nê. - Ờ... ờ... Nghe hay đa. - Làm ăn dạo này khó bỏ mẹ đi ấy nhưng nếu anh chịu lấy em, có tiền dư anh đánh bài à... - Bộ em phỉnh hạng luých, hả? - Đâu có. Nếu anh chịu, tụi mình ở riêng, chị Hai đâu còn ăn phần trăm được. - Ô kê. Nguyễn Đạm đứng lên. Nó kéo thằng Năm sáu ngón giật mạnh. Năm sáu ngón ngã ngửa. Nguyễn Đạm đẩy luôn con điếm lấy chỗ trống kiếm Thủy. Nó thấy Thủy ngồi co ro ở góc phòng. Nguyễn Đạm hét: - Cô Thủy! Thủy ngước mắt nhìn Đạm. - Cô nhắm mắt, bịt tai lại! Tôi van cô, cô nghe tôi đi cô Thủy. Nó nhăn nhó: - Nghe Đạm đi Thủy... Đang say sua nắm Vang, Mừng lác chợt nghe tiếng Nguyễn Đạm. Nó buông con điếm ra và quát: - Đ. m., chúng mày về chỗ gấp kẻo tụi nó sắp vô... Bọn du đãng và bọn điếm giải tán trong nỗi tiếc ngẩn ngơ. Mừng lác bước gần Đạm, đặt bàn tay lên vai Đạm. - Mừng lác xin lỗi Đạm. Nó ra lệnh: - Tụi mày úp hết mặt vô tường, đứa nào không có chỗ úp mặt, nhắm mắt lại. Đứa nào mở mắt tao đâm lòi con ngươi luôn. Cả phòng tuân lời nó. Mừng lác dịu giọng: - Cô Thủy! Thủy ấp úng: - Dạ... - Mời cô tới đây. Thủy ngoan ngoãn đứng dậy. Cùng lúc đó, Mừng lác cũng bỏ đi chỗ khác. Thủy đã khập khểnh đi đến chấn song sắt. Khuôn mặt nàng tiều tụy. Đôi mắt trũng sâu, thâm quầng. Nước da nàng tái đi. Thủy là hiện thân của sự thê thảm. Nàng bám hai tay vào hai song sắt, nước mắt nàng bắt đầu ứa. Và giọng nàng không còn giống giọng nàng đêm hôm trước nữa. Bọn Chà và đã làm thay đổi giọng nói của nàng. Có thể, chúng sắp làm thay đổi cả cuộc đời nàng. Thủy mấp máy đôi môi: - Tôi... Nguyễn Đạm xua tay: - Đừng nhắc lại nữa, Thủy. - Anh đã... - Đạm đã hiểu. Thủy luồn tay sang. Đạm níu lấy cánh tay nàng. Nó đặt bàn tay của nó vào bàn tay nàng. Rồi hai tay của hai kẻ khốn nạn đan lấy nhau. - Anh... - Em... Tiếng khóc dẫn lối. Và tình yêu đi vào linh hồn hai người trẻ tuổi. - Anh không khinh em? - Anh thương em. - Em đã bị... - Nếu anh là em, anh sẽ bị như em. Cuộc đời của mình còn thiếu gì những nghịch cảnh đau thương hơn. - Nhưng... - Anh biết em muốn nói gì rồi. Em đừng nói nữa. Anh sẽ giết chúng nó! Anh sẽ giết chúng nó! - Em van anh. - Em đừng van anh, kẻ nhịn nhục được căm hờn hoặc sẽ trở thành thánh, thành kẻ mất trí hoặc thành kẻ sát nhân. Anh không thích làm thánh, không muốn làm kẻ mất trí. Anh sẽ giết những đứa đầy đọa em. - Còn tương lai anh? - Tương lai anh ư? Bắt đầu tương lai anh ở đây, em ạ! - Gia đình anh? - Khỏi nhắc, còn em, em ở đâu? - Em ở... - Ra ngoài anh sẽ tìm em. - Vâng. Tiếng chìa khóa tra vào ổ làm dứt lời tâm sự của hai đứa. Đạm luyến tiếc buông tay Thủy. Cửa giam điếm mở tung. Không thấy bóng một thằng Chà nào. Hai người cảnh sát đứng ở cửa. Cuốn sổ được mở ra. - Nguyễn thị Năm! - Dạ! - Jacqueline Hồng! - Có tôi. - Marie Hoành! - Dạ. Tên người thứ hai mươi: - Trần thị Thu Thủy. - Dạ. Người cảnh sát lạnh lùng: - Được trả tự do. Đạm thở phào khoan khoái. Người cảnh sát quát: - Thôi cút đi khỏi đây! Hai chục mạng vừa là điếm vừa bị tình nghi điếm lếch thếch kéo nhau ra khỏi phòng, Thủy ngoái lại nhìn Đạm. Nàng bắt gặp ánh mắt đầy xót thương trông theo mình. Nang vẫy tay giã từ Đạm, giã từ địa ngục của con gái nhà lành. Người cảnh sát gấp cuốn sổ lại: - Còn bao nhiêu sửa soạn đi lục xì! Lục xì, hai tiếng này đối với bọn giang hồ không khác gì địa ngục. Đó là thứ địa ngục trên trần gian. Là nơi con người bị đối xử tàn nhẫn hơn thú vật. Người ta lột trần bọn điếm ra, nghịch ngợm, sờ mó, chửi bới. Người ta phỉ nhổ, gớm ghiếc các nhân vị của bọn gái giang hồ. Con điếm Vang khóc thét: - Ối giời ơi! Em đi lục xì anh Mừng lác ơi! Mừng lác nhỏ bãi nước miếng: - Ai bảo em làm đĩ? Con điếm Vang thút thít: - Không làm đĩ lấy gì mà hốc? Rồi nó tự nhiên kể lể đời nó. Nó công khai vạch trần cái dĩ vãng điếm của nó cho bọn du đãng nghe. Như bất cứ một con điếm nào, Vang cũng biết tạo ra một trường hợp bi đát để kết luận rằng nó không chủ trương làm điếm. Hoàn cảnh xô đẩy nó, xã hội dồn nó xuống Ngã Ba Chuồng Chó, Vườn Lài, Chú Ía... Nó vừa khóc vừa kể. Bất chợt, nó cười the thé: - Mà chẳng làm đĩ thì còn làm gì nữa hả, các anh? Dạo này người khôn của khó. Nó phá ra cười. Tiếng cười của con điếm Vang nghe mới ghê rợn làm sao! - Thôi đủ rồi, em câm mồm em đi. Con Vang tròn xoe mắt: - Anh chê em à? - Không. - Em về với anh mà... Mừng lác lắc đầu: - Không được nữa. - Sao. - Không biết. Mừng lác dìu Nguyễn Đạm ra chỗ khác. Nó ra lệnh cho bọn du đãng: - Đứa nào muốn làm ăn thì làm. Đừng có ồn. Tao ghét ồn ào. Bọn du đãng chỉ chờ có vậy, lăn xả tới biên giới song sắt. Bọn điếm cũng nhào tới, và xen diễm tình nhà tù tái diễn. Mừng lác và Nguyễn Đạm ngồi cạnh nhau. Đạm nhìn những ông nghiện thuốc phiện đói cơm đen, vật vã như người sốt mà não lòng. Những thằng móc túi, những thằng du đãng hạng bét yên phận ngồi bó gối. Chấn song sắt không thừa chỗ cho chúng nó vớt vát chút ái tình nhà tù. Hưng mặt thẹo nằm co quắp bên Bảy rỗ với những vết đau bầm tím mặt mày, thân thể. Thế nhưng ở chấn song sắt, những thằng du đãng chì vẫn có thể ân ái một cách thật tình. Đạm nghe rõ chúng nó tán tỉnh hẹn hò nhau khi ra ngoài. Bất giác nó lại nhớ đến Thủy. Con điếm Vang vừa nói đến hoàn cảnh xô đẩy nó vào nghề điếm. Thủy bị hãm hiếp. Liệu nàng có thành đĩ không? Nguyễn Đạm vùng dậy: - Không được! Bọn du đãng và bọn điếm đang say sưa phiêu lưu trên da thịt bỗng buông nhau ra. Mừng lác đứng lên: - Đạm không chịu để bọn khốn ôm ấp nhau à? - Không phải. - Thế “không được” gì? - Có chuyện riêng. Mừng lác xua tay. - Tụi bây cứ tiếp tục, nhớ đừng ồn ào... Bọn du đãng cười rúc rích, cám ơn đàn anh rối rít. Lại ngồi bên nhau, Mừng lác hỏi: - Đạm có chuyện gì? - Tôi lo cho Thủy. - Lo cho cô ấy bị nhà quở? - Không. - Thế lo gì? - Lo nàng làm điếm! Mừng lác cười khanh khách: - Anh ngây thơ quá! - Sao bảo tôi ngây thơ? - Tại Đạm nghe con Vang. Tụi điếm phịa chuyện giỏi lắm Đạm à! Nghề của chúng nó là phịa chuyện, đến nỗi bóp mình có bao nhiêu tiền móc hết đưa cho nó. Rồi Đạm bỏ về, thù oán xã hội, thù oán tất cả. Đạm biết đâu, lúc Đạm hằn học, con điếm đem chuyện ngố của Đạm ra kể cho đồng nghiệp nó nghe. Và cả bọn chửi rủa Đạm tơi bời. Nguyễn Đạm cắn môi: - Thật ư? Mừng lác vỗ mạnh vào vai Đạm: - Thật chứ, một trăm con điếm thì chín mươi chín đứa lười biếng, chọn nghề... cho nhàn hạ. May lắm mới có một đứa vì hoàn cảnh. Những đứa vì hoàn cảnh, Đạm gặp sẽ nản ngay. Ấy vậy mà mấy thằng viết tiểu thuyết tả những con điếm trí thức ra phết. Trong khi chúng nó chỉ nghiền tiểu thuyết huê tình! Nó búng tay tách một cái: - Người có học như cô Thủy của anh, chỉ khi nào hưởng tận cùng sự đau khổ mới dám quên đời để làm liều. Nguyễn Đạm đần người ra, hỏi một câu hết sức vớ vẩn: - Nghe nói có nữ sinh làm điếm. Mừng lác gật đầu: - Đúng. Nhưng toàn điếm chuyên nghiệp giả vờ đi học để được cấp cái thẻ học sinh. Thời buổi khó khăn, ai cũng ham của lạ, bọn mụ đầu bày ra cái trò này. Nguyễn Đạm thở dài: - Sao bảo có cả nữ sinh trường công? Mừng lác cười: - Họa hoằn mới có vài đứa hoặc vì mẹ già bệnh tật, em dại đói rách phải bán mình vài đêm; hoặc vì thèm ăn diện. Nhưng những đứa viết tiểu thuyết vô lương tâm cứ muốn sa đọa xã hội, bi thảm hóa xã hội. Thành thử, dưới mắt chúng nó, tất cả nữ sinh từ 16 tới 22 tuổi đã trở thành điếm hết. - Dân ăn chơi nói chứ đâu phải bọn nhà văn! - Dân ăn chơi rặt những thằng nói phét. Có một nó đồn mười. Nói phét để tỏ rằng mình là tay chơi hữu hạng. Nguyễn Đạm nghe Mừng lác giảng giải, hết thắc mắc vẩn vơ về Thủy. Nó thấy nó bé nhỏ quá, ngu dốt quá đối với Mừng lác, mặc dù nó đã nắm chắc cái bằng Tú Tài 1 trong tay. Nhưng Nguyễn Đạm không kịp nghĩ thêm và ca ngợi sự hiểu biết của Mừng lác. Cửa giam điếm lại mở. Tiếng người cảnh sát vọng vào: - Ra cả bên ngoài chờ đi lục xì! Bọn điếm rầu rĩ giã từ bọn du đãng. Những thằng du đãng chỉ bám chấn song sắt đưa mắt trông theo. Tiếc của trời cho. Cùng lúc đó, cửa giam du đãng cũng xịch mở, cảnh sát đã phân loại kỹ càng. Những thằng móc túi. Những ông dân làng bẹp được kéo ra trước. Sau đó tới phiên Hưng mặt thẹo và những thằng khác. Trong gian phòng chỉ còn lại Mừng lác, Nguyễn Đạm và Lâm sùi. Ba mẩu bánh mì kẹp trứng vịt tráng được ném vào. Ba tội nhân rửng rưng nhìn đồ ăn lăn lóc trên những vũng nước đái đã quánh khô. Nỗi cô đơn đùn lên tâm hồn Mừng lác. Chưa bao giờ nó sợ hãi sự vắng lặng như bây giờ. Và cũng chưa bao giờ nó bị nhốt trong phòng giam chỉ có ba người. Mừng lác linh cảm thấy tai họa sắp bổ xuống đầu nó. Nó cũng linh cảm thấy số phận nó rồi đây sẽ ràng buộc với số phận của Nguyễn Đạm, Lâm sùi, cái số phận hẩm hiu, khốn nạn của những thằng thanh niên bơ vơ trong cuộc sống sô bồ, ngụp lặn trong những vũng bùn hôi của xã hội. Những thằng thanh niên bị tước đoạt lý tưởng ngay từ lúc biết thêm lý tưởng. Và rồi đi làm ma cô nuôi miệng, làm du đãng đấm đá cho đỡ ngứa chân tay. Mừng lác thở dài. Nó bảo Lâm sùi: - Mày đoán được việc sắp xảy ra không? Lâm sùi vươn vai: - Chịu. - Mày còn thù tao không? - Em đâu dám. - Đừng thù tao nữa, tao biết ba chúng mình sắp cần nhau. Số phận đã định đoạt cả. Và cảnh sát chỉ thi hành. - Cảnh sát sẽ làm gì bọn mình. Mừng lác nhún vai: - Chưa biết. Nhưng Mừng lác hơi hơi ớn. Đạm biết không, Mừng lác đã vào Tế Bần, sợ lắm, hết ham làm du đãng. Mừng lác đổi nghề. Muốn yên thân sống để tiêu tiền. Nguyễn Đạm nghiến răng: - Còn tôi, Mừng lác tưởng không muốn yên thân sao? Mừng lác hướng về Lâm sùi: - Còn mày? Lâm sùi liếm môi: - Em đi đánh mướn lấy tiền cho ba em hút thuốc phiện! Mừng lác cười khinh bạc: - Rồi quen tay mày thích đấm đá phải không? - Dạ. - Tao biết, vì tao đã đấm đá. Nhiều lúc ức quá, chẳng biết đấm đá ai cho bỏ tức, tao đấm đá người hiền nhất, yếu nhất, đấm đá xong cơn ức lại đùn lên. Và cứ thèm đấm đá! Lâm sùi nuốt nước miếng: - Em định ra lần này, giải nghệ, anh ạ! Mừng lác bĩu môi: - Ra lần này sẽ trở thành ác liệt hơn, cả tao nữa, tao linh cảm thế. Bọn mình sẽ là những du đãng lừng nhất Saigon. Nó ngắm nghía Đạm: - Cả Đạm nữa, Đạm ạ! Nguyễn Đạm không nói năng thêm. Nó hướng mắt sang gian điếm. Mắt nó mơ đi. Nó thấy Thu Thủy hiện ra ở chấn song sắt. Nó thấy bọn Chà và hãm hiếp nàng. Nó thấy cửa phòng mở và Thu Thủy khập khễnh bước vào, ngớ ngẩn cơ hồ người bị mất linh hồn, cơ hồ đứa trẻ con bị tước đoạt tuổi thơ... Nó thấy... Nguyễn Đạm giận run lên. Nó hét: - Anh sẽ giết chúng nó, anh sẽ trả thù cho em... Mừng lác ôm chặt Nguyễn Đạm: - Cố nín, đừng nói, được không Đạm? Nước mắt Đạm ứa ra. Nó gật đầu lia lịa: - Được, được... Ngay lúc ấy, cánh cửa phòng hé mở. Bọn Chà và ngạo nghễ xuất hiện. Ba đứa nhận diện rõ tên Chà và chột. Nhìn những mẩu bánh mì chưa tiêu thụ, thằng Chà và chợt hất hàm: - Chê à? Mừng lác lắc đầu: - Không chê đâu, cho uống nước đã, khát quá ăn sao nổi. - Tụi mày cần gì uống. Nó ra lệnh: - Nhặt lên ăn di! Nó rút chiếc roi da trong túi ra: - Nào ăn đi kẻo đói các con. Mừng lác cúi xuống lượm bánh mì trước nhất, kế đến Lâm sùi và Nguyễn Đạm. Ba đứa khát khô cổ mà vẫn phải nhai bánh mì. Đó là một cực hình trên trái đất. Đợi ba đứa ăn xong, thằng Chà và mới tiết lộ: - Tội các con nặng lắm, các con biết chưa? Lâm sùi đâm bướng: - Tội chó gì? Thằng Chà và chột cười khẩy: - Ông nội mày không đánh mày nữa đâu, con ạ! Sửa soạn áo quần cho bảnh bao, chiều nay thứ Bảy, người ta sẽ “triển lãm” chúng mày! Nó nói dứt câu, bỏ đi. Nửa tiếng sau nó mới mang nước vào, dặn thêm: - Có được “hoan nghênh” đừng quên ơn tao nhé! Ba đứa ngạc nhiên không hiểu “triển lãm” là cái tội gì. Đứa nọ nhìn đứa kia. Mồ hôi chúng nó toát ra như tắm.
HÚNG NÓ BỊ CẠO TRỌC ĐẦU, NGƯỜI THỢ hớt tóc chỉ “tăng đơ” (tondeuse) có một lượt và không thèm cạo mặt, nên tóc lam nham trên đầu chúng nó, chỗ trắng chỗ xanh. Lông mặt nổi rõ nhất là ở chỗ tóc mai trông gớm ghiếc. Nguyễn Đạm không hỏi Mừng lác nhưng nó ngó khuôn mặt Mừng lác và Lâm sùi cũng đoán được mặt mũi nó ra sao lúc này. Điều Đạm thắc mắc là chẳng biết tại sao cảnh sát gọt đầu nó sớm sủa thế. Đáng lẽ chúng nó phải được dẫn ra phòng dự thẩm. Ở đây, ông dự thẩm ký trát tống giam chúng nó tại khám Chí Hòa trước khi ra tòa lãnh án. Cảnh sát đã bỏ thông lệ đó. Đầu tóc chúng nó không do thợ hớt khám Chí Hòa “sửa sang” mà lại do thợ hớt tóc bên ngoài cảnh sát mướn hớt cho chúng nó. Hớt tóc để làm gì? Nguyễn Đạm hỏi Mừng lác: - Trò gì nữa đây? Mừng lác đưa tay xoa cái đầu trọc: - Bố ai hiểu nổi? Lâm sùi nói: - Nó dám tống mình khiêng đạn lắm à? Mừng lác hất hàm: - Sao mày biết? - Em đoán. - Mày đoán sai rồi Lâm sùi ạ! - Theo ý anh, chúng nó sắp làm gì? - Đã bảo bố ai hiểu nổi. Nguyễn Đạm mím môi suy nghĩ. Nó không đủ thì giời suy nghĩ lâu. Cửa phòng đã mở. Cảnh sát viết chữ lên trán mỗi đứa. Nguyễn Đạm đọc trên trán của Mừng lác thấy hai tiếng DU ĐÃNG. Mực Tàu đen hằn trên da Mừng lác. Nguyễn Đạm chẳng lấy làm lạ. Nó cũng linh cảm như Mừng lác linh cảm rằng số phận nó ràng buộc vào số phận Mừng lác, Lâm sùi. Viết chữ ba đứa trên trán xong xuôi, cảnh sát lột quần áo của chúng nó ra, chỉ cho mặt trần si chiếc quần sà lỏn. Đoạn, cảnh sát còng tay, còng chân chúng nó liền với nhau bằng hai sợi xích dài. Và kéo chúng ra đường, đẩy lên xe, chở chúng lên phố Tự Do. Chiếc xe ngừng trước cửa Nhà Hát Lớn. Cảnh sát lôi ba tên du đãng xuống đường. Đến lúc này, bọn du đãng vẫn chưa biết cảnh sát “hành” chúng nó trò gì. Chừng ông cò bắt chúng nó quỳ xuống vỉa hè xít vào trong công viên một chút và đeo hai cái biển sắt tây mỏng vô cổ mỗi đứa, tòn teng trước ngực, sau lưng, Nguyễn Đạm mới hiểu ý nghĩa hai tiếng “Triển lãm” mà thằng Chà và chột đe dọa buổi sáng. Nỗi uất ức tràn lên cổ họng Nguyễn Đạm. Nhưng uất ức tiêu tan ngay nhường chỗ cho cực hình của nhục nhã dầy vò người thanh niên hào hiệp. Hắn không có tội gì. Chỉ có tội sống trong một xã hội điếm nhục, pháp luật bị hiếp dâm cùng với gái vị thành niên. Và những đứa hiếp dâm pháp luật, hiếp dâm gái vị thành niên đều là những đứa có đủ quyền sinh sát trong tay. Sự điếm nhục gấp bội khi những đứa hiếp dâm pháp luật lại to mồm chủ trương dân chủ và tôn trọng nhân vị con người. Nguyễn Đạm quỳ gối trên lớp đá dăm. Da thịt nó không đau, gối nó không mỏi, song tim nó đau và tâm hồn nó rời rã. Nó cúi gầm mặt. Xấu hổ đến độ không còn nước mắt để ứa ra. Nó đặt môi vào giữa hai hàm răng. Nghiến chảy máu. Mừng lác và Lâm sùi cùng cúi gằm mặt. Đòn Tế Bần ác liệt, Mừng lác chịu đựng nổi, tuy ớn sương sống và phải giải nghệ nhưng Mừng lác thấy nó còn êm ái hơn cái đòn... quỳ giữa trời. Lâm sùi khôn ngoan hơn. Nó cầm tấm biển trước ngực che mặt để lẩm bẩm chửi. Ba con thú vật đầu tóc nham nhở triển lãm giữa cuộc sống có dân chủ, tự do, bác ái và nhân vị. Ba con thú người mà nhìn vào sáu tấm biển, dân chúng biết thêm đó là ba tên du đãng. - Nguyễn Đạm: trùm du đãng Cầu Muối. - Mừng lác: vua giết người Phú Thọ. - Lâm sùi: chúa đảng cướp giật, hiếp dâm đường Nguyễn Thông. Tên tuổi và thành tích của ba đứa được phơi bày rõ rệt. Hai sợi xích dài đã gắn bó chúng nó. Chúng nó thương nhau hơn cả bao giờ. Tình thương luôn nảy nở ở những nơi cùng cực thảm thê. Buổi chiều thứ Bảy, Saigon tấp nập. Phố Tự Do và Lê Lợi, hai phố đông người qua lại nhứt. Cuộc triển lãm người bị xích, quỳ gối đã lôi cuốn hàng trăm kẻ hiếu kỳ. Dân chúng nghe nói nhiều về du đãng qua báo chí. Chiều nay mới tận mắt nhìn rõ du đãng. Người đã bị du đãng cướp giật, tới sát bọn Mừng lác chửi bới nhổ nước miếng vào mặt chúng. Các cô gái đẹp phây phây chỉ cho nhau cười cợt. Khách ngoại quốc xí xố bàn tán. Trẻ con nhặt đá sỏi ném bồm bộp vào thân thể ba tội nhân khốn nạn. Mắt đã mờ hẳn. Trong lớp mây mù tủi nhục Nguyễn Đạm vẫn còn nhìn rõ chuồng khỉ trong Sở Thú. Nó và hai thằng bạn của nó là những con khỉ. Viên sỏi choang đúng biển sắt tây. Tiếng kêu cơ hồ tiếng nứt vỡ trái tim người thanh niên. Cùng với tiếng thứ hai nứt vỡ và loảng xoảng, một tiếng kêu kinh ngạc: - Đạm! Tiếng kêu làm Đạm giựt mình. Nó chớp mắt cho tan lớp mây mù ngước nhìn lên: - Tao đây mà. Hùng đây mà! Đạm ngơ ngác. Hùng nói to: - Mày không nhận ra tao nữa à? Đạm lắc đầu rồi cúi gằm mặt. Hùng thở dài ghé sát tai cô bạn gái: - Chắc nó bị ăn đòn nhiều, mất trí rồi. Hùng hỏi: - Có nhắn ông cụ can thiệp không? Đạm không trả lời. Hùng toan châm điếu thuốc đem tới cắm vào môi bạn thì phóng viên nhiếp ảnh ngoại quốc đã ầm ập kéo đến chụp ảnh lia lịa. Ánh đèn “flash” không làm chói mắt Đạm. Mắt nó gần như mù rồi. Thông tín viên các Hãng Thông Tấn phỏng vấn mấy người cảnh sát canh giữ bọn du đãng liên miên. Kế đến nhiếp ảnh viên và phóng viên bổn xứ. Hàng chục ngàn khán giả đã được tận mắt chứng kiến cảnh triển lãm người này. Một số nhỏ tỏ vẻ thích thú cho là biện pháp thích ứng nhất của Chính Phủ Ngô Đình Diệm. Nhưng phần đông bất mãn, từ cái hình phạt này, vội vàng suy ra những hình phạt sắp tới của chính phủ Diệm đối với những người đối lập anh em ông ta. Buổi chiều thứ Bảy dài hơn đời người, dài gấp trăm đêm trong phòng tạm giữ. Ba thanh niên của thế hệ Ngô Đình Diệm nghiến răng, gục mặt xuống sỏi đá, mầm căm thù đã đâm chòi... Chiều hôm sau các báo xuất bản ở Saigon dành những chỗ thật đặc biệt để đăng tải về vụ «triển lãm» người này. Hình ảnh ba tên du đãng tràn ngập trên trang nhất. Ký giả viết bình luận thì chống đối việc chà đạp nhân vị con người. Phái viên tường thuật thì viết bằng giọng vẫn tràn đầy cảm động. Tất cả đều đứng về khía cạnh con người để nhận xét cái hình phạt vô nhân đạo của chính phủ. Phản ứng của báo chí mạnh quá. Báo chí không dám đánh thẳng ông Ngô Đình Diệm hay ông Tổng trưởng Nội Vụ, mà chỉ kết tội cảnh sát một cách mập mờ. Mặc dầu vậy, Nguyễn Đạm, Mừng lác và Lâm sùi cũng vẫn bị triển lãm thêm trọn ngày Chủ nhật. Cả Saigon đã biết mặt những tên trùm du đãng. Sự tủi nhục làm tê dại tâm hồn người thanh niên. Họ quỳ gối ở công viên trước Nhà Hát Lớn nhưng linh hồn họ không có ở đó. Cảnh sát định làm những cuộc triển lãm lưu động tại những chỗ đông người qua lại. Chủ đích của cảnh sát là cảnh cáo bọn du đãng đang hoạt động, bọn đá cá lăn dưa, bọn khốn nạn, sâu mọt của xã hội trông thấy cái gương bêu nhục này tất sẽ ớn, sẽ giải nghệ du đãng. Nhưng chương trình của cảnh sát bị báo chí phá ngang. Báo chí yêu cầu chính phủ hủy bỏ cái hình phạt mới mẻ này. Báo chí nhấn mạnh rằng, hình phạt này không những chẳng cải hóa nổi du đãng mà còn gây thêm lòng thù hận của chúng. Báo chí đã thành công. Bọn Nguyễn Đạm khỏi bị đi triển lãm lưu động. Chúng đã thành ba nhân vật đáng chú ý dưới mắt báo chí. Lâu nay, đời sống vào khuôn khổ, báo chí thiếu đề tài khai thác. Quanh đi quẩn lại chỉ ca ngợi công đức và sự nghiệp Ngô Đình Diệm. Nay vớ được đề tài hấp dẫn, báo chí vồ luôn và khai thác mọi khía cạnh. Một vài báo có khuynh hướng đối lập, nhè cái học thuyết nhân vị của ông Ngô Đình Nhu đả kích phất phơ. Bọn Nguyễn Đạm nhờ báo chí mà được cảnh sát đối đãi tử tế. Chúng nó vẫn được giam ở phòng tạm giữ quận X. Cảnh sát cho chúng nó ăn uống đàng hoàng. Những chữ “du đãng” mực Tàu hằn trên trán ba đứa được kỳ cọ sạch. Thợ hớt tóc sửa sang cái đầu trọc của chúng đẹp đẽ hơn. Cảnh sát ngọt ngào khuyên bảo chúng nên trở về con đường lương thiện. Ba hôm sau, cảnh sát trả tự do cho chúng. Trong khi bọn Hưng mặt thẹo, Sáu rỗ, Năm sáu ngón đã bị tống vào khám Chí Hòa. Cảnh sát yên chí ba đứa ngoan ngoãn vâng lời họ. Họ đã lầm. Nguyễn Đạm không dám trở về nhà nữa. Hình ảnh nó bị cạo trọc đầu, đeo biển du đãng với họ tên rõ ràng đăng lên báo, chắc chắn đã lọt vào đôi mắt nghiêm khắc của cha nó. Gia đình nó sẽ nghĩ sao về nó? Nguyễn Đạm đã có kinh nghiệm. Nó không dám về. Đạm rẽ sang một khúc rẽ mới của cuộc đời nó. Nó để mặc Mừng lác dìu. Kể từ lúc này, Nguyễn Đạm không còn là cậu học trò nữa. Nó đã để Mừng lác định số phận của nó.
truyện :dược thần

Linh Đấu lịch, sáng sớm ngày 4 tháng 5 năm 2012, tại hoàng cung đế đô Linh Đấu đế quốc. Linh Đấu đế quốc là trung tâm hành chính duy nhất trên đại lục, là trọng địa hoàng quyền mà tất cả mọi người trên đại lục đều hướng tới. Hoàng cung Linh Đấu đế quốc trước giờ luôn là một tràng diện vô cùng vui sướng nhưng không kém phần trang nghiêm. Nhưng mấy ngày gần đây không hiểu sao lại bao phủ trong một bầu không khí đầy lo lắng. Thủ vệ thường trực trong hoàng cung lúc này ai cũng vẻ mặt âm trầm tuần tra khắp nơi khiến cả hoàng cung đều bị vây trong một cổ không khí đầy áp lực. - Ý các ngươi là không khởi động thượng cổ trận pháp này thì ngay cả nguyên tố phối dịch cơ bản nhất cũng không thể phối chế ra? Trong đại điện hoàng cung, một trung niên nam tử vẻ mặt đầy uy nghiêm đang ngồi ngay ngắn trên long ỷ đại biểu cho hoàng quyền của đế quốc. Trung niên nam tử này chính là đế vương đương đại của Linh Đấu đế quốc - Á Lịch Sơn đại đế. Ở trước mặt Á Lịch Sơn đại đế đang có mấy lão giả cung kính cúi thấp đầu, những lão giả này không ai không phải là nhân vật tiếng tăm lừng lẫy trên đại lục. Hoặc là hội trưởng tất cả các công hội trên đại lục, hoặc là tuyệt thế cường giả của đại lục ... trong bọn họ, bất luận ai chỉ cần tuỳ tiện dậm chân một cái đều có thể nhấc lên một hồi mưa gió, chấn động trên đại lục. Nhưng hôm nay, ở trước mặt vị đế vương của Linh Đấu đế quốc Á Lịch Sơn đại đế này bọn họ cũng phải cung kính như hài đồng, thần sắc khẩn trương, có người thân hình còn có chút run rẩy. Nhìn Á Lịch Sơn đại đế ánh mắt bình tĩnh, thanh âm bình thản trước mặt, một lão giả cố sức nuốt một ngụm nước bọt lấy dũng khí rung giọng nói: - Bệ hạ ... tuy trận pháp cần nguyên tố phối dịch chỉ là Ngũ giai Thượng phẩm ngũ hành dược tề, bất luận một gã lục giai Linh Dược tôn sư nào đều có thể phối chế ra, nhưng ... nhưng trận pháp hiện tại cần ngũ hành dược tề cũng không phải là ngũ hành dược tề bình thường. Dược tề nó yêu cầu phải đạt tới nồng độ cao nhất. Cho dù mấy người tại hạ đều đã đạt tới bát giai Linh Dược đế sư cảnh giới ... nhưng cũng không thể nào phối chế ra được ... - Thật sự không có cách nào có thể phối chế ra sao! Á Lịch Sơn đại đế hừ nhẹ một tiếng, hai hàng lông mày khẽ dựng lên. Những người quen thuộc với hắn lúc này đều minh bạch được lửa giận của hắn đã lên tới đỉnh điểm rồi: - Các ngươi đều là những nhân vật truyền kỳ nhất nhì trong giới dược sư vậy mà ngay cả một cái Thượng phẩm ngũ hành dược tề cũng không thể phối chế ra? Hừ! Mấy người các ngươi được gọi là cái gì hội trưởng công hội Linh Dược Sư của đại lục là viện trưởng của đệ nhất học viện trong đế quốc ... chẳng lẽ tất cả đều chỉ là những cái thùng rỗng sao? Các ngươi đến tột cùng là làm được cái gì ra hồn hả? - Ta không cần biết các ngươi dùng biện pháp gì, ta chỉ muốn biết ngũ hành dược tề ta cần bao lâu có thể xuất hiện trước mặt ta! Một tia sát ý lạnh băng từ trên người Á Lịch Sơn đại đế tản ra. Nhìn thần sắc của hắn lúc này có vẻ như đã có chút điên cuồng. Mấy hôm nay tâm tình Á Lịch Sơn đại đế cực kỳ bực bội. Hoàng tử duy nhất của đế quốc cũng chính là nhi tử độc nhất của hắn trước đây không lâu đã bất hạnh trúng phải một bệnh nan y cực kỳ nghiêm trọng, tánh mạng hiện tại đang nguy trong sớm tối, đã gần như đèn cạn dầu rồi! Á Lịch Sơn đại đế cả đời cần cù chăm chỉ, là một hoàng đế cực kỳ anh minh. Dưới sự lãnh đạo của hắn, Linh Đấu đế quốc luôn được ở trong thời thái bình thịnh thế, Á Lịch Sơn đại đế luôn trầm ổn trong con mắt của thần dân đế quốc lần này hoàn toàn thất thố. Đám đại thần sớm đã quen với việc Á Lịch Sơn đại đế là một đế vương cường quyền nhưng đã gần như quên mất ở trước mặt nhi tử của hắn thì hắn cũng chỉ là một người phụ thân yêu thương con như bao người khác mà thôi. Ngay khi hoàng tử vừa bị phát hiện nhiễm bệnh, Á Lịch Sơn đại đế đã lập tức hạ lệnh bắt buộc tìm kiếm biện pháp trị bệnh, trải qua đủ loại cố gắng của hoàng thất cùng với không biết bao nhiêu gian khổ thì các dược sư của đế quốc cuối cùng cũng tìm ra một biện pháp duy nhất có thể trị bệnh cho hoàng tử. Đó chính là thông qua một loại trận pháp có tác dụng kéo dài sinh mệnh vô cùng cổ xưa để một lần nữa kích hoạt sinh cơ trong cơ thể hoàng tử. Mặc dù loại trận pháp này cực kỳ cổ xưa, ở nhân gian gần như đã tuyệt tích từ lâu nhưng ở trong bảo khố cự đại của đế quốc vẫn có thể tìm thấy tư liệu liên quan. Mà lúc này Á Lịch Sơn đại đế lại gặp phải một vấn đề nan giải khác. Muốn khởi động trận pháp này nhất định phải dùng ngũ hành dược tề với nồng độ cao nhất mới có thể kích hoạt được. Sau khi nhận được tin tức này, Á Lịch Sơn đại đế lập tức triệu tập tất cả các Linh Dược Sư cường đại nhất của đế quốc. Á Lịch Sơn đại đế nghĩ rằng: chỉ là một loại dược tề ngũ giai Thượng phẩm ngũ hành thì đối với đám Linh Dược Sư bát giai của đế quốc căn bản không thành vấn đề. Nhưng Á Lịch Sơn đại đế lại hoàn toàn không ngờ rằng hiện tại đã vài ngày trôi qua nhưng đám Linh Dược Sư kia lại hồi báo với mình rằng bọn họ hoàn toàn không có biện pháp phối chế được hỏi sao Á Lịch Sơn đại đế không nổi giận cho được! - Điều này ... Mấy lão giả đứng trước mặt Á Lịch Sơn đại đế liếc mắt nhìn nhau rồi nhìn Á Lịch Sơn đại đế một cái rồi đồng loạt đưa mắt về phía lão giả vừa lên tiếng lúc nãy. Lão giả kia thoáng nhìn ánh mắt như toé lửa của Á Lịch Sơn đại đế rồi run giọng nói: - Bệ hạ, mấy người chúng tôi đã liên thủ phối chế qua nhưng quả thật ngũ hành dược tề có nồng độ cao như thế chúng tôi thật sự bất lực. Tuy ngũ hành dược tề chỉ là ngũ giai Thượng phẩm nhưng nếu muốn chế ra được nồng độ đạt tới mức cao nhất của ngũ giai dược tề thì chỉ sợ cả đại lục này chỉ có một người có thể làm được! - Là ai? Hai mắt Á Lịch Sơn đại đế lập tức sáng ngời, ngữ khí đầy lo lắng hỏi. - Kiệt Sâm đại sư! Lão giả kia nhẹ nhàng thốt ra một cái tên. Khi cái tên này vừa vang lên thì ánh mắt của lão giả này vốn đang vô cùng sợ hãi với Á Lịch Sơn đại đế lập tức trở nên vô cùng bình tĩnh đồng thời trong mắt chỉ còn lại sự thành kính! - Kiệt Sâm đại sư! Nghe thấy danh tự này, ngữ khí của Á Lịch Sơn đại đế không khỏi hoà hoãn lại một chút, trong ánh mắt cũng đầy vẻ sùng kính: - Ta thế nào lại quên mất Kiệt Sâm đại sư chứ? - Có ai biết Kiệt Sâm đại sư hiện đang ở đâu không? Nhanh chóng đi mời ngài ấy đến đây cho ta! Vẻ mặt vốn u sầu thất vọng của Á Lịch Sơn đại đế lập tức giãn ra. - Không, không, ta phải đích thân đi bái phỏng Kiệt Sâm đại sư mới được, phải mời ngài ấy đến đế quốc làm khách mới được! Vừa nghe tới tên của Kiệt Sâm đại sư, nội tâm vốn lo lắng của Á Lịch Sơn đại đế giống như bị xua đi không còn một mảnh. Tư Đặc Ân đại lục là một đại lục lấy cường giả vi tôn, mà Á Lịch Sơn đại đế với tư cách đế vương Linh Đấu đế quốc, có thể xem như là người có quyền thế nhất trên đại lục này. Ngay cả những bát giai Linh Dược Đế Sư hay cửu giai Linh Dược Thánh Linh Sư ở trước mặt hắn đều phải cúi đầu xưng thần. Nhưng, trên đại lục này lại có một người mà cho dù là Á Lịch Sơn đại đế ở bất kỳ thời điểm nào hay ở đâu cũng muốn tôn xưng một tiếng đại sư, không dám có chút bất kính nào bởi vì người này chính là đệ nhất nhân được toàn đại lục công nhận - cửu giai Linh Dược Thánh Sư - Kiệt Sâm! Vạn Thánh Sơn là một ngọn núi toạ lạc ở trung tâm đại lục, bởi vì vị trí địa lý đặc thù nên nơi này quanh năm đều có cảnh sắc đẹp tuyệt trần, khí hậu dễ chịu tựa như thiên đường tại nhân gian vậy. Phạm vi trăm dặm quanh Vạn Thánh Sơn vậy mà không có người nào ở, bởi vì người ở phụ cận ai cũng biết đương kim đại lục đệ nhất nhân Kiệt Sâm đại sư chính là ngụ trên ngọn núi này. Cho dù vị trí địa lý của Vạn Thánh Sơn cực kỳ ưu việt, cũng không có bất kỳ ai tuyên bố cái gì nhưng vô luận là thương nhân, thậm chí là đạo tặc thổ phỉ, hay các hào môn thế gia cùng với đám hoàng thân quốc thích truyền thừa nhiều năm trên đại lục khi đi ngang qua nơi này đều tự nhiên ở xa xa lách qua đồng thời bộ dạng còn cực kỳ cung kính. Nhưng mà vào hôm nay, ở chân núi Vạn Thánh Sơn xưa nay ít người xuất hiện lại xuất hiện một đoàn xe xa hoa. Ngồi ở cỗ xe ngựa giữa đoàn xe là một trung niên nam tử thân mặc long bào! Đây chính là đoàn người Á Lịch Sơn đại đế đến đây để xin sự giúp đỡ của Kiệt Sâm đại sư. - Cấm địa Vạn Thánh Sơn, người ở phía trước dừng bước, nếu không lập tức giết không tha! Khi đoàn xe vừa tới chân núi thì một đạo thiểm quang từ giữa chừng núi đột nhiên bắn ra. Trong chốc lát đã xuất hiện phía trước đoàn xe, ngay sau đó mà một âm thanh vô cùng lạnh lẽo vang lên bên tai mỗi người. Hào quang vừa biến mất, trước mặt mọi người xuất hiện một trung niên nhân trong một bộ trường bào màu xanh, khí độ vô cùng bất phàm. - Nguyên lai là La Cách đại sư, kính xin La Cách đại sư hướng Kiệt Sâm đại sư thông báo giùm là Linh Đấu đế quốc Á Lịch Sơn Cái Á có việc xin cầu kiến! Á Lịch Sơn đại đế từ giữa đoàn xe đi tới nhìn về phía trung niên mặc thanh bào, trong mắt toát ra một tia kinh ngạc, trong giọng nói cũng mang theo một tia cung kính khiến cho mấy lão giả theo bên cạnh Á Lịch Sơn đại đế cũng không khỏi giật mình. Vị trung niên mặc thanh bào trước mặt này mọi người ở đây cơ hồ đều nhận biết bởi hắn cũng là một cửu giai Thánh Linh Sư tiếng tăm lừng lẫy trên đại lục. Phải biết rằng, cả Linh Đấu đế quốc hiện tại cũng chỉ có hai cửu giai Thánh Linh Sư mà ở trong đế quốc cũng có địa vị và thân phận cực kì cao. Vị La Cách đại sư này mấy năm trước đã từng tới Linh Đấu đế quốc bái phỏng qua, năm đó Á Lịch Sơn đại đế đã từng đồng ý để cho hắn nhận chức vụ đế quốc quốc sư hoặc là viện trưởng của đệ nhất học viện của đế quốc nhưng đều bị hắn từ chối khiến cho Á Lịch Sơn đại đế vô cùng tiếc nuối. Sau đó thì tin tức về La Cách cũng thất tung, không ngờ là hắn lại tới Vạn Thánh Sơn làm người trông cửa! Nghĩ đến đây, Á Lịch Sơn đại đế không khỏi vô cùng bất đắc dĩ. Chỉ sợ trên cả đại lục này cũng chỉ có một người như Kiệt Sâm đại sư mới có thể khiến cho vị La Cách đại sư này cam tâm tình nguyện ở lại đây làm một gã trông cửa như vậy! - Kiệt Sâm đại sư! Hoàng đế Á Lịch Sơn của Linh Đấu đế quốc tới bái phỏng người! Trong một gian phòng nhỏ trên đỉnh Vạn Thánh Sơn, một lão giả đứng một bên nhìn về phía một người thanh niên chỉ tầm hai mươi tuổi nói, sắc mặt lại tràn ngập cung kính. Cho dù là ai cũng không không thể nào ngờ được người thanh niên tướng mạo trông cực kỳ bình thường kia chính là Kiệt Sâm đại sư, người duy nhất trên đại lục đạt được danh hiệu cửu giai Linh Dược Thánh Sư! Nếu Á Lịch Sơn đại đế mà thấy được lão giả vừa lên tiếng thông báo cho Kiệt Sâm chỉ sợ hắn sẽ phiền muộn đến thổ huyết tại chỗ mất. Lão giả này chính là đệ nhất Linh Dược Sư của đế quốc, là sư huynh của hội trưởng Linh Dược Sư công hội Áo Lợi Tư - bát giai Linh Dược Đế Sư - Bách Sâm Đa Cách đại sư. Nhưng ở nơi này, người có tiếng tăm lừng lẫy trên đại lục này ở trước mặt Kiệt Sâm đại sư thân phận chỉ là một gã trợ thủ bình thường! - Á Lịch Sơn? Có biết hắn đến vì chuyện gì không? Kiệt Sâm thoáng nhíu mày hỏi. Hiện tại hắn đang chuẩn bị thực hiện một lần phối chế cực kỳ trọng yếu cho nên không hi vọng có bất luận kẻ nào quấy rầy. Dù người đó có là đế vương duy nhất trên đại lục đi nữa cũng vậy. Trong nội tâm của Kiệt Sâm thì trên thế giới này chỉ có phối chế dược tề mới là trọng yếu nhất, tất cả những thứ còn lại đều là râu ria! - Nghe La Cách nói là Á Lịch Sơn đại đế muốn hướng người thỉnh cầu một lộ ngũ giai Thượng phẩm Ngũ Hành dược tề có nồng độ đạt tới mức cao nhất! - Chỉ vì chuyện này? Kiệt Sâm thoáng có chút giật mình, lập tức nói: - Ta nhớ trong số dược tề số ba lần trước ta phối chế còn dư lại một chút dược tề bởi vì không đạt tới trạng thái hoàn mỹ tận cùng nên chuẩn bị vứt đi. Ngươi đem cho Á Lịch Sơn vài bình đi. tuy nói là chuẩn bị vứt đi nhưng mấy bình Ngũ Hành dược tề đó đều có nồng độ đạt tới mức tận cùng của giai vị! Dứt lời, Kiệt Sâm liền xoay người đi vào trong phối chế thất trong phòng mình: - Ta hiện tại cần tiến hành một lần phối chế cực kỳ trọng yếu, cho dù có xảy ra bất kỳ chuyện gì cũng không được tới quấy rầy ta! - Phù! Nhìn ba khối tinh thể hình thoi tản ra màu đỏ như máu trước mặt, Kiệt Sâm thầm thở ra một hơi thoáng bình phục tâm thần có chút kích động lại. Sau một lát thì ánh mắt của hắn đã hoàn toàn trở nên thanh minh. Giờ phút này, Kiệt Sâm đang đối diện với thử thách lớn nhất từ sau khi hắn tấn thăng lên cửu giai Linh Dược Thánh Sư tới nay, bởi vì hắn chuẩn bị phối chế ra Thánh cấp linh dược tề trong truyền thuyết có thể làm cho một một hoả hệ linh đồ bình thường sau khi phục dụng có thể trong thời gian ngắn lập tức đạt tới cửu giai Thánh Linh Sư cảnh giới - Hoả Thần Dịch! Vì tập hợp đủ tài liệu để phối chế Hoả Thần Dịch mà Kiệt Sâm đã điều động tất cả những trợ lực mà hắn có thể điều động được, cuối cùng mất gần mười năm mới thu được ba miếng vật liệu cuối cùng trước mặt này. Đây chính là ba khối linh hạch của hoả hệ cự long đã ngoài cửu giai có độ phù hợp với hoả hệ nguyên tố đạt tới 95% đồng thời dung lượng hoả nguyên tố bên trong cơ hồ là giống nhau như đúc! Khẽ lướt mắt nhìn đống tài liệu và dụng cụ đầy đủ đặt trên mặt bàn một lượt, Kiệt Sâm gật gật đầu một cái rồi đi tới trước chỗ đặt gần mười bình thuỷ tinh đựng đủ loại chất lỏng màu sắc bất đồng rồi cầm lấy cái bình đầu tiên lên, thuần thục mở nắp bình rồi nhanh chóng đem thứ chất lỏng màu đỏ trong đó đổ vào miệng mình rồi thuận tay ném cái bình không trong tay đi rồi tiếp tục cầm cái bình đựng chất lỏng màu tím lên ... Động tác của hắn vô cùng thuần thục như hành vân lưu thuỷ, không hề có chút dừng lại nào tạo nên một cảm giác vô cùng tinh tế nhuần nhuyễn. - Hoả hệ linh lực miễn dịch dược tề! - Nguyên tố cảm ứng dược tề! - Tăng cường nhanh nhẹn dược tề! - Tăng cường tinh thần lực dược tề! ... Một lọ phụ trợ dược tề nhanh chóng bị đổ vào trong miệng Kiệt Sâm, cuối cùng gần mười bình thuỷ tinh đựng đủ loại chất lỏng màu sắc bất đồng trên bàn đã trống không. Hai tròng mắt của Kiệt Sâm hiện lên một đạo quang mang, sau đó hắn rất nhanh cầm lấy ba khối linh thạch hoả hệ cự long kia đi tới trước một cái bình lớn bên trong đựng đầy một loại chất lỏng màu bạc trắng như ánh trăng rồi không chút do dự ném chúng vào trong. Ngay thời điểm ném đi, hai tay Kiệt Sâm lay động vô cùng xảo diệu mang theo một loại chấn động đặc biệt khiến cho ba khối linh hạch kích thước cỡ như nắm tay kia khi rơi vào trong bình chất lỏng màu bạc kia lại không có chút bọt nước nào hiện lên! - Xoet ... Sau khi ba khối linh thạch đã dung nhập vào trong chất lỏng màu bạc thì hoả hệ năng lượng bên trong chúng nhanh chóng toả ra hồng quang kèm theo những tiếng xoẹt xoẹt liên tục, bằng mắt thường có thể thấy được ba khối linh thạch kia đang nhanh chóng bị hoà tan. Chỉ chốc lát công phu sau, cả ba khối linh thạch đã biến mất không vô tung đồng thời ở đáy bình có một dòng chất lỏng sền sệt màu đỏ thẫm khẽ lưu động phát ra từng đợt hồng quang nhàn nhạt. Ở ngay phía trên đám chất lỏng màu đỏ này là một mảng chất lỏng trong suốt. Nguyên tố phân ly dịch có thể tách ra bất luận cái gì linh tinh, linh hạch, linh lực, khoáng thạch ... thuộc thể rắn. Hơn nữa còn có thể phân ly tạp chất bên trong ra thành một loại dược tề phụ trợ khác. Đám chất lỏng màu đỏ thẫm kia chính là tinh hoa hoả nguyên tố được Nguyên tố phân ly dịch phân ly ra từ ba khối linh hạch hoả hệ kia. Kiệt Sâm do đã phụ dụng Nguyên tố cảm ứng dược tề nên rất rõ ràng cảm nhận được bên trong đám chất lỏng màu đỏ kia đang bành trướng hoả hệ nguyên tố vô cùng khổng lồ. Từ bên cạnh lấy ra một thứ như cái ống hút to cỡ đầu ngón tay cái, Kiệt Sâm nhanh chóng rút phần chất lỏng trong suốt bên trong bình ra. Chỉ một lát sau, trong bình chỉ còn lại hoàn toàn là hoả nguyên tố tinh hoa mày đỏ sẫm kia. Hai tay Kiệt Sâm bay nhanh trên cái bàn đầy tài liệu và dụng kia, đại lượng các loại chất lỏng với các phân lượng bất đồng cùng các vật phẩm, dược liệu ... khác nhau theo từng thao tác của Kiệt Sâm đầu nhập vào trong bình. Động tác hai tay của Kiệt Sâm rất nhanh tạo nên đạo đạo thủ ảnh, tốc độ như vậy cho dù là cường giả thất giai Hoàng Linh Sư cũng khó có thể đạt được, nhưng không ngờ giờ phút này lại xuất hiện trên đôi tay của một Linh Dược Sư không hề có chút linh kỹ nào! Chỉ chốc lát công phu sau, đống bình dụng cụ và vật liệu to to nhỏ nhỏ trên mặt bàn đã không còn lại chút gì, chỉ còn lại một bình dược tề màu xanh da trời và một lọ thuốc bột màu vàng nâu. Đến bước này, tinh hoa hoả nguyên tố trong bình đã trải qua biến hoá và phản ứng liên tục nhưng trước sau vẫn vô cùng ổn định. Lúc trước hoả nguyên tố vô cùng bành trướng thì hiện tại rõ ràng có thể cảm giác được nó tựa hồ như đã thu liễm lại toàn bộ, không chút nào tán phát ra ngoài. Thoáng do dự một chút, Kiệt Sâm liền đem lọ thuốc bột màu vàng nâu kia đổ vào trong bình dược tề màu xanh da trời, sau khi hai thứ đã trộn đều vào nhau thì hắn mới vô cùng cẩn thận và chậm rãi đổ chúng vào trong bình chứ tinh hoa hoả nguyên tố kia. Với động tác cần phải cẩn thận và tập trung cao độ như vậy khuến cho vầng trán Kiệt Sâm rịn mồ hôi thấm ướt đẫm cả hai bên tóc mai. Thực tế thì trong lúc phối chết Hoả Thần Dịch, ở bước cuối cùng cần dùng một loại thực vật gọi là Long Diễm Thảo ép ra nước cốt rồi trung hoà vào với dược tề nhưng đáng tiếc là loại Long Diễm Thảo kia từ ngàn năm trước đã hoàn toàn biến mất trên đại lục rồi. Không có Long Diễm Thảo, Kiệt Sâm chỉ đành phải dùng bách niên Mạn Đà La phấn trộn với chất dịch thuỷ nguyên tố ép ra từ Long Tâm Thảo để thay thế. Sự thay thế như vậy trên lý luận là có thể thực hiện được nhưng hiệu quả chính thức như thế nào thì Kiệt Sâm cũng không cách nào nắm chắc được. Bất quá do không có Long Diễm Thảo nên Kiệt Sâm chỉ có thể bất đắc dĩ làm ra hành động như vậy mà thôi. Mấy ngàn năm qua, theo văn minh linh lực không ngừng phát triển, sức mạnh của nhân loại cũng không ngừng tăng lên, thế cục đại lục liên tục rung chuyển, chiến tranh liên miên không ngừng phá hư các loại nguyên tố tiên thiên của đại lục khiến cho đại lượng vật phẩm và dược liệu biến mất hoàn toàn. Ở thời kỳ thượng cổ, các loại dược tề trên đại lục hay là các loại dược liệu, khoáng thạch ... cơ hồ tràn ngập khắp nơi cho nên lúc đó chức nghiệp Linh Dược Sư cũng không mấy được coi trọng bởi vì con người lúc đó đối với những vật phẩm này còn chưa thấy được giá trị. Đến khi chức nghiệp Linh Dược Sư này chân chính đạt tới tầm cao thì những vật phẩm có giá trị đó đã bị diệt sạch hầu như không còn. Đối với Linh Dược Sư lúc này mà nói thì đây không khác gì một sự bi ai vô cùng! Hai mắt Kiệt Sâm chăm chú nhìn chất lỏng màu đỏ thẫm trước mặt. Dược tề tăng cường tinh thần lực trong người hắn không phát huy tác dụng cảm ứng sự biến hoá của đám chất lỏng tinh hoa hoả nguyên tố kia. Đột nhiên, một đạo hoả hệ nguyên tố lực cường liệt mạnh mẽ từ trong đoàn chất lỏng màu đỏ thẫm kia bành trướng ra tràn ngập cả phối chết thất, một đạo hồng quang chói mắt cũng theo đó mà phát tán ra. Sắc mặt Kiệt Sâm đại biến, không đợi cho hắn kịp có phản ứng, từng vết nứt rạn nhanh chóng xuất hiện như phản ứng dây chuyền hiện lên trên bề mặt bình thuỷ tinh. Bình thuỷ tinh là Kiệt Sâm đặc chế ra có thể thừa nhận được một kích toàn lực của cửu giai cường giả vậy mà lúc này lập tức bị bạo liệt. Hồng quang chói mắt như một cái miệng vô cùng rộng lập tức bao phủ cả thân hình Kiệt Sâm vào trong. - Ầm ... Một tiếng nổ kinh thiên vang lên, cả cái phối chế thất trên đỉnh Vạn Thánh Sơn này lập tức hoá thành phế tích, một cột khói màu đen hình nấm cực lớn từ đỉnh Vạn Thánh Sơn phóng thẳng lên vân tiêu ... Cảm nhận được Vạn Thánh Sơn kịch biến, đám người Á Lịch Sơn đại đế còn chưa rời khỏi chân núi bao xa cũng không khỏi kinh hoàng ... Khoảng một canh giờ sau, Á Lịch Sơn đại đế thông qua mạng lưới tin tức của mình đã hướng toàn bộ đại lục phát ra thông cáo: - Cửu giai Linh Dược Thánh Sư duy nhất đại lục, đại lục đỉnh tiêm cường giả được vinh danh là đương kim đại lục đệ nhất nhân, thiên tài tuyệt đỉnh của đại lục Kiệt Sâm Thánh Sư buổi trưa ngày hôm nay ở trong phối chế thất của mình tiến hành một loại thí nghiệm vô cùng quan trọng bởi vì thí nghiệm xuất hiện việc ngoài ý muốn đã bất hạnh bỏ mình, hưởng thọ 27 tuổi! - Kiệt Sâm Thánh Sư là người sáng tạo kỹ thuật phối chế linh dược với tài học vô cùng uyên bác được vô số học giả trên đại lục kính ngưỡng. Cả đời của Thánh Sư luôn cống hiến vì việc phối chế linh dược. Sự qua đời của ngài là sự tổn thất cực kỳ to lớn của giới Linh Dược Sư, đồng thời cũng là tổn thất vô cùng lớn lao của đế quốc, của đại lục và của cả nền văn minh nhân loại ... ******* - Kiệt Sâm mau tỉnh lại nào, Kiệt Sâm ngươi đừng doạ ta mà, mau tỉnh lại đi ... Trong phòng thí nghiệm linh dược học của Tây Tư học viện, một thiếu niên tuấn mỹ tóc vàng tầm mười sáu mười bảy tuổi đang vô cùng lo lắng nhìn một thiếu niên tóc đen tầm tuổi hắn đang nằm trên mặt đát hô tô gọi nhỏ. Vây quanh bên cạnh cũng có một đám thiếu nam thiếu nữ trạc tuổi như vậy đang bu lại. - Nhường đường một chút, nhường đường một chút đi ... - Chen cái gì mà chen? Bộ đằng trước là cha ngươi hả? Đây là một tiết học thực hành thí nghiệm linh dược học của Linh Dược hệ, cả phòng thí nghiệm lúc này có khoảng 150 học sinh đang tụ tập lại một chỗ. - Chuyện gì? Xảy ra chuyện gì? - Không rõ lắm, hình như Kiệt Sâm ban hai vừa rồi trong lúc làm thí nghiệm thì té xỉu. - Kiệt Sâm? Không phải là tên Kiệt Sâm đại danh đỉnh đỉnh đệ nhất phế vật của học viện đó chứ? - Có đúng là tên Kiệt Sâm đã học tập ở học viện hơn hai năm nhưng không có một học kỳ nào kiểm tra đạt đủ tiêu chuẩn không? - Chính là hắn, ta nghe nói hình như đợt kiểm tra tiếp theo cũng có thể hắn sẽ thất bại, rất có thể trở thành học viên đầu tiên trong lịch sử học viện sẽ bị đuổi học vì chưa bao giờ đạt đủ tiêu chuẩn! Thật đáng thương ... Những tiếng trào phúng xung quanh không ngừng vang lên, thanh niên tóc vàng ở giữa nghe vậy thì phẫn nộ quát: - Câm miệng! Thanh niên tóc vàng ngẩng đầu lên, trong miệng phun ra một đợt gào thét: - Đám người các người còn có đạo đức và lương tâm không hả? Ai đó chạy tới phòng y vụ tìm nhân viên ở đó tới đây giùm cái đi! Bởi vì lo lắng và phẫn nộ, trên gương mặt tuấn tú trắng nõn của thanh niên tóc vàng lúc này đỏ bừng bừng đầy mồ hôi. - Tạp La Đặc, tên phế vật này có cái gì tốt đáng để ngươi lo lắng như vậy? Ngươi dù sao cũng là một trong những học viên xuất sắc nhất của học viện, hiện giờ linh lực đã đạt tới cửu cấp, chỉ thiếu một chút nữa là có thể trở thành nhất giai Linh Đồ để có thể chính thức tốt nghiệp. Mà và phần linh dược học ngươi cũng đã đạt tới ngũ giai rồi. Trong khi tên Kiệt Sâm này thực lực vẫn luôn dừng lại ở nhị cấp, linh dược học cũng chỉ là một tên phế vật nhất cấp, ngay cả tư cách xách giày cho ngươi cũng không xứng! Một thiếu niên đứng ở phía trước phát ra một tràng trào phúng, khiến cho đám đông xung quanh cũng cười vang. Đọc Truyện Online Tại Truyện FULL - Câm cái miệng thúi của ngươi lại, nếu không ta cũng không ngại xé nó thành hai nửa! Tạp La Đặc lạnh lùng nhìn tên thanh niên kia, trong giọng nói đầy sát khí. Tên thiếu niên kia bị Tạp La Đặc nhìn vậy thì sững sờ, tiếng cười lập tức nín bặt, trên mặt đầy vẻ sợ hãi, không dám thốt ra một từ nào nữa. Cho dù linh lực của hắn hiện tại cũng đã đạt tới bát cấp nhưng ở trước mặt tên Tạp La Đặc nổi danh cả học viện này bản thân hắn cũng không đáng là gì! Tạp La Đặc không để ý tới đám đông xung quanh nữa mà tiếp tục lo lắng dùng tay vỗ nhẹ nhẹ lên đôi má của thiếu niên tóc đen tên Kiệt Sâm kia. - Khắc Lai Nhân lão sư đến, mọi người mau về vị trí của mình đi! Không biết ai đó trong đám đông đột nhiên hô to lên, đám người đang vây xem lập tức tán ra, chạy về vị trí của mình luống cuống tay chân với đám dụng cụ thí nghiệm trước mặt. - Chuyện gì xảy ra? Một thanh âm thanh thuý vô cùng dễ nghe vang lên từ cửa phòng thí nghiệm, cảm nhận được trong phòng có chút hỗn loạn, giọng nói trong trẻo kia không khỏi mang theo một tia tức giận. - Khắc Lai Nhân lão sư, người tới xem nhanh đi, Kiệt Sâm không biết bị sao, lúc nãy đang làm thí nghiệm thì đột nhiên bị ngất! Nghe thấy thanh âm kia, Tạp La Đặc vô cùng khẩn trương ngẩng đầu lên nói, trong ánh mắt của hắn còn mang theo một tia hi vọng và an tâm. Xuất hiện trước mặt Tạp La Đặc là một mỹ nữ với một mái tóc dài màu hoả hồng nổi bật trên nền da trắng như tuyết của nàng. Đôi con ngươi của nàng là màu xanh nước biển vô cùng linh động toát ra mị lực kinh người. Lúc này nàng đang khoác trên người một bộ trường bào cũng màu hoả hồng, mặc dù bộ trường bào khá rộng hầu như che khuất cả dáng người nàng nhưng thỉnh thoảng dưới vài động tác của nàng vẫn làm nổi lên những đường cong vô cùng mê người, làm cho người nhìn cứ phải tưởng tượng suy đoán không biết bên dưới bộ trường bào kia là một thân hình hoàn mỹ tới mức nào? - Tạp La Đặc, Kiệt Sâm? Lại là hai người các ngươi! Nhìn mặt bàn chỉnh tề, căn bản không có bất cứ dụng cụ và dược tề nào bị di động, Khắc Lai Nhân lộ ra một nụ cười lạnh, nói: - Hai người các ngươi có muốn diễn kịch thì cũng diễn thật một chút. Rõ ràng là đang giả bộ bất tỉnh mà. Hừ, để ta xem xem hắn hiện tai có còn chóng mặt bất tỉnh hay không? Khắc Lai Nhân vung tay phải về phía trước như tìm kiếm cái gì đó, trong miệng thì ngâm xướng một chú văn tối nghĩa. Đột nhiên, một đạo lục sắc quang mang từ năm ngón tay của nàng hiện ra, lập tức trong không khí truyền đến một luồng chấn động năng lượng mạnh mẽ. Lục quang vừa hiện thì một tiểu thuỷ cầu đồng thời hình thành trên tay Khắc Lai Nhân, nàng mạnh mẽ ném quả cầu về phía Kiệt Sâm đang nằm trên mặt đất. - Khắc Lai Nhân lão sư ... - Ba! Khi vừa thấy động tác của Khắc Lai Nhân thì Tạp La Đặc thầm kêu không ổn nhưng động tác của Khắc Lai Nhân quả thật quá nhanh, không đợi hắn kịp kinh hô xong thì thuỷ cầu đã trực tiếp đập lên mặt Kiệt Sâm rồi. - Khắc Lai Nhân lão sư, lần này chúng ta không hề diễn kịch, Kiệt Sâm thật sự bất tỉnh ... Tạp La Đặc dùng ánh mắt vô tội nhìn Khắc Lai Nhân nói. Nhưng chưa đợi cho Tạp La Đặc nói xong thì Kiệt Sâm vốn đang bất tỉnh nằm dưới đất đột nhiên ngồi bật dậy, đưa tay xoa xoa mặt, rồi đưa mắt nhìn bốn phía rống lên: - Là ai dám dùng thuỷ cầu thuật nện lão tử? Kiệt Sâm vừa nói vừa nhảy dựng lên khỏi mặt đất, ánh mắt đang phẫn nộ nhìn quanh đột nhiên trở thành kinh nghi bất định ... - Tốt! Tốt! Khắc Lai Nhân lại cười lạnh hai tiếng, nói: - Tạp La Đặc, Kiệt Sâm hai người các ngươi rõ ràng từ lúc bắt đầu thí nghiệm đến giờ chưa hề làm cái gì. Ta nhắc nhở hai người các ngươi nếu trước khi hết giờ mà hai người các ngươi không thể hoàn thành được thí nghiệm hôm nay thì thí nghiệm khoá của học kỳ này hai người các ngươi đừng mơ vượt qua kiểm tra ... Khi Khắc Lai Nhân còn đang răn dạy thì Kiệt Sâm đang ngơ ngác cẩn thận đánh giá xung quanh. Xuất hiện trước mặt Kiệt Sâm là một đám thiếu niên thiếu nữ chỉ tầm mười bảy mười tám tuổi đang lóng ngóng vụng về thao tác các dụng cụ phối chế linh dược trước mặt cẩn thận từng li từng tí tiếng hành phối chế gì đó. Thỉnh thoảng bọn họ còn vụng trộm liếc mắt nhìn về phía này, trong mắt bọn họ khi nhìn Kiệt Sâm còn kèm theo một chút hả hê khi thấy người gặp hoạ. Bên cạnh Kiệt Sâm lúc này đang có một thiếu niên tóc vàng bộ dáng rất tuấn mỹ đang cúi đầu ủ rũ như làm sai chuyện gì đó. Hai con mắt hắn thỉnh thoảng lườm trộm về phía mỹ nữ tóc đỏ trước mặt rồi nhanh chóng thu hồi lại. Cảm nhận được ánh mắt của Kiệt Sâm, thiếu niên tóc vàng kia vội nháy mắt mấy cái với hắn rồi lại lập tức làm ra bộ dáng cẩn thận lắng nghe lời dạy dỗ của mỹ nữ tóc đỏ kia. "Chỗ này hình như là phòng học? Hình như là phòng thí nghiệm linh dược học của học viện linh lực Tây Tư? Kỳ quái, ta không phải đang ở trong phòng thí nghiệm của mình ở Vạn Thánh Sơn sao?" Trong đầu Kiệt Sâm nhảy loạn lên, trí nhớ có chút hỗn loạn khiến cho ý thức hắn hiện tại có chút mơ hồ. - Kiệt Sâm! Kiệt Sâm ... Nhìn lại hoàn cảnh vừa có chút quen thuộc vừa có chút lạ lẫm xung quanh, trí nhớ hỗn loạn của Kiệt Sâm cuối cùng cũng có chút rõ ràng. Trong trí nhớ của Kiệt Sâm, hắn là người được đại lục công nhận đệ nhất nhân, đại lục thủ tịch Linh Dược Sư, đại lục duy nhất một củu giai Linh Dược Thánh Sư, hiện tại hắn hẳn là đang ở trong phối chế thất của mình trên đỉnh Vạn Thánh Sơn tiến hành lần khiêu chiến lớn nhất trong cả cuộc đời mình đó là phối chế ra Thánh cấp dược tề trong truyền thuyết - Hoả Thần Dịch! Nhưng thí nghiệm cuối cùng đã thất bại, hình ảnh cuối cùng trong trí nhớ của Kiệt Sâm chỉ là một vụ nổ thật lớn, sau đó hắn liền mất đi tri giác. Khi mở mắt tỉnh lại thì bản thân đã trở thành một tên đệ tử bình thường trong Linh Dược hệ của Tây Tư linh lực học viện thuộc Áo Lan Đa vương quốc - Kiệt Sâm. Tên người đệ tử này cũng giống bản thân mình, nhưng từ trong trí nhớ thì Kiệt Sâm chỉ thấy tên này vô cùng ham chơi, đi học thì ngủ gà ngủ gật, đánh nhau, chọc phá nữ sinh ... Linh Thần lịch năm thứ 2230, căn cứ theo trí nhớ kiếp trước của Kiệt Sâm thì hiện tại cách thời điểm kiếp trước của hắn gần ba ngàn năm. Bởi vì một lần bạo tạc khi thí nghiệm thất bại mà bản thân trọng sinh đến thời điểm gần ba ngàn năm trước. Loại chuyện này đối với người đứng đầu đại lục như Kiệt Sâm cũng cảm thấy khó có thể tin được. - Hiện tại, hai người các ngươi ở ngay trước mặt ta hoàn thành thí nghiệm hôm nay đi. Hoả hệ nguyên tố trụ cột dịch là một trong những dung dịch tối cơ bản nhất trong linh dược học. Nếu để ta phát hiện hai người các ngươi có bất kỳ một thao tác nào sai lầm thì hôm nay hai người các ngươi đừng mơ tưởng sẽ bình yên mà tan học! - Tạp La Đặc, ngươi bắt đầu trước đi! - Vâng thưa Khắc Lai Nhân lão sư! Sau khi nghe vị mỹ nữ lão sư tóc đỏ kia phấn phó, thiếu niên tóc vàng đứng bên người Kiệt Sâm có chút tâm thần bất định ứng tiếng rồi cau mày nhìn về phía những dụng cụ trên mặt bàn trước mặt. - Dung dịch hoả nguyên tố trụ cột, dung dịch hoả nguyên tố trụ cột ... Tạp La Đặc dùng tay trái cầm một lọ thuỷ tinh đựng một chất lỏng trong suốt trên mặt bàn lên, miệng thì lẩm bẩm lầu bầu: - Phối chế dung dịch hoả nguyên tố trụ cột bước đầu tiên hẳn là dùng không thuộc tính nguyên tố dịch cùng cái kia ... hoả tinh quáng tinh luyện dịch hỗn hợp! Hưng phấn kêu lên một tiếng, Tạp La Đặc lập tức cầm lấy một lọ dung dịch màu đỏ thẫm trên bàn rồi đổ bình chất lỏng trong suốt trên tay trái vào trong bình dung dịch mày đỏ. - Chậm đã ... Thấy động tác của Tạp La Đặc, sắc mặt Khắc Lai Nhân lập tức biến đổi, lập tức hô to một tiếng rồi thò tay chụp lấy cái bình chất lỏng trong suốt chứa không thuộc tính nguyên tố dịch từ trên tay Tạp La Đặc. Mà Kiệt Sâm đứng bên cạnh vẫn còn trong trạng thái mơ hồ khi thấy động tác của Tạp La Đặc cũng thoáng nhíu mày. Mặc dù Tạp La Đặc khi nghe tiếng hô của Khắc Lai Nhân thì động tác cũng lập tức dừng lại, Khắc Lai Nhân cũng đã xông tới ngăn cản động tác của hắng nhưng chính là động tác lúc phối chế của hắn quá nhanh nên vẫn có một chút không thuộc tính nguyên tố dịch đã rơi vào trong bình hoả tinh quáng tinh luyện dịch! Khắc Lai Nhân biến sắc, vương tay phải ra quét một cái đánh rơi bình dung dịch hoả tinh quáng tinh luyện trên tay phải của Tạp La Đặc đồng thời vung một chưởng hung hăng nện lên ngực Tạp La Đặc đánh văng cả người hắn ra ngoài. - Bành ... Một tiếng nổ nhỏ từ trong bình hoả tinh quáng tinh luyện dịch vang lên ngay khi Khắc Lai Nhân vừa quét rơi nó. Một đoàn sương mù màu đỏ thẫm lấy tốc độ cực nhanh bao phủ phương hướng Tạp La Đặc vừa đứng lúc nãy. - Không xong rồi ... Khắc Lai Nhân vừa mới thở phào một hơi, vừa định mở miệng quát mắng tên thủ phạm Tạp La Đặc đang nằm trên mặt đất thì trong đầu đột nhiên nghĩ tới cái gì đó, ánh mắt vội vàng nhìn về chỗ Kiệt Sâm đứng lúc nãy. Là một tam giai sơ cấp Linh Dược Sư, Khắc Lai Nhân rất rõ ràng đoàn sương mù màu đỏ vừa rồi hoàn toàn có thể bao phủ cả Tạp La Đặc cùng với Kiệt Sâm đang đứng gần bên cạnh vào trong. Lúc nãy do vội vàng nên nàng chỉ kịp đẩy người khởi xướng là Tạp La Đặc ra nhưng lại quên mất Kiệt Sâm! Khắc Lai Nhân biết rõ, uy lực của dung dịch hỗn hợp giữa không thuộc tính nguyên tố dịch và hoả tinh quáng tinh luyện dịch cũng không tính là quá lớn nhưng nếu bị dính vào thân thể thì hoả nguyên tố với nhiệt đọ cao tuyệt đối có thể đem thân thể một người đốt cháy gây ra phỏng nặng. Ánh mắt nàng nhìn về chỗ Kiệt Sâm đứng, vốn trong lòng đã không còn hi vọng gì chỉ muốn nhanh chóng đem Kiệt Sâm tới phòng y vụ tiến hành trị liệu, nhưng khi nhìn thấy cảnh tượng trước mặt, nàng không khỏi sững sốt. - Kiệt Sâm ... Tạp La Đặc bị Khắc Lai Nhân đẩy ngã nằm trên mặt đất cũng đồng dạng mặt mũi đầy lo lắng nhìn về chỗ Kiệt Sâm đứng hô lớn lên. Nếu do bản thân mình không cẩn thận mà làm cho Kiệt Sâm bị thương thì Tạp La Đặc tuyệt đối không thể nào tha thứ cho mình được. Mà giờ khắc này, tất cả học viên trong phòng thí nghiệm, do vụ nổ làm cho giật mình đưa mắt nhìn về phía bên này đều ngẩn người ... Đọc Truyện Kiếm Hiệp Hay Nhất: https://sachvui.com Lúc này, chỗ Kiệt Sâm nguyên bản đứng lúc nãy đã không thấy bóng dáng hắn nữa mà hắn với thần sắc tự nhiên lẳng lặng đứng cách chỗ vụ nổ tầm hai mét. Ngay trước mặt hắn chừng mấy centimét có một tia sương mù màu đỏ thẫm đang nổi lơ lửng ở đó nhưng thuỷ chung không hề chạm tới người Kiệt Sâm mảy may nào. Nhìn gương mặt trẻ tuổi của Kiệt Sâm nhưng lúc này lại toát ra thần sắc trầm ổn như của lão già sống lâu năm thì trong đầu Khắc Lai Nhân đột nhiên toát ra một ý nghĩ cổ quái: chẳng lẽ tên Kiệt Sâm này đã đoán trước đoàn sương mù kia tối đa chỉ có thể rộng trong chừng đó phạm vi, tới cách trước người hắn vài centimét là không cách nào mở rộng nữa? Điều này không thể nào! Trùng hợp! Đúng, nhất định là trùng hợp!" Nhẹ nhàng lắc lắc đầu, Khắc Lai Nhân không khỏi tự cười chính mình đã suy nghĩ viễn vông. Bản thân nàng là một tam giai Linh Dược Sư tối đa cũng chỉ có thể đai khái đoán được phạm vi khuếch tán của đoàn sương mù kia là tầm hai mét chứ đừng nói là tên học viên hạng bét bình thường đi học không bao giờ chăm chú, luôn ngủ gà ngủ gật trước mặt này. Trong nội tâm của Khắc Lai Nhân, Kiệt Sâm có thể biết được không thuộc tính nguyên tố dịch khi đổ trực tiếp vào hoả tinh quáng tinh luyện dịch sẽ phát nổ đã là việc khó tin rồi ... - Hiện tại, hai người các ngươi lập tức rời khỏi phòng thí nghiệm cho ta, tới phòng làm việc của ta chờ đó! Cố nén lửa giận trong lòng khiến cho khuôn mặt xinh đẹp của Khắc Lai Nhân trở nên tái xanh. Nàng lúc giảng giải lý thuyết trên lớp đã nhắc đi nhắc lại không biết bao nhiêu lần là không thuộc tính nguyên tố dịch cùng với hoả tinh quáng tinh luyện dịch không thể trực tiếp hỗn hợp vào nhau như vậy, thậm chí ngay trước lúc bắt đầu thí nghệm nàng cũng đã đặc biệt nhắc lại một lần nhưng hai cái tên gia hoả này không biết tâm thần để nơi nào mà không thèm nhớ. Mới vừa rồi, ngay trong giờ học của nàng lại phát sinh sự cố, biểu sao nàng không phẫn nộ giận dữ cho được? - Vâng, Khắc Lai Nhân lão sư! Thấy Kiệt Sâm không có việc gì, Tạp La Đặc cũng cảm thấy thoải mái hơn ứng tiếng một cái rồi nhìn Kiệt Sâm nháy mắt sau đó thong thả hướng cửa phòng thí nghiệm đi đến. Vừa rồi vụ nổ phát sinh khiến Tạp La Đặc toàn thân mồ hôi lạnh, đến hiện tại vẫn còn sợ hãi, hai chân vẫn còn run run. Kiệt Sâm đối với ánh mắt của Tạp La Đặc hồn nhiên không chú ý, vẫn đứng tại chỗ, hai mắt nhìn chằm chằm vào những dụng cụ và dược tề ở trên bàn không bị vụ nổ lúc nãy ảnh hưởng. - Kiệt Sâm, chẳng lẽ ngươi không nghe được lời ta nói sao? Còn các ngươi nữa, tất cả trở về chỗ tiếp tục làm thí nghiệm cho ta! Thấy Kiệt Sâm sau khi mình phân phó mà vẫn đứng đực ra đó, Khắc Lai Nhân không khỏi tức giận lớn giọng quát, cặp lông mày như tranh thêu của nàng đồng thời cũng dựng ngược lên. Thấy cặp lông mày nhỏ của Khắc Lai Nhân nhướng lên, tất cả học viên đang xem náo nhiệt đều thu hồi ánh mắt, cẩn thận tiến hành thí nghiệm của bản thân. Đối với tính tình của vị mỹ nữ lão sư này bọn họ đều rất rõ, mỗi lần nàng phẫn nộ đến mức tột cùng thì lông mày của nàng sẽ không tự chủ được nhướng lên. - Khắc Lai Nhân lão sư, thí nghiệm chiều hôm nay nội dung chủ yếu là phối chế dung dịch hoả nguyên tố trụ cột a! Nghe giọng nói đầy phẫn nộ của Khắc Lai Nhân, Kiệt Sâm chậm rãi ngẩng đầu lên, đôi mắt vốn có chút mờ mịt, trong lúc nhìn lên cũng dần dần bình tĩnh lại, cuối cùng đối diện với ánh mắt đang đè nén phẫn nộ của Khắc Lai Nhân. Ánh mắt vốn trống rỗng mờ mịt đã lập tức trở nên vô cùng kiên định và bình thản không mang theo một tia cảm tình nào. - Ừm! Không biết vì cái gì, khi nhìn thấy ánh mắt của Kiệt Sâm, Khắc Lai Nhân vốn đang phẫn nộ cũng bất giác trả lời. Kiệt Sâm không nói gì, ánh mắt của hắn lại nhìn về đống dụng cụ trên bàn. Ánh mắt vốn bình thản, sau một khắc lại trở nên vô cùng nghiêm túc, phảng phất như giờ phút này những thứ trước mặt hắn không phải là những dụng cụ phối chế bình thường mà toàn là thiên tài địa bảo hiếm có trong thiên địa vậy. - Phù ... Thở phào một hơi, thân thể vốn đứng thẳng tắp của Kiệt Sâm rốt cuộc cũng động. Hơi tiến về phía trước một bước, Kiệt Sâm cầm lấy không thuộc tính nguyên tố dịch trên bàn chậm rãi đổ vào trong một bình phối chế dịch trên bàn. Động tác của Kiệt Sâm rất chậm rãi, không chút nóng nảy nào. Không thuộc tính nguyên tố dịch ở trong không khí kéo thành một sợ tơ dài mỏng trong suốt chiết xạ ánh sáng óng ánh từ những tia nắng bên ngoài cửa sổ rọi vào trông vô cùng ưu nhã. Khẽ ngửi hương vị thuần khiết nhàn nhạt của không thuộc tính nguyên tố dịch trong không khí, tay phải Kiệt Sâm nhẹ nhàng xoay tròn bình phối chế, đầu ngón tay chậm rãi chà xát mặt bình, trong đôi mắt Kiệt Sâm toát lên vẻ hưởng thụ và một chút tư vị nào đó. Trong mắt đám người Khắc Lai Nhân đang nhìn thì động tác của Kiệt Sâm giống như là một lão binh đã nhiều năm không ra chiến trường, hôm nay một lần nữa được cầm lấy chiến đao đã theo mình tung hoành chiến trường vô số lần vậy. Loại thần sắc này mang theo một tia tưởng niệm, cái vuốt ve bình phối chế kia vừa xa lạ lại vừa quen thuộc, hai loại cảm giác trái ngược lại hoàn mỹ dung hợp, tự nhiên mà thành, không một chút trở ngại nào! Khi không thuộc tính nguyên tố dịch chứa đầy khoảng một phần ba dung tích bình phối chế thì Kiệt Sâm mới đình chỉ rót vào. Tay trái nhẹ nhàng chạm lên bình đựng hoả tinh quáng tinh luyện dịch rồi đột nhiên vung mạnh một cái. Mấy người Khắc Lai Nhân căn bản chưa kịp phản ứng thì đã thấy có một đoàn hoả tinh quáng tinh luyện dịch to chừng nắm đám từ miệng bình bay lên nhưng cái bình đựng hoả tinh quáng tinh luyện dịch kia từ đầu tới giờ vẫn đặt nguyên tại chỗ, phảng phất chưa có ai động đậy qua! Chăm chú nhìn vào đoàn hoả tinh quáng tinh luyện dịch giữa không trung, hai mắt Kiệt Sâm loé lên hai luồng tinh mang, tay phải hoá thành một đạo tàn ảnh xẹt qua mặt bàn thí nghiệm, đem bình phối chế cầm vào trong tay phóng tới đoàn hoả tinh quáng tinh luyện dịch giữa không trung kia. Bình phối chế vẫn xoay tròn cực nhanh trong tay Kiệt Sâm không ngừng, hình thành nên một đạo bạch sắc ảo ảnh, miệng bình vốn không lớn bao nhiêu kia dường như dưới sự cao tốc xoay tròn lại trở nên càng lúc càng lớn. Đến khí tới gần đoàn hoả tinh quáng tinh luyện dịch kia thì độ lớn đã vừa khít với đoàn hoả tinh quáng tinh luyện dịch, nhoáng cái đã đem nó nuốt vào trong miệng bình. - Bành! Một tiếng nổ nhỏ vang lên, đoàn ánh sắc trắng bạc trong tay Kiệt Sâm đột nhiên hoá thành một đường tròn hồng sắc nhưng là một cái mặt trời màu máu tán phát ra hồng mang chói mắt, mà lúc này Kiệt Sâm giống như chư thần khống chế hết thảy thiên địa trong lòng bàn tay vậy, cái mặt trời huyết sắc kia thuỷ chung vẫn nằm trong bàn tay phải của Kiệt Sâm không mảy may thoát khỏi. Âm thanh kinh ngạc trong phòng thí nghiệm liên tiếp vang lên, thậm chí có người có bật thốt khá to. Rất hiển nhiên, cử động này của Kiệt Sâm đã hấp dẫn ánh mắt của tất cả mọi người nơi đây, những người ở đây bình thường luộn tự nhận đối với Kiệt Sâm rất am hiểu nhưng hiện tại trong mắt họ lại tràn ngập vẻ nghi hoặc và khiếp sợ. Khiến mọi người khiếp sợ hơn còn ở phía sau. Kiệt Sâm giơ cao tay phải lên, đồng thời nâng cao tốc độ xoay tròn của bình phối chế, tay trái thì chạm lên một ít dược tề cần thiết khác để phối chế dung dịch hoả nguyên tố trụ cột. Tay trái Kiệt Sâm mỗi lần chạm lên những bình dược tề kia đều khẽ động một cái, trong ánh mắt kinh ngạc không thể ký giải của mọi người, từng đoàn từng đoàn lớn lớn nhỏ nhỏ chất lỏng không đồng đều như tự động từ trong bình thoát ra rơi vào trong mặt trời huyết sắc trên tay phải của Kiệt Sâm rồi biến mất tăm. Ánh mắt của tất cả mọi người trong phòng thí nghiệm đều chăm chú nhìn vào hai tay của Kiệt Sâm muốn xem hắn làm thế nào được như vậy nhưng không người nào có thể nhìn ra được! Ở đây, người duy nhát có thể thấy rõ động tác của Kiệt Sâm cũng chỉ có Linh Dược Sư tam giai là Khắc Lai Nhân. Trong linh thức của nàng, thân thể của Kiệt Sâm trong cả quá trình đều không ngừng lay động theo một quy luật nào đó, chỉ là biên độ dao động vô cùng nhỏ, hơn nữa mỗi khối cơ bắp trên người Kiệt Sâm đều đang không ngừng rung động, kết hợp vô cùng hoàn mỹ với động tác trên tay. Khi tay trái Kiệt Sâm chạm lên các bình dược tề trên bàn thì đều khẽ vặn cái mỗi bình một cái, chỉ là động tác này quá nhanh mới khiến cho mọi người cảm giác là cái bình như không hề bị di động. Hơn nữa căn cứ theo tốc độ và biên độ vặn của thì thể tích cùng tốc độ dược tề bay ra cũng bất đồng, nhưng hết thảy đều có thể vừa vặn rơi vào trong miệng bình phối chế đang xoay tròn cực nhanh trên tay phải Kiệt Sâm. Cả quá trình nói ra thì cực kỳ đơn giản nhưng thao tác thực tế thì độ khó vô cùng cao. Việc khống chế cơ bắp phối hợp trong cả quá trình chỉ cần hơi có chút không cân đối thì thí nghiệm sẽ thất bại trong gang tấc. Ít nhất là trong lý giải của Khắc Lai Nhân, loại thủ pháp thần kỳ này nàng chưa từng thấy cũng như chưa từng nghe qua bao giờ. - Xuy! Khi mọi người còn đang ngơ ngác nhìn cái mặt trời huyết sắc trên tay phải của Kiệt Sâm thì một đạo tàn ảnh màu đen đột nhiên xẹt qua. Tay trái đang rãnh rỗi của Kiệt Sâm như thiểm điện gia nhập vào "chiến đoàn", không đợi cho mọi người kịp phản ứng, mặt trời huyết sắc trên tay phải của Kiệt Sâm đột nhiên biến mất không thấy nữa. Một bình dung dịch mày đỏ thẫm toả ra hồng mang lóng lánh theo đó xuất hiện trên mặt bàn thí nghiệm trước mặt Kiệt Sâm toát ra vẻ vô cùng thần bí, hấp dẫn ánh mắt mọi người. - Khắc Lai Nhân lão sư, bài tập thực hành thí nghiệm người giao, ta đã hoàn thành, ta nghĩ ta có thể trở về rồi chứ! Không đợi Khắc Lai Nhân kịp lên tiếng, Kiệt Sâm đã đem cái bình dung dịch màu đỏ thẫm kia nhẹ nhàng đưa tới trước mặt nàng, sau đó nhấc chân đi về phía cửa phòng thí nghiệm mà đi. Trên đường đi Kiệt Sâm đi qua, tất cả học viên đều trợn mắt há mồm nhao nhao mở ra một con đường cho hắn đi. Đến khi bóng lưng Kiệt Sâm đã biến mất ngoài cửa mà cả đám vẫn còn ở trong tình trạng ngốc trệ. - Cái này ... cái này ... Vẻ mặt Khắc Lai Nhân vẫn còn khiếp sợ nhìn bình dung dịch đỏ thẫm trên tay. Trong linh thức của nàng, bình dung dịch này tản ra một đoàn khí tức hoả hệ nguyên tố như có như không nhưng lại vô cùng tinh khiết đã nói rõ thân phận của dung dịch này đích xác chính là dung dịch hoả nguyên tố trụ cột. Tai linh dược giới, một lọ dung dịch hoả nguyên tố trụ cột nếu như phát tán ra nguyên tố khí tức càng nhạt thì chứng tỏ hoả hệ nguyên tố bên trong càng nội liễm, độ tinh khiết càng lớn cũng tương đương với phẩm giai càng cao. Mà giờ khắc này, bình dung dịch hoả nguyên tố trụ cột trước mặt Khắc Lai Nhân phát ra khí tức nguyên tố gần như bằng không. Loại phẩm giai này Khắc Lai Nhân chỉ thấy vẻn vẹn một lần duy nhất khi chứng kiến đạo sư của nàng tự mình phối chế. Về sau, nàng được nghe chính miệng đạo sư của mình nói rằng lần phối chế đó chính là lần phối chế hoàn mỹ nhất trong đời hắn. Nhưng mà, chính thức làm cho Khắc Lai Nhân khiếp sợ còn chưa phải là những cái này ... Tại linh dược giới, dung dịch hoả nguyên tố trụ cột là một trong những dược tề cơ bản và quan trọng nhất của linh dược học. Mà cách phối chế dung dịch hoả nguyên tố trụ cột cũng là một trong những thí nghiệm trụ cột buộc phải nắm giữ của các học viên trong linh dược hệ. Cáu này không chỉ bởi vì dung dịch hoả nguyên tố trụ cột là dược tề được sử dụng phổ biến nhất trên đại lục, cũng không chỉ vì dung dịch hoả nguyên tố trụ cột là một trong những dược tề dễ phối chế nhất trong linh dược học, nguyên nhân trọng yếu nhất là trong lúc phối chế dung dịch hoả nguyên tố trụ cột cần đảm bảo nguyên lý phối hợp các loại dược dịch khác nhau, trong quá trình đó còn bao gồm cả các trình tự như dung hợp, tinh luyện, chắt lọc, phân ly ... càng góp phần đề cao việc rèn luyện linh thức phân tích dược tề phù hợp ... Mà trong những thao tác vừa rồi của Kiệt Sâm, Khắc Lai Nhân căn bản không thấy được bất luận một bước nào đột nhiên, nàng chỉ chứng kiến thấy Kiệt Sâm đem rất nhiều loại dược tề trong đó hỗn hợp lại, càng làm cho nàng khiếp sợ là trong cả quá trình phối chế nàng không cảm nhận được Kiệt Sâm phóng xuất ra cho dù chỉ là một tia linh thức nhỏ nào. Phải biết rằng, linh thức trong phối chế linh dược tề là một việc không thể thiếu mà càng là việc trọng yếu hàng đầu bởi vì linh thức sẽ giúp Linh Dược Sư phán đoán phản ứng của hai hoặc nhiều chủng loại dược tề bất đồng trong quá trình dung hợp như thế nào, điều này là vô cùng quan trọng quyết định thành bại cũng như phẩm giai của dược tề được phối chế ra. - Cái này ... vừa rồi quả thật là Kiệt Sâm sao ...? Tạp La Đặc nhìn bình dung dịch hoả nguyên tố trụ cột trên tay Khắc Lai Nhân mà không khỏi mê mang, bởi vì trong cả học viện này, Tạp La Đặc hắn có thể xem là người quen thuộc với Kiệt Sâm nhất, nhưgn lúc này hắn vẫn cứ như mơ. - Đúng rồi, Kiệt Sâm đâu? Sau một lúc khiếp sợ, Khắc Lai Nhân mới đột nhiên nhìn lại chỗ Kiệt Sâm đứng thì đã không thấy thân ảnh của hắn đâu nữa. Nguồn truyện: Truyện FULL - Khắc Lai Nhân lão sư, Kiệt Sâm vừa đi ra ngoài rồi! - Đi ra ngoài? Các người tiếp tục làm thí nghiệm đi, hôm nay tất cả mọi người đều phải nắm giữ được cách phối chế dung dịch hoả nguyên tố trụ cột này cho ta! Khắc Lai Nhân cố nén tâm tình muốn lập tức chạy đi tìm Kiệt Sâm lại, thở mạnh ra một hơi phân phó. Nàng biết rõ, buổi thí nghiệm chiều nay còn chưa kết thúc, là một giáo sư linh dược học, ở chỗ này còn hơn 100 đệ tử cần nàng chiếu cố. Kiệt Sâm sau khi đưa hoả nguyên trụ cột dịch cho Khắc Lai Nhân và lưu lại câu nói kia liền rời đi. Giờ phút này hắn đang lểnh thểnh đi ra đại môn học viện, bước đi vô mục đích trên đường phố Tháp Lâm thành. Cảm thụ được hai tay run rẩy và đau nhức liên hồi lại nghĩ tới cảnh phối chế vừa rồi, Kiệt Sâm không khỏi lắc lắc đầu. Cái thân thể hiện tại của hắn thật sự là quá yếu, kiếp trước Kiệt Sâm vô cùng dễ dàng, thuận tay là có thể phối chế ra loai linh dược tề này với phẩm giai cao nhất, khí tức nguyên tố hoàn toàn nội liễm vào trong, nhưng hiện tại mặc dù hắn đã xuất toàn lực mà vẫn không thể nào đạt tới trạng thái hoàn mỹ. Hơn nữa, từ cảm giác hai bàn tay truyền lại, Kiệt Sâm biết rõ trong lúc phối chế, cơ nhục trên hai tay hắn đã có rất nhỏ tổn thương và tê liệt. Việc này đối với kiếp trước của hắn là căn bản không thể nào xảy ra, cũng không thể nào tưởng tượng được. Trên đường ngựa xe như nước, người đến người đi tấp nập và rầm rĩ tiếng huyên náo nhưng trong nội tâm Kiệt Sâm lúc này mọi thứ cứ như một giấc mộng, trong mắt không có chút sắc thái nào. - Hữm? Không biết đã lang thang trên đường cái bao lâu, đột nhiên trong ánh mắt Kiệt Sâm toát ra một tia thần thái khi nhìn vào một toà kiến trức bề thế khí khái ở phía trước. Đây là một kiến trúc theo kiểu Châu Âu toàn bộ do đá cẩm thạch xây nên, cả kiến trúc đều lộ ra vẻ cực kỳ trang nghiêm cao quý. Càng kỳ lạ là mặc dù những nơi khác ngựa xe tấp nập nhưng quảng trước trước mặt toà kiến trúc này lại rất ít người qua lại, chỉ có vài chiếc xe ngựa trang trí cực kỳ xa hoa đậu ở đó làm tôn thêm vẻ quý trọng của toà kiến trúc này. Một ít người khi đi ngang qua đây nhìn về toà kiến trúc kia trong ánh mắt đều tràn ngập vẻ tôn kính và trang trọng. Ánh mắt của Kiệt Sâm dừng lại trên một huy chương bằng đá trước đại môn, bề mặt huy chương khắc một quyền trục nằm ngang nghiêng một góc dựa vào một một cái bình dược tề. Đồ hình trên tấm huy chương nhìn vô cùng sống động, chắc hẳn là do một vị đại sư điêu khác tạc ra. Cái đồ án trên tấm huy chương này chính là đại biểu cho thế lực lớn nhất trên đại lục này - Linh Dược Sư công hội. Bất giác, Kiệt Sâm đã chậm rãi đi tới trước Linh Dược Sư công hội. Ở kiếp trước, thân là đại lục duy nhất Cửu giai Linh Dược Thánh Sư, cả cuộc đời đều kính dâng cho linh dược học cho nên lúc này khi nhìn thấy Linh Dược Sư công hội trước mặt, trong lòng Kiệt Sâm không tránh khỏi có một tia xúc động. Bên ngoài đại môn của Linh Dược Sư công hội tuy nhìn vô cùng quý phái nhưng cũng không kém hùng vĩ. Khi đi vào bên trong, trước mặt lại mà một không gian rộng mở trong sáng, một quảng trường khổng lồ xuất hiện trước mặt Kiệt Sâm. Trên đại sảnh cũng không có bao nhiêu người nhưng diện tích của nó thì quả thật rất lớn. Trong đại sảnh, mỗi người đều vùi đầu vào phần công việc của mình, trong khí tản mát một cổ hương vị do đủ loại khí tức dược tề hỗn hợp mà thành, loại hương vị này đối với Kiệt Sâm vô cùng quen thuộc khiến cho hắn như thoáng cái đã trở lại quá khứ. Linh Dược Sư công hội lúc này so với ba ngàn năm sau cũng không có bao nhiêu biến hoá. Nhớ rõ năm đó, khi Kiệt Sâm chính mình lần thứ nhất đi vào đây tiến hành chứng thực Nhị cấp Linh Dược Sĩ đã bị tràng diện to lớn nơi này doạ cho giật mình không ít. - Hoan nghênh tới Linh Dược Sư công hội của Tháp Lâm thành! Một âm thanh nữ nhân vô cùng êm tai truyền tới trước mặt Kiệt Sâm. Kiệt Sâm lập tức hồi phục tinh thần, ngẩng đầu nhìn lại thì thấy trước mặt đang có một vị nữ tử tóc ngắn xinh đẹp mặc đồng phục của công hội đứng trước mặt. Hoá ra, trong lúc suy nghĩ vẫn vơ, Kiệt Sâm đã đi tới trước quầy phục vụ trong đại sảnh. - Xin chào ngài, xin hỏi ngài cần gì? Khải Tát Lâm tươi cười đứng trước mặt Kiệt Sâm hỏi. Thực tế thì lúc Kiệt Sâm vừa bước chân vào đây thì Khải Tát Lâm đã chú ý tới hắn. Người thiếu niên này thoạt nhìn chỉ tầm mười bảy mười tám tuổi, trên mặt còn chưa hoàn toàn bỏ đi vẻ ngây thơ của hài tử, xiêm y trên người cũng không hề gọn gàng, lộ ra chút tuỳ ý nhưng trong lòng Khải Tát Lâm lại không chút nào khinh thị. Linh Dược Sư là một chức nghiệp cao quý trên đại lục này, mà một ít Linh Dược Sư ở những phương diện khác không quá để ý. Giống như hội trưởng công hội Tát Cáp đại sư, mỗi lần gặp ông ta đều thấy ông ta chỉ mặt một bộ trường bào cũ rích nhưng không ai dám đối với ông ta có chút khinh thị nào. Linh Dược Sư công hội tuy không hạn chế bất kỳ ai tiến vào nhưng cũng không phải ai cũng dám đi vào đây. Ngay cả những đê giai Linh Dược Sư khi đi vào đây thần sắc cùng động tác đều vô cùng cẩn thận, nhưng thiếu niên trước mặt này khi tiến vào đây, Khải Tát Lâm từ trong ánh mắt của hắn lại cảm nhận được sự tuỳ ý và nhẹ nhõm. Loại thần sắc đó thật sự giống như Linh Dược Sư công hội này chính là nhà của hắn vậy, căn bản không chút câu thúc hay sợ hãi nào. Loại thần thái này Khải Tát Lâm chỉ bắt gặp ở một số ít Linh Dược Sư cao cấp mới cảm thụ được. Có lẽ thiếu niên này là đệ tử của vị đại sư nào đó a. Mặc dù còn chưa biết Kiệt Sâm là ai nhưng trong lòng Khải Tát Lâm đã tự đưa ra một số đánh giá nhất định. - Ta chỉ tuỳ tiện nhìn xem thôi! Kiệt Sâm nhàn nhạt trả lời, ánh mắt thì tuỳ ý lưu động khắp đại sảnh. Bộ dáng tươi cười trên mặt Khải Tát Lâm càng tươi hơn, loại thần thái tuỳ ý này không phải ai cũng có được. - Nếu như ngài trong quá trình phối chế dược tề gặp phải nghi hoặc hay phiền toái gì cần giúp đỡ thì hãy đên khu vực số ba bên trái đại sảnh, nếu ngài muốn mua tài liệu và vật phẩm thì tới khu giao dịch ở khu vực số hai bên phải đại sảnh. Ngoài ra còn có các khu vực khác như: khu tin tức, khu dược tề thành phẩm, dược tề phối chế ... trên bảng hướng dẫn trong đại sảnh có ghi rõ ràng tất cả. Khải Tát Lâm căn cứ theo suy đoán trong lòng về nguyên nhân thiếu niên trước mặt này đến Linh Dược Sư công hội để nhắc nhở, trên mặt thuỷ chung vẫn tươi cười niềm nỡ: - Ngài có thể tuỳ ý xem, bốn phía dạo chơi, nếu có vấn đề gì thì có thể tới tìm tôi, tôi luôn ở ngay tại quầy phục vụ đại sảnh này. Sau khi tuỳ ý nhìn khắp nơi trong đại sảnh, Kiệt Sâm không tự giác nhấc chân đi về phía khu vực hỗ trợ ở khu số ba bên trái đại sảnh. Thấy Kiệt Sâm đi tới khu vực hỗ trợ, Khải Tát Lâm cũng thu hồi ánh mắt, thầm nghĩ: quả nhiên như mình đoán, đây hẳn là một vị Linh Dược Sư trẻ tuổi gặp phiền toái trong lúc phối chế dược tề a. Say khi ổn định tâm thần, Khải Tát Lâm bắt đầu tiếp tục bận rộn với công việc của mình, hôm nay nàng còn rất nhiều thứ còn chưa xử lý xong. Bạn đang đọc truyện được copy tại Truyện FULL Xuất hiện trước mặt Kiệt Sâm là từng dãy ngăn tủ lớn bằng kim loại cao cỡ một người lớn, trên bề mặt các ngăn tủ đều biểu hiện một chút tin tức, mà ở bên trong mỗi ngăn tủ đều đặt một chồng giấy và một cây bút. Tới trước một ngăn tủ, Kiệt Sâm cẩn thận quan sát tin tức trên mặt tủ. - Trong quá trình phối chế tiêu dung tề, sau khi bỏ vào sang lưu dịch thì phản ứng kịch liệt cùng với đại lượng linh nguyên tố tán phát ra sẽ khiến cho linh thức khó nắm bắt được trình độ phản ứng của dung dịch, không cách nào khống chế hai loại dung dịch này hỗn hợp được. Phải làm như thế nào mới có thể giải quyết vấn đề này? Có thể giải quyết từ vấn đề hình thái bên ngoài của dược tề không? Tiêu dung tề là một loại Thượng phẩm dược tề cấp hai. Linh dược tề trong đồng cấp cũng chia thành thượng trung hạ tam phẩm, Linh Dược Sư trong đồng cấp cũng đồng dạng chia thành ba cấp thượng trung hạ phân biệt đối ứng với tam phẩm của dược tề. Nếu một Linh Dược Sĩ cấp hai có thể phối chế ra ba loại đã ngoài Thượng phẩm dược tề cấp hai thì vị Linh Dược Sư này có thể được xưng là một cấp hai Linh Dược Sĩ thượng phẩm. Tiêu dung tề là một loại dược tề chuyên dùng để thanh trừ tạp chất trong các khoáng vật được đào ra từ trong quặng khoáng, cho nên nó là một loại phụ trợ dược tề, thuộc về loại cấp hai Thượng phẩm linh dược tề đơn giản nhất. Quá trình phối chế nó đối với một Linh Dược Sĩ cấp hai cũng không tính là phức tạp, chỉ có một khó khăn duy nhất là trong quá trình phối chế khi cho thêm sang lưu dịch vào, nếu linh thức không đạt tới trình độ cấp hai thượng phẩm thì rất khó nắm bắt được thời cơ để hai dung dịch hỗn hợp hoàn toàn với nhau, do đó dễ dẫn tới tình trạng phối chế thất bại. Rất rõ ràng, Linh Dược Sư đưa ra vấn đề này còn chưa đạt tới trình độ Nhị hai thượng phẩm Linh Dược Sĩ đang muốn dựa vào một loại vận may để giúp cho một Linh Dược Sĩ cấp hai chưa đạt tới thượng phẩm như hắn cũng có thể phối chế ra Nhị giai Thượng phẩm tiêu dung tề. Sau khi đặt ra vấn đề hỏi, hắn còn dựa theo một góc độ khác để đưa ra cách suy nghĩ giải quyết vấn đề này tuy nghiên chính hắn vẫn chưa thực sự tìm ra được biện pháp. Chứng kiến vấn đề này, thần sắc Kiệt Sâm không khỏi có chút hoảng hốt, một sự kiện nào đó lập tức xuất hiện trong đầu hắn. Trên thế giới này, Linh Dược Sư mà một chức nghiệp cực kỳ tôn quý, mà muốn trở thành một Linh Dược Sư thì nhất định phải có thiên phú cực cao, đồng thời cần phải có linh thức cường đại hỗ trợ. Linh thức thiên phú là bẩm sinh, nó chẳng nhất là thứ quan trọng nhất đối với Linh Dược Sư mà đối với Linh Sư cũng trọng yếu không kém. Linh thức mạnh yếu cũng đại biểu cho khả năng câu thông với nguyên tố trong thiện đại mạnh yếu thế nào. Linh thức có thể dựa vào hậu thiên tu luyện để không ngừng nâng cao. Một người nếu không chịu kiên trì không ngừng tu luyện linh thức thì hắn không thể nào trở thành Linh Sư cũng như Linh Dược Sư được. Ở kiếp trước, do cha mẹ đã mất sớm trong chiến loạn nên từ nhỏ Kiệt Sâm đã có mộng tưởng trở thành một Linh Sư cường đại. Nhưng sau khi trải qua kiểm tra thì linh thức tiên thiên của Kiệt Sâm rất yếu, không có thiên phú để trở thành một Linh Sư được. Sau khi biết kết quả nhưng Kiệt Sâm vẫn không hề buông tha cho mộng tưởng của mình. Biết rõ là không có khả năng nhưng hắn vẫn dứt khoát bước lên con đương tu luyện Linh Sư, trải qua năm năm cô cùng gian khổ tu luyện, đã chảy không biết bao nhiêu máu và nước mắt, nếm qua không ít khổ đau nhưng linh thức của Kiệt Sâm vẫn chỉ dừng lại ở Nhị giai. Lúc này Kiệt Sâm đã triệt để minh bạch, cho dù cả đời này hắn có cố gắng thế nào đi nữa cũng vĩnh viễn không thể trở thành Linh Sư, cho dù là một Nhất giai linh đồ cũng không được. Nhưng buông tha cho con đường Linh Sư thì Kiệt Sâm không cam lòng, nên hắn lại bắt đầu đi lên một con đường còn gian nan hơn là Linh Dược Sư. Do giỏi về quan sát nên Kiệt Sâm phát hiện, tại thời điểm phối chế bất luận loại dược tề nào, ngoài trừ sự biến hoá của nguyên tố năng lượng bên trong dung dịch thì hình thái bên ngoài của dung dịch, nhan sắc, mùi, độ ẩm, mật độ, xúc cảm ... các loại nhân tố này cũng đang không biến hoá. Mà ở phương diện dược tề phản ứng này Kiệt Sâm lại biểu hiện ra thiên phú kinh người. Mạc dù chỉ linh thức Nhị giai, dựa vào sự cảm ứng yếu ớt với nguyên tố như vậy kết hợp với hình thái vật lý phản ứng của dược tề, Kiệt Sâm bắt đầu không ngừng nghiên cứu phối chế cáci loại dược tề cao cấp. Tại lúc hắn hai mươi sáu tuổi thì đã thành công trở thành người duy nhất trên đại lục đạt được danh hiệu Cửu giai Linh Dược Thánh Sư. Bạn đang đọc truyện tại Truyện FULL - www.Truyện FULL Kiệt Sâm căn cứ vào sự biến hoá hình thái vật lý của dược tề đã nghiên cứu sáng tạo ra thủ pháp phối chế hoàn toàn riêng biệt đồng thời mở ra cho tất cả Linh Dược Sư trên đại lục một con đường mới. Và Kiệt Sâm lúc đó cũng được Linh Dược Sư công hội tặng cho danh hiệu người sáng lập kỹ thuật lưu của linh dược giới. Là một Linh Dược Sư, mục tiêu của Kiệt Sâm đương nhiên là cảnh giới Thập giai Dược Thần, nhưng Kiệt Sâm cũng minh bạch, con đường Linh Dược Sư của hắn đã đi tới bước cuối cùng rồi. Trải qua nhiều năm tu luyện nghiên cứu như vậy, tại lúc Kiệt Sâm hai mươi bảy tuổi mà linh thức của hắn cũng chỉ đại tới Ngũ giai. Hắn sáng lập ra kỹ thuật lưu cũng chỉ có thể đưa hắn tới đỉnh phong Cửu giai Linh Dược Thánh Sư chứ không thể nào giúp hắn trùng kích cảnh giới Thập giai Dược Thần được. Thần lĩnh vực, đó là một cấm khu tồn tại. Kiệt Sâm minh bạch, cảnh giới đó chỉ sợ khi bản thân hắn đạt được Cửu giai linh thức kết hợp với thần hồ kỳ kỹ thủ pháp của hắn mới có thể trùng kích được. Thân là Cửu giai Linh Dược Thánh Sư, Kiệt Sâm cho dù đã trở thành đệ nhất Linh Dược Sư của đại lục nhưng vẫn không thể trùng kích cảnh giới Dược Thần luôn là nỗi tiếc hận ẩn sâu trong lòng hắn. - Trong quá trình phối chế tiêu dung tề, sau khi bỏ thêm vào sang lưu dịch thì trong bình phối chế sẽ xuất hiện một lớp dầu phân cách rất nhỏ, khi đem lớp dầu này di động tới giữ bình thì chính là thời khắc phối chế tốt nhất! Cầm lấy cây bút trong ngăn tủ, sau khi viết lên một trang giấy những lời sau, Kiệt Sâm lại theo thói quen ký tên hai chữ K.S rồi mới thả tờ giấy lại vào trong ngăn tủ rồi tiếp tục nhìn tới những ngăn tủ tiếp theo ... Đến khi Kiệt Sâm rời khỏi Linh Dược Sư công hội thì trời đã chạng vạng tối, hoàng hồn buông xuống nhuộm bầu trời của Tháp Lâm thành thành một tầng vàng kim óng ánh huyễn lệ. Trong bất tri bất giác, Kiệt Sâm đã ở trong Linh Dược Sư công hội suốt cả buổi trưa. Kim quang nhu hoà của trời chiều chiếu xạ vào hai tròng mắt của Kiệt Sâm. So với lúc buổi trưa thì vẻ mê mang trong đôi mắt Kiệt Sâm đã không còn nữa, hiện tại chỉ còn là ý chí chiến đấu không khuất phục. Kiếp trước của Kiệt Sâm bởi vì thiên phú bẩm sinh không đủ nên không thể trở thành một Linh Sư cường đại, lại càng bởi vì linh thức nên cả đời cũng không thể đột phá lên Thập giai Dược Thần lĩnh vực được. Ở kiếp trước, đây là hai điều khiến cho lòng hắn luôn đau nhức, mà hôm nay không phải thượng thiên đã cho hắn thêm một lần cơ hội để hoàn thành mộng ước từ kiếp trước sao! Mang trên mặt bộ dáng tươi cười lạnh nhạt, Kiệt Sâm chậm rãi bước chân đi về Tây Tư linh lực học viện. Ánh trời chiều rọi lên thân hình cao ngất gầy yếu của hắn không hiểu sao lại khiến cho người khác có cảm giác bóng lưng hắn vô cùng cao lớn và kiên định. Tiếu Ba làm công ở Linh Dược Sư công hội Tháp Lâm thành đã hơn một năm, là một tiền bối đạt tới Cửu cấp Linh Dược Đồ trong Linh Dược Hệ của học viện Tây Tư, Tiếu Ba chỉ còn kém một cấp là có thể trở thành một gã Nhất giai hạ phẩm Linh Dược Đồ chính thức, rồi từ đó có thể đưa bản thân hắn vào trong đội ngũ những Linh Dược Sư cao cấp. Hiện tại Tiếu Ba ở Linh Dược Sư công hội tại thành Tháp Lâm này cũng chỉ làm vài công việc lặt vặt không có bao nhiêu thù lao. Trên thực tế, dùng thân phận của Tiếu Ba căn bản không cần phải đi làm những việc như thế này cho dù nơi hắn làm công là nơi có địa vị cực cao như Linh Dược Sư công hội đi nữa. Mỗi một Linh Dược Sư đều là tài phú cực kỳ trân quý, là một Cửu cấp Linh Dược Đồ hiện tại Tiếu Ba đã có thể phối chế được không ít trụ cột dược tề. Chỗ khiếm khuyết của hắn chỉ là kinh nghiệm cùng năng lực tự mình phối chế ra một bình Nhất giai hạ phẩm linh dược tề mà thôi. Linh Dược Sư là một chức nghiệp đòi hỏi thiên phú và sự tích luỹ kinh nghiệm cực cao. Mà bầu không khí ở trong Linh Dược Sư công hội này có thể giúp cho Tiếu Ba được lợi rất nhiều, đây cũng là nguyên nhân vì sao hiện tại hắn vẫn còn ở lại đây làm công. Tiếu Ba vừa mới hoàn tất dược tề tiêu hao công cộng ở khu vực thí nghiệm phối chế xong, hiện tại hắn đang đứng trước mấy tủ kim loại của khu vực hỗ trợ chuẩn bị bắt đầu công việc cuối cùng trong ngày của hắn là đem những đáp án trong các tủ kim loại mang tới chỗ khu vực thông tin để thông tri đến người xin được hỗ trợ. Thuần thục mở ra ngăn tủ đầu tiên, Tiếu Ba tuỳ ý quét qua một chút, tay phải đang muốn theo thói quen đóng ngăn tủ này lại thì đột nhiên dừng bặt lại giữa chừng. Ở tỏng góc của ngăn tủ có một mảnh giấy đáp án đang lẳng lặng nằm ở đó. Khu hỗ trợ này là nơi để mọi người tới nhờ giải quyết khó khăn trong việc phối chế của mình, dùng kinh nghiệm của Tiếu Ba ở Linh Dược Sư công hội này hơn một năm thì nó cũng không có bao nhiêu công dụng. Trên thực tế, cho dù mỗi người trong quá trình phối chế cũng sẽ gặp đủ loại vấn đề, nhưng những vấn đề này đại đa số đều là do sai lầm của bản thân người phối phế nảy sinh, những sai lầm này mỗi Linh Dược Sư đều có thể từ các đồng bạn của mình tìm được lời giải đáp. Còn chân chính xin giúp đỡ trên cơ bản đều là một ít vấn đề không có kết luận hoặc là không có biện pháp giải quyết vấn đề. Bởi vậy, Tiếu Ba rất ít khi phát hiện những lời đáp án trong các ngăn tủ này. Mỗi khi phát hiện có đáp án trên cơ bản đều có xác xuất rất lớn là có thể giải quyết được vấn đề. Có rất ít Linh Dược Sư đưa đáp án sai ra để lừa gạt người khác, dù sao những đáp án này đều sẽ có ghi chép ở Linh Dược Sư công hội. Nhẹ nhàng lấy trang giấy đáp án kia ra, Tiếu ba tiến hành đăng ký trên tờ giấy đăng ký hắn luôn cầm theo một chút rồi lập tức bước tới ngăn tủ thứ hai. Ở ngăn tủ thứ hai này Tiếu Ba cũng theo thói quen vừa mở ra rồi đóng lại nhưng lần này vẫn gặp được trang giấy đáp án như ngăn tủ thứ nhất. - Hôm nay có chuyện gì vậy? Chửng lẽ có một Linh Dược Đại Sư đến công hội? Hay là Tát Cáp hội trưởng hôm nay đột xuất có hứng thú đến khu hỗ trợ đi dạo một vòng? Tiết Ba khẽ lầm bầm trong miệng rồi thuận tay đăng ký sau đó đi tới ngăn tủ thứ ba. ... Một trang giấy đáp án lẳng lặng nằm ở ngăn tủ cuối cùng xuất hiện trước mặt Tiếu Ba ... Tiếu Ba: "..." Lúc Kiệt Sâm trở lại học viện thì sắc trời đã lờ mờ, ở trong phòng ăn tuỳ tiện ăn ít đồ ăn rồi Kiệt Sâm trở lại ký túc xá của mình. Trong Tây Tư học viện, căn cứ theo học phí học viên nộp nhiều ít mà ký túc xá sẽ phân hoặc hai hoặc bốn hoặc sáu người chung một phòng, và Kiệt Sâm được phân ở khu ký túc xá cao cấp của học viện. Đẩy cửa ký túc xá của mình ra, nhìn những vật dụng và bài trí quen thuộc bên trong, khoé miệng Kiệt Sâm nhẹ thở ra một hơi rồi khoanh chân ngồi xuống giường của mình. Trong hai mắt đột nhiên toát ra hai luồng hào quang bức nhân, rồi lập tức khép lại. - Như vậy, bắt đầu thôi! Trong miệng khẽ lẩm bẩm một tiếng, hai tay Kiệt Sâm giao nhau đặt trước đan điền, cả người lập tức trầm tĩnh lại, cả linh hồn liền lâm vào một trạng thái linh hoạt kỳ ảo. Sau khi đã tìm ra mục tiêu của bản thân, trở lại ký túc xá, Kiệt Sâm không hề lãng phí một chút thời gian nào. Hiện tại hắn cần phải nhanh chóng hiểu rõ được trạng thái của thân thể hiện tại. Kiếp trước hắn bằng vào cố gắng cuối cùng cũng đạt tới đẳng giai Linh Dược Thánh Sư cùng với tính cách chấp nhất này của hắn cũng có liên hệ mật thiết. Kiệt Sâm giữ nhịp độ hô hấp vô cùng nhẹ nhàng, ở kiếp trước đã có kinh nghiệm vô cùng sâu đậm, giờ phút này hắn đang chậm rãi tiến vào trạng thái nhập định của Linh Sư. Trong cảm giác của Kiệt Sâm, tất cả cảm trên toàn thân theo thời gian chậm rãi tiêu tán, vô luận là khứu giác, vị giác, xúc giác, thị giác ... nói chung là tất cả các cảm giác từng cái đều rời xa. Cả thiên địa trong cảm giác của hắn từ từ chuyển từ sáng sáng tối đen, rồi hoàn toàn đen kịt! Loại đen kịt này cũng không phải do thị giác mang đến mà bởi vì hắn đã hoàn toàn đóng cửa các giác quan tiến vào trạng thái không minh mà có. Một người nếu như muốn trở thành một Linh Sư thì đầu tiên nhất định phải cảm ứng được thiên địa nguyên tố, mà muốn cảm ứng được thiên địa nguyên tố thì phải tiến vào trạng thái nhập định. Trạng thái này chính là che lại tất cả các giác quan của bản thân khiến cho đầu óc rơi vào một trạng thái kỳ ảo, không có bất kỳ suy nghĩ hay ý niệm nào trong đầu, đây được gọi là cảnh giới vô pháp vô niệm. Loại cảnh giới này, người có ngộ tính cao được trưởng bối chỉ dẫn thì lục lọi vài ngày là có thể tiến vào. Người có ngộ tính kém thì dù có khắc khổ thì có thể nói cả đời cũng không thể tiến vào trạng thái vô pháp vô niệm này được. Kiếp trước của Kiệt Sâm, lần đầu tiên tiếp xúc với việc nhập định mất gần nửa ngày thời gian. Có thể nói về phương diện tiến vào cảnh giới vô pháp vô niệm này, Kiệt Sâm có thiên phú cực kỳ kinh người. Hắn chỉ có một khuyết điểm duy nhất là thiếu thiên phú về phương diện linh thức mà thôi. Sau khi tiến vào trạng thái nhập định, Kiệt Sâm bắt đầu tinh tế thăm dò khối thân thể này, một lát sau, sau khi đã cảm nhận được tình huống của cái thân thể này, Kiệt Sâm không khỏi chấn động! Trong cảm giác linh thức của Kiệt Sâm, từng đạo khí lưu sệt sệt màu trắng ngà như sữa hoàn toàn do linh lực cấu thành đang ở trong kinh mạch hắn chậm rãi vận chuyển. Làm cho Kiệt Sâm giật mình là những đạo khí lưu màu trắng sữa này đã gần như hình thành chất lỏng rồi! Ở kiếp trước, lúc trước khi trọng sinh, linh lực của Kiệt Sâm ở vào khoảng Ngũ giai cho nên đối với trạng thái Ngũ giai linh lực hắn cực kỳ tinh tường. Dưới tình huống bình thường, chưa tu luyện tới Nhất giai Linh Đồ Sư thì linh lực trong cơ thể cực kỳ mỏng manh, dưới Linh Đồ, bất luận người tu luyện nào mỗi lần đề thăng một cấp thì linh lực trong kinh mạch vẫn cô cùng nhạt, chỉ giống như vụ khí gần như trong suốt mà thôi. Thông qua không ngừng tu luyện và tích luỹ, vụ khí trong suốt trong cơ thể sẽ từ từ trở nên dày đặc, đợi đến khi vụ khí chuyển thành màu trắng mờ thì đã đủ điều kiện để trùng kích lên đẳng giai tiếp theo. Bởi vậy, khi Kiệt Sâm cảm giác được linh lực Ngũ giai của mình ở trong kinh mạch lại đậm đặc gần như chất lỏng thì với kiến thức hai kiếp của hắn cũng khó tránh khỏi trợn mắt há mồm. Một đoạn trí nhớ có chút đứt quãng chậm rãi xuất hiện trong đầu Kiệt Sâm, theo đoạn trí nhớ kia không ngừng hoàn thiện, Kiệt Sâm cũng chậm rãi minh bạch chân tướng. Tên Kiệt Sâm trước kia ở phương diện tu luyện linh lực lại là một người rất có thiên phú, mười hai tuổi lần đầu tiếp xúc với linh lực, hắn chỉ dùng có một năm thời gian liền đột phá tới Tam giai linh lực rồi dùng thực lực đó tiến vào học viện Tây Tư này. Mà ở trong học viện, chỉ trong vòng nửa năm hắn liền đột phát hai cấp, một đường tiến thẳng tới cấp độ Ngũ giai linh lực, chuyện này lúc đó cũng khiến cho cả học viện chấn động không nhỏ. Nhưng ngay tại lúc tất cả các lão sư của học viên đối với Kiệt Sâm tràn ngập kỳ vọng thì Kiệt Sâm lại đột nhiên tu luyện trì trệ không tiến. Ở trong mắt mọi người, lúc đó Kiệt Sâm tựa hồ trở nên sa đoạ, hai năm kế tiếp, thực lực của Kiệt Sâm vẫn một mực dừng lại Ngũ giai, không có chút đột phá nào. Do không có bất kỳ tiến bộ nào nên trong những lần khảo hạch kế tiếp của học viện, mỗi lần Kiệt Sâm đều lấy việc không hợp cách mà thất bại. Trong học viện Tây Tư này, đệ tử không có cố định kỳ hạn tốt nghiệp, chỉ cần trong vòng mười năm có tehẻ trở thành một Linh Đồ là có thể thuận lợi tốt nghiệp, nếu trong vòng mười năm đó vẫn không trở thành Linh Đồ thì cũng sẽ tự động tốt nghiệp. Bất quá trong Tây Tư học viện lại có một quy định, nếu một học viên liên tục hai năm liền trong các đợt khảo hạch mà không hợp cách thì sẽ bị học viện cưỡng chế về nhà, hay nói cách khác chính là bị đuổi học. Nhưng từ lúc Tây Tư học viện được thành lập đến bây giờ vẫn chưa hề xuất hiện một học viên nào rơi vào trường hợp bị cưỡng chế nghỉ học như vậy. Kiệt Sâm do vẫn một mực khảo hạch không hợp cách nên dần dần cũng bị các học viên trong học viện ban cho cái danh xưng đệ nhất phế vật. Trong mắt mọi người thì Kiệt Sâm từ lúc linh lực đạt tới Ngũ giai thì bắt đầu sa đoạ, lên lớp thì không chăm chú nghe giảng, huấn luyện cũng không cố gắng hoàn thành, thậm chí còn thường xuyên trốn học, cũng không nghe ai khuyên bảo. Nhưng trên thực tế thì cho tới tận bây giờ Kiệt Sâm vẫn chưa hề đình chỉ việc khắc khổ tu luyện của mình. Hơn một năm trước, linh lực ngũ giai trong cơ thể hắn lần đầu tiên ngưng tụ thành khí vụ màu trắng sữa, Kiệt Sâm đã thử trùng kích quan khẩu Lục cấp, nhưng cũng ngay tại lần trùng kích đó một cổ đau nhức kịch liệt như xé rách cả linh hồn đột nhiên ập đến khiến Kiệt Sâm ngay cả phản ứng cũng không kịp, cả người vì quá thống khổ lập tức hôn mê đi. Nguồn truyện: Truyện FULL Ngày hôm sau, khi tỉnh lại, toàn thân Kiệt Sâm đầy mồ hôi, cả người giống như hư thoát, lần đó hắn phải tu dưỡng gần một tháng thời gian mới khôi phục lại như lúc đầu. Khiến cho Kiệt Sâm không ngờ tới là đây chỉ là bắt đầu cơn ác mộng kéo dài của hắn, linh lực ngũ giai trong cơ thể hắn không ngừng ngưng tụ và Kiệt Sâm cũng không ngừng trùng kích Lục cấp. Mỗi một lần trùng kích thì cổ đau đớn tận linh hồn kia lại kéo đến hành hạ toàn thân hắn một lần. Lần lượt cắn răng kiên trì, lần lượt không ngừng trùng kích nhưng đổi lấy là lần lượt thống khổ mà hôn mê. Kiệt Sâm đã sớm không nhớ ra được trong một năm rưỡi gần đây bản thân đã thử trùng kích lên Lục cấp bao nhiêu lần, hắn chỉ biết là theo bản thân không ngừng tu luyện, linh lực ngũ giai trong cơ thể càng lúc càng tinh thuần, càng lúc càng đậm đặc, nhưng đối với hết thảy những thứ này Kiệt Sâm lại không làm được gì ... - Đây là chuyện gì xảy ra? Sau khi hiểu rõ nguyên do, trong lòng Kiệt Sâm không khỏi thở dài một hơi, đồng thời cũng vô cùng nghi hoặc. Ba ngàn năm sau, hệ thống tu luyện của Linh Sư đã đạt tới một tình trạng vô cùng hoàn thiện, các loại lý luận liên tục được chỉnh sửa khiến có Linh Sư phát triển vượt xa so với bây giờ rất nhiều. Cho dù kiếp trước bản thân Kiệt Sâm linh lực chỉ đạt tới ngũ giai, ngay cả Nhất giai Linh Đồ cũng không đạt tới nhưng lấy thân phận đệ nhất Linh Dược Sư của hắn thì cũng chưa từng nghe nói qua một Linh Sư khi trùng kích kinh mạch lại xuất hiện loại tình huống này. - Đã vậy thì để ta tự mình xem xem rốt cuộc là vì cái gì mà khối thân thể này vẫn không thể đột phá linh lực Lục giai? Nghĩ không ra nguyên nhân nên Kiệt Sâm dứt khoát không nghĩ nữa mà chậm rãi điều động linh lực ngũ giai trong kinh mạch ngưng tụ lại điểm trùng kích Lục giai. Tuy hiện tại trong trí nhớ của hắn tràn đầy sự sợ hãi đã xâm nhập vào tân linh hồn vì sự đau đớn khi trùng kích kia nhưng đối với Kiệt Sâm đã định ra mục tiêu cho bản thân hiện nay mà nói, mặc kệ xuất hiện ở trước mặt hắn là cái gì ngăn cản hắn cũng quyết không chùn bước. Dưới sự điều động của Kiệt Sâm, luồng linh lực ngũ giai nồng đậm trong cơ thể hắn chậm rãi vận chuyển. Với cường độ linh lực trong cơ thể Kiệt Sâm lúc này, trên thực tế cũng không cần làm công tác chuẩn bị gì là có thể trực tiếp trùng kích quản khẩu Lục giai. Nhưng Kiệt Sâm vẫn cố gắng nắm giữ độ sinh động của linh lực trong cơ thể từ từ tăng lên nhằm tăng cơ hội thành công đồng thời cũng làm tăng lên cường độ sức sống của linh lực. Rốt cuộc, sau khi vận hành tròn mấy chu thiên, cường độ sức sống của linh lực trong cơ thể Kiệt Sâm đã đạt tới đỉnh điểm. Không chút do dự, linh lực trong cơ thể Kiệt Sâm lập tức gào thét như nộ giang đảo hải hung hăng đánh tới quan khẩu đi thông đệ lục giai. Trong ký túc xá, Kiệt Sâm vốn ngồi thù lù bất động trên giường thì thân thể lại đột nhiên run rẩy kịch liệt, hai mắt đang nhắm chặt đột nhiên mở lớn ra, một đạo khi slưu vô hình từ trong hai đồng tử hiện lên, sau đó Kiệt Sâm há miệng phun ra một ngụm trọc khí thật dài ... Khẽ xoa xoa hai nắm đấm, một cảm giác tràn đầy lực lượng từ trong thân thể truyền tới hai tay Kiệt Sâm khiến cho hắn có cảm giác xúc động như chỉ cần vung một quyền là có thể xé nát thiên không. Trong mắt Kiệt Sâm hiện lên một chút nghi hoặc, khi trùng kích lên đệ lục giai, Kiệt Sâm căn bản không gặp bất cứ lực cản gì, cũng không hề gặp phải sự thống khổ như trong trí nhớ kia. - Dù sao thì hiện tại ta cũng đã đạt tới đệ Lục giai a! Trong miệng khẽ nói nhỏ một tiếng, Kiệt Sâm vừa định đứng lên thì đột nhiên một đạo bóng đen xuất hiện trước mặt hắn. Theo bản năng, hai nắm đấm lúc nãy đã súc lực đầu đủ hung hăng đánh tới bóng đen kia. - Ai ui ... Bị hai đấm của Kiệt Sâm nện trúng, đạo hắc ảnh kia lập tức truyền ra một hồi tiếng kêu thảm thiết, thân hình chớp động một cái đã thối lui tới cửa vào ký túc xá! - Ặc, Kiệt Sâm ngươi cũng quá hung ác a, ta với ngươi nào có thâm cừu đại hận gì đâu chứ? Hắc ảnh vừa lui đến cửa đột nhiên phát ra một tràng phàn nàn. - Tạp La Đặc? Kiệt Sâm xuống giường nhìn lại thì mới thấy người nọ chính là tên ở cùng phòng với mình, đồng thời cũng là tên hồi chiều ở trong phòng thí nghiệm đứng bên cạnh mình - Tạp La Đặc. - Không phải là ta thì còn là ai? Kiệt Sâm, không ngờ ngươi ra tay cũng hung ác lắm a! Nhẹ nhàng xoa xoa hai tay vừa mới tiếp quyền của Kiệt Sâm lúc nãy, Tạp La Đặc nghiến răng nghiến lợi muốn nói gì đó tiếp thì lập tức dùng ánh mắt nghi ngờ nhìn về chỗ Kiệt Sâm: - Kiệt Sâm, ngươi ... ngươi ... linh lực của ngươi đã đột phá lên Lục giai? Đối với một quyền vừa rồi của Kiệt Sâm, Tạp La Đặc cũng không quá để ý, nhưng lúc này sau khi đã hồi phục tinh thần thì hắn mới phát hiện có điều gì đó không đúng. Lấy thực lực Cửu giai linh lực của Tạp La Đặc thì Kiệt Sâm với Ngũ giai linh lực cho dù toàn lực đánh hắn cũng không có bất kỳ tổn thương gì. Nhưng vừa rồi Kiệt Sâm chỉ tuỳ ý đánh ra một quyền lại làm cho hai tay của hắn đau đớn. Đây là một điều mà trước giờ Kiệt Sâm chưa từng làm được, huống chi vừa rồi Kiệt Sâm ngồi trên giường, rõ ràng là đang tu luyện a! Khẽ gật gật đầu, thấy ánh mắt nghi hoặc của Tạp La Đặc cùng với cái chậu nước và một cái khăn trên bàn thì Kiệt Sâm đã minh bạch vừa rồi Tạp La Đặc đang làm gì: - Cảm ơn! Từ trong trí nhớ, Kiệt Sâm biết rõ trong cả học viện này người hiểu rõ bản thân nhất chỉ có cái tên Tạp La Đặc này. Trước kia, mỗi lần Kiệt Sâm tu luyện đến hôn mê thì đều do Tạp La Đặc lặng yên chiếu cố, cũng bởi vì Tạp La Đặc biết được Kiệt Sâm tu luyện thống khổ như thế nào nên mới không hề xem thường Kiệt Sâm như những người khác. - Thôi đi, giữa huynh đệ chúng ta mà còn khách sáo cái gì, ngươi bệnh hả? Phì phì, không nói cái này, ha ha, việc vui lớn như vậy thì lần này tiểu tử ngươi nhất định phải mời khách đó. Nhất định phải hảo hảo chúc mừng một cái, để đám người kia sau này còn dám nói xấu ngươi hay không! Tạp La Đặc nhào tới ôm chặt Kiệt Sâm một cái, trên mặt mang theo nụ cười vui sướng từ tận đáy lòng. Đối với Kiệt Sâm, trong lòng Tạp La Đặc tràn ngập kính nể, mỗi lần hắn nhìn thấy Kiệt Sâm thống khổ trùng kích lên Lục giai mồ hôi nhễ nhại toàn thân và không ngừng co rúm cả người đến cuối cùng phải hôn mê đi thì Tạp La Đặc đều không khỏi tự hỏi bản thân nếu phải thừa nhận thống khổ như vậy thì hắn có thể giống như Kiệt Sâm trước sau như một vẫn không ngừng tu luyện để trùng kích lên Lục giai không? - Cần phải để ý tới cái nhìn của người khác nhiều vậy sao? Kiệt Sâm cười nhạt một tiếng, tuy đối với cái ôm này của Tạp La Đặc hắn có chút không quen nhưng lấy kinh nghiệm hai đời làm người của hắn thì hắn rõ ràng có thể cảm nhận được đây là sự quan tâm thật tình của Tạp La Đặc đối với hắn. - Nói vậy thôi, để ý đám người vô vị đó làm gì! Nhừng mà lúc chiều ngươi chạy đi đâu đó? Khắc Lai Nhân lão sư tìm ngươi mà không thấy, mà ta cả buổi chiều cũng không tìm được ngươi. À, đúng rồi, cái Hoả nguyên tố trụ cột dịch kia ngươi học phối chế hồi nào mà ta không biết thế? Ngươi không biết đâu, lúc ngươi đi rồi, toàn bộ đám đồng học đều phát ngốc ra ha ha, lần này thì ngươi thật sự nổi danh trong Linh Dược Hệ rồi! Nghe Kiệt Sâm nói vậy, Tạp La Đặc dùng một ánh mắt khác thường nhìn Kiệt Sâm. Hôm nay lúc ở trong phòng thí nghiệm, Tạp La Đặc cảm giác được Kiệt Sâm hôm nay có chút không giống với trước kia bất quá không giống ở chỗ nào thì lúc đó hắn không biết nhưng hiện giờ thì hắn rốt cục đã nhìn ra chỗ bất đồng rồi. Kiệt Sâm trước kia và Kiệt Sâm lúc này đều rất lạnh nhạt, nhưng Kiệt Sâm trước kia lạnh nhạt là một loại lạnh nhạt không cách nào dung nhập và trong học viện, nói khác hơn thì chính là một loại lạnh lùng do thiếu tự tin bởi vì một mực luôn không thể tấn chức Lục giai được mà sinh ra tâm lý muốn bảo toàn bản thân. Nhưng Kiệt Sâm hôm nay trên mặt cũng đồng dạng lạnh nhạt nhưng lại là một loại lạnh nhạt của kẻ cao cao tại thượng, trong mơ hồ còn có một tia khinh thường phảng phất như hắn chính là một đại nhân vật nhìn đám tiểu hài đồng xung quanh vậy. Tạp La Đặc cũng không hiểu tại sao bản thân lại có cách nghĩ như vậy nữa. - Khắc Lai Nhân lão sư tìm ta? Kiệt Sâm hơi kinh ngạc. - Hoả nguyên tố trụ cột dịch vốn là một loại dược tề rất đơn giản, chỉ cần cố gắng thì ai cũng có thể phối chế được. Một lần nữa ngồi lại lên giường, Kiệt Sâm khoanh chân nhắm mắt lại không tiếp tục để ý tới Tạp La Đặc nữa. Vừa mới đột phá lên Lục giai nên Kiệt Sâm hiện giờ cần nhất là phải thoáng củng cố tu vi và năng lượng linh lực trong kinh mạch, đồng thời còn phải trị liệu tổn thương thân thể do buổi chiều nay phối chế Hoả nguyên tố trụ cột dịch nữa. - Ai cũng có thể phối chế được? Tạp La Đặc thầm bĩu môi đưa mắt nhìn Kiệt Sâm đang ngồi khoanh chân trên giường một cái rồi hắn cũng bắt chước leo lên giường của mình khoanh chân lại, nhưng trong miệng vẫn lẩm bẩm: - Xem ra ta cũng phải hảo hảo cố gắng, không có đạo lý nào ngay cả Nhất giai Linh Dược Đồ như ngươi phối chế được mà Ngũ giai Linh Dược Đồ như ta lại không phối chế ra, như vậy không phải là rất mất mặt sao? Trong lúc củng cố tu vi, những thương tổn ban chiều trong cơ thể Kiệt Sâm rất nhanh đã khôi phục lại, tuy vẫn chưa hoàn toàn khôi phục nhưng ít ra cũng không vì vậy mà để lại di chứng gì. Đối với cái thân thể suy yếu này của mình, Kiệt Sâm cũng không có biện pháp gì tốt. Muốn đề cao cường độ thân thể cũng không phải chuyện một sớm một chiều là được. Bản thân hắn kiếp trước cũng phải trải qua đại lượng huấn luyện kết hợp với các loại dược tề đặc thù chậm rãi bồi dưỡng mà thành. Khiến cho Kiệt Sâm cảm thấy vui mừng chính là linh lực nồng đậm như chất lỏng màu trắng ngà trong kinh mạch của hắn sau khi đột phá lên Lục giai bởi vì lúc trước lượng tích luỹ quá lớn nên trong kinh mạch hiện giờ nồng độ linh lực vẫn không khác gì lúc trước. Với cường độ linh lực như vậy, Kiệt Sâm biết cho dù hiện tại bản thân hắn có tiếp tục trùng kích lên Thất giai cũng có nhất định nắm chắc thành công. Bạn đang đọc truyện được copy tại Truyện FULL Đương nhiên, nghĩ là nghĩ vậy nhưng Kiệt Sâm không thực hiện. Kiếp trước của hắn tuy không đi được xa trên con đường Linh Sư nhưng với kinh nghiệm và kiến thức của hắn lúc đó làm sao không biết Linh Sư tu luyện cũng không phải là một quá trình chỉ đơn thuần là tích luỹ linh lực, quan trọng hơn chính là sự thao khống cùng hiểu rõ được kết cấu của thiên địa nguyên tố. Cho nên hiện tại hắn biết rõ trước mắt mọi việc phải tiến hành theo chất lượng, phải củng cố cho vững vàng tu vi Lục giai hơn nữa Lục giai trong quá trình tu luyện của Linh Sư cũng là một giai đoạn trọng yếu. Tu vi linh lực dưới Lục giai chỉ có tác dụng cường kiện thân thể nhưng từ Lục giai trở về sau chính là sự nhảy vọt về sự tăng cường, lúc này người tu luyện mới thực sự có tư cách tu luyện linh kỹ công pháp. Trong quy định của Tây Tư học viện có một điều là bất luận học viên nào chỉ cần tu luyện được tới Lục cấo là có thể tiến vào Tàng Thư Các của học viện lựa chọn một bộ công pháp trụ cột hàng đầu. Sáng sớm! Trong văn phòng hội trưởng Linh Dược Sư công hội thành Tháp Sâm, một lão giả trong một bộ trường bào cũ nát đang ngồi ngay ngắn trước bàn làm việc, hai mắt nhìn chằm chằm vào mấy trang giấy trong tay như có điều suy nghĩ. Người này không ai khác chính là Linh Dược Sư công hội hội trưởng của Tháp Lâm thành, đồng thởi cũng là một trong hai Tứ giai Linh Dược Thiên Sư ở đây - Tát Cáp hội trưởng. Tát Cáp tuy là hội trưởng của Linh Dược Sư công hội tại thành Tháp Lâm nhưng trên thực tế thời gian mỗi ngày hắn ở trong công hội không có bao nhiêu, thậm chí có khi cả đoạn thời gian dài hắn đều nhốt mình trong phòng thí nghiệm không thấy bóng dáng. Là một Tứ giai Linh Dược Thiên Sư luôn một lòng nghiên cứu linh dược học, hắn rất ít khi bị sự tình gì kinh động. Nhưng mà buổi sáng ngày hôm nay hắn lại nhận được một tin tức nên phải cấp tốc chạy tới văn phòng này không hề có chút trì hoãn hay do dự nào. - Đông đông đông ... Tiếng đập cửa vang lên, Tát Cáp không hề ngẩng đầu, ánh mắt vẫn tập trung vào mấy tờ giấy trong tay như trước, mở miệng nói: - Mời vào! Một nữ tử tóc ngắn ôm một đống tư liệu đẩy vào, thấy Tát Cáp đang ngay ngắn ngồi ở đó, thần sắc của nữ tử này cực kỳ cung kính thậm chí còn có chút sùng bái. Nếu Kiệt Sâm ở đây lúc này chắc chắn sẽ nhận ra vị nữ tử tóc ngắn này chính là nhân viên phục vụ đã tiếp hắn ở trong đại sảnh - Khải Tát Lâm. - Hội trưởng đại nhân, đây là tư liệu ngài cần, căn cứ theo thống kê thì người ký tên K.S này ngày hôm qua tổng cộng đã trả lời hai mươi sáu vấn đề ở khu vực hỗ trợ. Thông qua tình huống phản hồi trước mắt thì đã có hai mươi ba người chứng thực kết quả thí nghiệm không sai, hiện tại vẫn còn ba vấn đề chưa có phản hồi về. Khải Tát Lâm nhanh chóng báo cáo cho Tát Cáp nhưng bởi vì khẩn trương nên có thể nghe ra trong giọng nói của nàng còn có chút run rẩy. Trong lòng nàng lúc này đối với vị K.S đại sư kia vô cùng cảm kích, nếu không nhờ có người đó thì chỉ sợ nàng căn bản không có cơ hội được ở trước mặt Tát Cáp hội trưởng báo cáo như thế này. Nghe Khải Tát Lâm báo cáo, trên mặt Tát Cáp không hề có chút sắc thái nào tựa như trong lòng hắn đã sớm biết rõ kết quả sẽ là như vậy. Một lát sau, Tát Cáp khẽ ngước đầu lên, ánh mắt chăm chú, nói: - Cô xác định người ký tên K.S này chỉ là một thiếu niên tầm mười bảy mười tám tuổi? Cảm được ánh mắt tràn ngập uy thế của Tát Cáp, Khải Tát Lâm không tự chủ được cúi thấp đầu xuống, nhưng trong ánh mắt lại tràn ngập tin tưởng nói: - Tôi xác định chính là hắn, tới trước ngày hôm qua hay chính xác hơn là trước khi người thiếu niên này tới thì tôi chưa từng thấy cái tên K.S này, tôi cũng đã tìm đọc trong danh sách công hội cũng không có ghi chép về vị Linh Dược Sư nào có tên gọi hay chữ ký như vậy. Hơn nữa, xế chiều hôm qua thiếu niên kia để lại cho tôi ấn tượng rất sâu sắc bởi vì khi tiến vào công hội bộ dạng hắn rất tuỳ ý giống như là đệ tử của một vị Linh Dược đại sư nào đó, mới đầu tôi còn tưởng rằng hắn là tới tìm hỗ trợ. Đối với trí nhớ của mình, Khải Tát Lâm vô cùng tin tưởng, ngày hôm qua nàng chỉ thấy có mỗi thiếu niên kia tiến vào khu hỗ trợ, ngoài ra không còn ai khác đi vào đó khiến cho nàng có ấn tượng đặc biệt. - Nếu như K.S này thật sự là người thiếu niên kia như lời cô nói thì như vậy bản thân hắn chắc chắn là một linh dược đại sư. Tát Cáp hội trưởng thoáng trầm ngâm một chút rồi nói tiếp. - Cô cẩn thận lưu ý giúp ta, nếu lần sau gặp lại hắn thì lập tức báo cho ta biết. - Vâng! Khải Tát Lâm khom người lĩnh ý rồi xoay người đi ra ngoài. - À, đúng rồi, còn lại một trong ba vấn đề chưa có phản hồi kia nằm trong ngăn tủ thứ nhất cô cứ ghi chép vào là đáp án chính xác! Tát Cáp hội trưởng nhàn nhạt phán thêm một câu. Khải Tát Lâm đang đi ra ngoài không khỏi thoáng giật mình một lúc bởi vì nàng nhớ rõ khi công hội thành lập khu vực hỗ trợ thì đích thân Tát Cáp hội trưởng đã để lại trong ngăn tủ đầu tiên đó một vấn đề mà bản thân ông không cách nào giải quyết coi như để làm gương. Thực tế thì mọi người ai cũng biết cái vấn đề kia ở trong thành Tháp Lâm này coi như là vấn đề nan giải luôn rồi bởi vì ở cái thành Tháp Lâm này, vấn đề mà ngay cả Tát Cáp hội trưởng cũng không thể giải quyết được thì căn bản không ai có thể giải quyết. Bây giờ Khải Tát Lâm nghe được câu nói kia của Tát Cáp hội trưởng thì chẳng khác nào nói cái vấn đề kia đã được giải quyết sao? Cái này ... cái này sao có thể ... Bạn đang đọc truyện được copy tại Truyện FULL Thấy Khải Tát Lâm đã đi ra ngoài, Tát Cáp hội trưởng chuyển ánh mắt lên mặt bàn, nơi đó có mấy bình Tiêu dung tề đang lẳng lặng nằm đó không biết từ lúc nào. Mấy mươi năm trước lúc bản thân hắn vẫn chỉ là một Nhị giai trung cấp Linh Dược Sĩ bởi vì muốn làm cho bản thân nhanh chóng tiến lên Nhị giai cao cấp nên cố gắng tìm cách thôn qua việc cải biến phương pháp phối chế trong quá trình phối chế Tiêu dung tề nhưng luôn không thành công. Ban đầu lúc đưa ra vấn đề xin giúp đỡ ở trong công hội, hắn chỉ tuỳ ý đem vấn đề này để vào nhưng không ngờ đến ngày hôm nay lại thực sự có người giải đáp được vấn đề này. Hơn nữa, sau khi chứng thực qua thí nghiệm, Tát Cáp giật mình phát hiện nếu dựa theo đúng phương pháp của người kia đưa ra thì chỉ cần không có gì bất ngờ, thành phẩm đều là Tiêu dung tề có phẩm chất cực cao. Nếu dùng bản lĩnh Tú giai trung cấp Linh Dược Thiên Sư của hắn lúc này đi phối chế một cái Nhị cấp tiêu dung tề như vậy cũng chưa chắc có thể phối chế ra được thành phẩm đạt tới phẩm giai cao như vậy. Phát hiện vấn đề này khiến cho trong lòng Tát Cáp không khỏi khiếp sợ, hắn căn bản không ngờ một ý nghĩ hão huyền lúc trước của bản thân vậy mà thực sự có người có khả năng biến nó thành sự thực, hơn nữa phương pháp thực hiện so với cách thuần tuý dùng thực lực của bản thân hắn ra làm còn có kết quả tốt hơn nữa. - K.S! Tát Cáp lẩm bẩm trong miệng. - Bất kể thế nào, chỉ cần hắn vẫn còn ở trong Tháp Lâm thành thì ta nhất định phải tìm ra hắn. Bất quá hiện tại vấn đề này trước tiên phải nói cho cái lão quỷ kia biết đã để lão khỏi nói ta là tên suốt ngày mơ mộng hão huyền!" Nghĩ tới lão quỷ kia lần nào cũng vì cách nghĩ mười mấy năm trước của mình mà kêu mình là lão già thích mơ mộng hão huyền khiến cho Tát Cáp hội trưởng hận đến nghiến răng nghiến lợi. Thở mạnh ra một hơi, Kiệt Sâm bỗng dưng mở mắt ra, một đạo hào quang rất nhỏ từ trong đáy mắt hắn theo đó bắn ra. Cảm thụ linh lực Lục giai trong cơ thể càng thêm hùng hậu, Kiệt Sâm khẽ gật gật đầu hài lòng rồi từ trên giường đứng dậy. Trải qua một đêm tu luyện, lúc này linh lực Lục giai trong kinh mạch của Kiệt Sâm đã vô cùng vững chắc, cho dù một đêm không ngủ nhưng một mực ở trong tu luyện tinh thần của Kiệt Sâm không hề uể oải chút nào mà càng thêm phấn chấn. Ở kiếp trước đã nếm trải qua không biết bao gian khổ nên Kiệt Sâm hiểu được muốn được nhiều hơn người thì phải trả giá cao hơn người khác nhiều! Tuỳ ý rửa mặt một chút, Kiệt Sâm liền hướng luyện võ trường của học viện đi đến. Chậm rãi đi trong quảng trường học viện, trên đường đi có không ít người thấy Kiệt Sâm thì đều chỉ chỉ trỏ trỏ, một ít người thậm chí còn toát ra thần sắc thương cảm. Trên thực tế, các viện hệ cùng niên cấp ở Tây Tư học viện không phải cùng khảo một thời gian, ngay cả bất đồng khoá học cũng khác nhau. Nhưng hôm hay ngoài trừ những học viên cùng kiểm tra với Kiệt Sâm ra thì những học viên khác cũng có không ít người biết hôm nay Kiệt Sâm phải tham gia khảo hạch. Đối với vị được xưng là đệ nhất phế vật nổi danh cả Tây Tư học viện này hôm nay phải trải qua khảo hạch thì từ mấy ngày trước đã xôn xao trong học viện. Dù sao hiện tại Kiệt Sâm chỉ cần không vượt qua được lần khảo hạch này thì sẽ chân chính trở thành người đầu tiên của học viện bị buột thôi học từ xưa tới nay. Một toà kiến trức bằng đá đồ sộ xuất hiện trước mặt Kiệt Sâm không xa, cả khối kiến trúc này vô cùng khổng lồ và khí thế, ở trong học viện cũng vô cùng bắt mắt. Toà kiến trúc này chính là luyện võ đường tiếng tăm lừng lẫy của Tây Tư học viện. Tất cả các loại kiểm tra đánh giá dù lớn hay nhỏ của Tây Tư học viện về phương diện Linh Sư đều được tiến hành ở nơi này. - Nhìn kìa, Kiệt Sâm đến rồi! - Kiệt Sâm đến, Kiệt Sâm đến ... - Quả nhiên là Kiệt Sâm, không ngờ hắn còn dám tới a ... - Tây Tư học viện sắp sửa có người đầu tiên bị đuổi học rồi, thật sự là đáng buồn a ... ... Kiệt Sâm vừa mới tiến vào luyện võ trường thì lập tức từng tràng hô hoán to nhỏ vang lên. Đám học viên cùng tiến hành khảo hạch với Kiệt Sâm hôm nay đều không ngừn bàn tán xì xào, ánh mắt khi nhìn về phía Kiệt Sâm toát ra đủ loại thần thái khác nhau ... Kiếp trước là đại lục đệ nhất nhân nên Kiệt Sâm tự nhiên đối với những tên học viên này không có phản ứng gì. Từ trong đám người tìm được Phong Diệp đạo sư dạy mình tu luyện linh lực, Kiệt Sâm không chút do dự tiến vào trong đám người chờ khảo hạch. Sau khi gia nhập vào trong đám người này, một đạo sư phụ trách hỗ trợ Phong Diệp đạo sư xác định và đánh giá đệ tử lập tức tới đưa cho Kiệt Sâm một cái phiếu đánh giá. Cái phiếu này có đủ các mục: tuổi, đẳng cấp linh lực ... ở cuối cùng tờ phiếu có một chỗ dùng để ghi tên tối thủ bản thân muốn khiêu chiến. Trên nguyên tắc thì có thể điền bất kỳ tên một vị học viên nào cùng ban với mình nhưng không được thấp hơn người khiêu chiến từ hai cấp trở lên. Khảo hạch của Tây Tư học viện chia làm hai giai đoạn, giai đoạn đầu chính là kiểm tra đẳng cấp linh lực của đệ tử tham gia khảo thí, nếu so với lần trước có đề cao thì sẽ trực tiếp vượt qua, nếu không thì có thể căn cứ theo người mình muốn khiêu chiến tiến hành khiêu chiến để các đạo sư đánh giá kết quả và quá trình để xem vị đệ tử đó có hợp cách không. - Kiệt Sâm học trưởng, ngươi có thể chọn ta làm đối thủ a! Một học viên đứng gần đó liếc liếc mắt về phía Phong Diệp đạo sư cách đó không xa rồi trên mặt hiện ra vẻ hiền lành thầm nói với Kiệt Sâm. Tên học viên này tên là La Nghi, năm nay mười bốn tuổi, vào học viện trễ hơn Kiệt Sâm hai năm nhưng hiện tại vẫn cùng một lớp với Kiệt Sâm. Lần khảo hạch trước, La Nghi vừa mới đột phá lên Lục giai, thiên phú xuất sắc như vậy nên rất được Phong Diệp đạo sư ưa thích. Nghe thấy La Nghi có chút thiện ý nhắc nhở như vậy, Kiệt Sâm chỉ nhếch miệng cười cười rồi thuần thục điền vào các mục trên tờ phiếu khảo thí, chỉ riêng phần tên người muốn khiêu chiến lại để trống rồi nộp lên. - Đi, chúng ta qua bên chỗ lớp của Phong Diệp đạo sư khảo hạch nhìn xem. Đúng lúc này, một đạo sư đang khảo hạch cho một ban khác ở bên cạnh đột nhiên đình chỉ khảo thí dẫn theo đám đệ tử hướng về chỗ bên này đi tới. - Tư Thác lão sư, ngươi không hảo hảo ở bên kia khảo hạch cho đám đệ tử của mình mà chạy qua đây làm cái gì? Thấy Tư Thác lão sư đột nhiên dừng công việc lại chạy tới đứng ngó công việc của mình thì Phong Diệp đạo sư không khỏi nhướng mày dò hỏi. Đọc Truyện Kiếm Hiệp Hay Nhất: https://sachvui.com - Ha ha, Phong Diệp lão sư, ta chỉ mang mấy tên đệ tử tới bên này tham khảo một chút thôi mà, không cần phải khẩn trương như vậy đâu. Các ngươi cứ tiếp tục đi, Phong Diệp lão sư, các ngươi cứ tiếp tục đi không cần quan tâm đến bọn ta làm gì. Ta chỉ muốn nhìn xem đám đệ tử của Phong Diệp lão sư ngài thực lực như thế nào thôi, chắc hẳn với thực lực của ngài thì đám đệ tử thực lực cũng không thể nào kém được a! Tư Thác mang theo vẻ mặt trêu tức đứng một bên cười nói, trong học viện hắn luôn bị Phong Diệp đè nặng một đầu nên giờ phút này vô cùng vui vẻ khoanh tay nói với đám đệ tử sau lưng hắn: - Các ngươi phải hảo hảo nhìn cho kỹ rồi học tập các học viên của Phong Diệp lão sư nghe chưa. Hiện tại chỉ có mỗi Phong Diệp lão sư là còn có vài học viên cũ, từ trên người bọn họ các ngươi có thể thu được rất nhiều thứ có giá trị! Nói tới đây, ánh mắt của Tư Thác lão sư chiếu thẳng lên người Kiệt Sâm. Do luôn ở dưới cơ Phong Diệp nên cơ hội như thế này hắn đã đợi rất lâu rất lâu rồi. Lúc này đây hắn muốn xem cái bộ dạng thê thảm của Phong Diệp như thế nào, hừ, Tam giai cao cấp Linh Sư thì sao chứ? Chẳng phải cũng chỉ dạy ra một tên đệ tử còn thua cả đệ tử do một Tam giai sơ cấp như ta dạy dỗ sao? Ngươi không phải dạy tốt đến nỗi tên đệ tử kia sắp có "cơ hội" trở thành người đầu tiên bị buộc phải thôi học ở học viện Tây Tư này à? - Ta nghe nói Tư Thác lão sư và Phong Diệp lão sư ở trong học viện không hợp nhau, chẳng lẽ là thật? - Tư Thác lão sư tuyệt đối là cố ý, đã vậy còn mang theo nhiều người tới đây như vậy, không phải là chủ tâm muốn cho lớp ta mất mặt sao? - Muốn trách thì trách tên Kiệt Sâm kia kìa, ài, lần này coi như là bộ mặt của lớp chúng ta xong rồi ... Sau khi nghe Tư Thác nói xong, đám học viên bên lớp Kiệt Sâm nhao nhao nghị luận. - Tiếp tục khảo thí cho ta, nếu ai còn dám lớn tiếng ồn ào thì lập tức huỷ bỏ tư cách khảo thí! Khi nghe đám học viên nhỏ to bàn luận, sắc mặt Phong Diệp lập tức trở nên giân dữ, trầm giọng quát. - Tiếp theo! Kim Minh! Tên đệ tử hỗ trợ bên cạnh Phong Diệp lập tức hô lớn tên người tiếp theo trong danh sách trên tay. Một đệ tử có bộ dáng khá cao gầy đi vào khoảnh sân trước mặt Phong Diệp, trong sân đặt một tảng đá cực lớn, tảng đá kia màu vàng nhưng không phải vàng mà sắt cũng không phải sắt, trên bề mặt còn lưu chuyển một tần lục quang nhàn nhạt. Tên đệ tử tên Kim Minh kia khi tới trước tảng đá liền hạ trung bình tấn, hai hông vận sức, hai mắt đột nhiên sáng ngời quát khẽ một tiếng đánh ra một quyền. "Phanh" một tiếng, kình khí phát ra, cả tảng đá lập tức bị đánh lõm vào một tầng mỏng, một quyền ấn đồng thời xuất hiện trên bề mặt tảng đá rồi chậm rãi tiêu tán đi. - Kim Minh, mười sáu tuổi, linh lực: Lục giai. Tiếp theo! Kim Minh cảm thấy uể oải, cho dù sớm đã biết rõ bản thân từ lần trước tới giờ vẫn chưa tấn cấp nhưng khi nghe chính miệng Phong Diệp lão sư nói ra hắn vẫn cảm thấy thất vọng! Khảo thí tiếp tục ... - Bác La, mười bảy tuổi, linh lực Thất giai, tấn cấp! Tiếp theo! - Tạp Nhĩ Tư, mười bốn tuổi, linh lực Ngũ giai. Tiếp theo! ... - Tiếp theo! Kiệt Sâm! Khi cái tên này vang lên, toàn trường nhất thời đều tập trung ánh mắt lên một người ở giữa đám người. Trước ánh mắt của mọi người, Kiệt Sâm bình thản chậm rãi đi về phía trước. Nhìn thấy Kiệt Sâm, ánh mắt Phong Diệp híp lại, làm đạo sư dạy dỗ Kiệt Sâm hơn hai năm, Phong Diệp đối với Kiệt Sâm có thể nói tương đối hiểu biết, nhưng không biết vì điều gì giờ phút này khi nhìn thấy Kiệt Sâm thản nhiên nhẹ nhàng đi thẳng tới chỗ Thí Linh Thạch trong lòng Phong Diệp không khỏi nảy sinh ý tưởng không cách nào nhìn thấu được Kiệt Sâm đứng trước mặt. Kiệt Sâm ở trước mắt so sánh với mấy ngày trước tựa hồ có chút gì đó khác hẳn. Từ trên người Kiệt Sâm, Phong Diệp lại cảm nhận được một tia áp bức thật nhỏ, loại áp bách này không phải do Kiệt Sâm có thực lực cường đại tạo thành, chỉ có thể cảm nhận được trong ánh mắt của Kiệt Sâm hoàn toàn hờ hững liếc nhìn vạn vật chung quanh mà có. Nhẹ nhàng lắc đầu, Phong Diệp nhìn thoáng qua vẻ mặt những người chung quanh, trong biểu tình bọn họ nhìn Kiệt Sâm tràn ngập vẻ khinh thường cùng trào phúng, Phong Diệp có chút giận dữ đồng thời cũng không khỏi hoài nghi bản thân mình có phải đã quá mức mẫn cảm hay không. Có lẽ chỉ là ảo giác. Ngoại trừ một số ít người, đại bộ phận ánh mắt của đệ tử chung quanh kể cả ánh mắt của Tư Thác, sau khi Kiệt Sâm đi lên đài đều nhìn tới địa phương khác, không ít người tụ tập lại xì xào bàn tán. Trong cuộc kiểm tra đánh giá suốt hai năm qua, mỗi một lần Kiệt Sâm thí nghiệm linh lực đều dừng lại ở giai đoạn linh lực cấp năm, ở trong lòng những người này, kết quả thí nghiệm linh lực lần này của Kiệt Sâm cũng sẽ giống như trước, bọn hắn chú ý chỉ là Kiệt Sâm sẽ lựa chọn ai làm đối thủ khiêu chiến, nghĩ đến hẳn sẽ chọn người yếu nhất trong lớp học đi, chỉ sợ cũng chỉ có như vậy hắn mới có cơ hội thủ thắng. Nhưng mặc kệ kết quả khiêu chiến thế nào, thì kết quả đánh giá khi kiểm tra vẫn sẽ không đạt được yêu cầu, sự thật hơn hai năm còn không thể tăng lên một bậc sẽ làm Kiệt Sâm biến thành đệ tử đầu tiên bị học viện Tây Tư Linh Lực đuổi ra ngoài. Kiệt Sâm đi tới trước Thí Linh Thạch, linh lực cấp sáu trong thân thể nhanh chóng vận hành trong kinh mạch, dùng một loại tần suất độc đáo hướng quyền phải của Kiệt Sâm tụ tập tới. Loại phương pháp tụ lực này là kiếp trước Kiệt Sâm học được từ trên người một vị Thánh Linh Dược Sư cửu giai, có thể phát huy ra linh lực thật lớn trong cơ thể Linh Sư. - Oành! Quyền phải trong nháy mắt đánh ra, một tiếng nổ đùng vang lên giữa sân, đem lực chú ý của mọi người trong toàn trường toàn bộ đều tập trung lên trên Thí Linh Thạch trước mặt hắn. Khí kình bắn ra bốn phía, linh lực tung hoành, trong ánh mắt giật mình của mọi người trong toàn trường, Kiệt Sâm chậm rãi thu hồi nắm tay, một lỗ hổng thật sâu rõ ràng xuất hiện trên Thí Linh Thạch, đập thẳng vào trong ánh mắt mọi người. Phong Diệp mạnh mẽ tiến về phía trước một bước, trong thần sắc âm tình bất định toát ra một tia vui mừng mà kẻ khác khó thể phát hiện, lực lượng thật mạnh, quyền kình lợi hại. - Này…điều đó không có khả năng… - Ai có thể nói cho ta biết, một quyền vừa rồi thật sự do tên đệ nhất phế vật Kiệt Sâm trong học viện đánh ra sao? - Việc này…một quyền mà Kiệt Sâm đánh ra, hẳn không chỉ đơn giản chỉ có lực lượng linh lực cấp năm đi? Không ít học viên có chút khó thể tin lẩm bẩm kêu lên, trong đầu chỉ lưu lại hình ảnh một quyền mà Kiệt Sâm vừa đánh ra. Phong Diệp tiến nhanh lên hai bước, tra xét lỗ hổng mà Kiệt Sâm vừa đánh ra, trong lòng chấn động, lỗ hổng mà Kiệt Sâm đánh vỡ ước chừng cỡ một đầu người, bên trong bóng loáng như gương, không giống như quyền ấn của người đánh ra còn lưu lại những dấu ngón tay bên trong như người bình thường tạo thành. Càng làm cho Phong Diệp thêm giật mình chính là linh lực chấn động mà Kiệt Sâm đánh ra một quyền, tựa hồ đã chặt đứt sự tiếp xúc giữa Thí Linh Thạch cùng linh lực trong không khí, lỗ hổng hình thành qua thật lâu mới có thể chậm rãi khôi phục lại. Cuối cùng là loại quyền kỹ thế nào, thật là đáng sợ. - Kiệt Sâm, mười bảy tuổi, linh lực cấp sáu, thăng cấp! Ánh mắt của Phong Diệp lướt quanh toàn trường, thanh âm không tự giác cất cao, rơi vào trong tai mỗi người có mặt. Yên tĩnh như cõi chết, tất cả mọi người đều trợn mắt há hốc mồm nhìn Kiệt Sâm vẫn đứng yên nơi đó, kết cục thật bất ngờ làm cho mọi người trong lúc nhất thời không cách nào hồi phục lại. Bọn hắn đã tưởng tượng vô số lần cảnh tượng diễn ra trong ngày hôm nay, nhưng không ai nghĩ tới lại gặp phải kết cục như thế. Kiệt Sâm đã hơn hai năm chưa từng thăng cấp, trong cuộc kiểm tra đánh giá lần cuối cùng của hắn, lại có thể thăng cấp! - Lão sư Phong Diệp, nếu việc kiểm tra đánh giá đã xong, đệ tử còn có việc cần phải rời khỏi học viện, vậy đệ tử đi trước, còn nữa, phiền toái ngài đem cấp bậc ghi chép trên thân phận của ta nhanh chóng đổi thành cấp sáu! Nhìn lão sư Phong Diệp cùng La Nghị đứng bên cạnh hắn, Kiệt Sâm gật nhẹ đầu, hướng bên ngoài luyện võ trường đi tới, hắn còn có một chuyện thật trọng yếu cần làm, không có nhiều thời gian chờ đợi tại nơi này. Trong ánh mắt kinh ngạc của toàn bộ mọi người, bóng lưng của Kiệt Sâm chậm rãi biến mất cuối luyện võ trường. - Được rồi, được rồi, mọi người không cần nhìn nữa, tiếp tục thí nghiệm đi! Phục hồi lại tinh thần Phong Diệp lập tức gọi học viên đi lên thí nghiệm, đồng thời gương mặt mang theo vẻ mỉm cười nhìn Tư Thác đứng một bên nói: - Tư Thác đạo sư, ngươi tiếp tục đứng đó xem đi, cho đệ tử của lớp các ngươi hướng học viên của ta tham khảo học tập nhiều hơn một chút, ta không để ý, ha ha! Tiếng cười sang sảng của Phong Diệp bên trong luyện võ trường truyền ra thật xa. - Không phải chỉ là thăng cấp thôi sao, cho dù đi tới linh lực cấp sáu nhưng tên Kiệt Sâm kia cũng vẫn là một tên phế vật mà thôi, hừ, chúng ta trở về! Tư Thác xanh mặt, hừ lạnh một tiếng, xoay người đi về chỗ thí nghiệm của lớp mình. - Đệ tử mà ta xem trọng, sẽ kém sao! Đối mặt với lời nói khiêu khích của Tư Thác đạo sư, trên mặt Phong Diệp đạo sư mang theo ý cười ôn hòa, không hề phản bác nửa câu. Trên gương mặt tràn ngập vẻ tự tin cùng kiên nghị của Kiệt Sâm, Phong Diệp phát hiện người từng đạt được vinh dự thiên tài của học viện Kiệt Sâm tựa hồ đã quay trở lại. Phong Diệp khẽ sờ vào túi áo của mình, bên trong đó là một quyển "Linh Lực cơ sở đoán luyện" lẳng lặng nằm yên, vốn Phong Diệp dự tính nếu Kiệt Sâm không thể thông qua thí nghiệm, sẽ đem quyển sách tâm huyết của mình đã ghi chép âm thầm đưa cho hắn, nhưng hiện tại xem ra đã không còn cần thiết nữa. - Kiệt Sâm đâu rồi? Ngay khi Phong Diệp đang kiểm tra thêm vài học viên của mình, một thanh âm vô cùng dễ nghe mang theo vẻ tràn ngập lo lắng truyền vào trong tai mọi người. Một đạo hồng sắc thân ảnh lướt qua, phảng phất như một con bướm nhẹ nhàng bay tới, một bóng người đã xuất hiện ngay trước mặt Phong Diệp. - Khắc Lai Nhân lão sư, sao ngươi lại tới đây? Nhìn thấy người đứng trước mặt, trên gương mặt của Phong Diệp đạo sư lập tức mang theo vẻ ngạc nhiên dò hỏi. Xuất hiện ngay trước mặt mọi người chính là Linh Dược Sư Khắc Lai Nhân tam giai đê cấp đã dạy Kiệt Sâm học linh dược. - Phong Diệp, Kiệt Sâm đâu? Ánh mắt của Khắc Lai Nhân vội vàng lướt qua trong đám người, khi xác định không có mặt Kiệt Sâm bên trong, lập tức nhìn Phong Diệp dò hỏi. - Kiệt Sâm? Hắn đi rồi! Khắc Lai Nhân lão sư, ngươi tìm hắn có việc gì vậy? Hiện tại Kiệt Sâm chắc đã ra khỏi học viện! - Cái gì? Kiệt Sâm đi rồi, cũng đã ra học viện sao? Không phải chứ, Phong Diệp lão sư ngươi lại… Nghe được câu nói của Phong Diệp, nhất thời trong mắt Khắc Lai Nhân tràn đầy lửa giận nhìn Phong Diệp, tức giận tới mức không biết nên nói gì cho phải. Ngày hôm qua khi nhìn thấy Kiệt Sâm dùng loại kỹ xảo độc đáo phối chế ra cơ sở dung dịch hoả nguyên tố trụ cột, Khắc Lai Nhân liền tràn ngập tò mò đối với thủ pháp phối chế của Kiệt Sâm. Nhưng ngày hôm qua sau khi Kiệt Sâm phối chế xong cơ sở dung dịch hoả nguyên tố trụ cột lập tức không nhìn thấy bóng dáng, điều này làm Khắc Lai Nhân vô cùng buồn bực vì không tìm thấy hắn. Là lão sư của Kiệt Sâm, Khắc Lai Nhân tự nhiên biết được chỉ cần ngày hôm nay hắn kiểm tra không đạt được yêu cầu sẽ bị học viện Tây Tư Linh Lực đuổi học, nhưng sáng nay bản thân lại vì bận việc nên chậm trễ thời gian, đợi khi chạy tới luyện võ trường lại nghe được Phong Diệp nói Kiệt Sâm đã ra khỏi học viện, điều này làm trong lòng Khắc Lai Nhân buồn bực tới mức muốn hộc máu. - Phong Diệp, ngươi không được học viện đồng ý đã tự mình đuổi học học viên, tuy rằng theo lý luận đây là lần kiểm tra cuối cùng của Kiệt Sâm, nhưng ta cho ngươi biết, ta đã kiểm tra khả năng của Kiệt Sâm về linh dược học, kết quả thật ưu tú, Phong Diệp lão sư, ngươi phải phụ trách hành vi lỗ mãng của ngươi! Vừa an tĩnh lại, trên mặt Khắc Lai Nhân tràn đầy băng sương, lạnh lùng nhìn thẳng Phong Diệp. - A…Khắc Lai Nhân lão sư, ai nói Kiệt Sâm bị ta đuổi học? Phong Diệp có chút buồn bực nói: - Kiệt Sâm đã thăng cấp, hắn thi kiểm tra xong nên đi ra ngoài có việc! - A? Khắc Lai Nhân lão sư trợn tròn mắt! … - Tây Lan hoa, Ba La diệp thảo… Chậm rãi đi trong sân trường học viện Tây Tư Linh Lực, giờ phút này trong lòng Kiệt Sâm đang mặc niệm những gì mình cần mua sắp tới. Suốt một ngày tự hỏi, đối với con đường sau này mình phải đi hiện tại trong lòng Kiệt Sâm đã có được bản vẽ phác thảo đại khái, trong đó chủ yếu nhất chính là đem cường độ thân thể của chính mình tăng cường lên. Kiệt Sâm sinh ra trong niên đại mà hệ thống Linh Sư cực kỳ hoàn thiện của ba ngàn năm sau, trong lòng hắn rõ ràng hiểu được cường độ thân thể của một Linh Sư đối với việc tu luyện đến tột cùng có bao nhiêu ảnh hưởng. Trên thế giới này toàn bộ Linh Sư cũng không quá xem trọng việc huấn luyện cường độ thân thể, dù sao khi Linh Sư tu luyện mỗi một lần đề cao cấp bậc, được linh lực cải biến cùng hòa dịu, cường độ thân thể của Linh Sư đều nhận được cải thiện cùng đề cao nhất định, cường độ thân thể như vậy đủ làm cho bản thân có thể tự nhiên vận dụng thuần thục trong chiến đấu hoặc tu luyện mà không đến mức không thể thừa nhận. Bởi vậy ở niên đại hiện tại, căn bản không có một Linh Sư nào đặc biệt đề cao cường độ thân thể của chính mình, dù sao một người cho dù đề cao cường độ thân thể của mình ra sao, đều vẫn kém hơn việc nâng lên cấp bậc linh lực càng cao hơn. Nhưng ở hai ngàn năm sau, bởi vì có trường phái "Bạo lực linh sư" xuất hiện, triệt để phá vỡ truyền thống này, thậm chí thiếu chút nữa đã đánh vỡ phân chia cấp bậc linh lực trong Linh Sư giới, đại bộ phận người trong bọn họ chẳng những có thể vượt cấp khiêu chiến người có cấp bậc ngang hàng mình hoặc cao hơn mình, thậm chí còn có những nhân vật thiên tài, có thể vượt cấp khiêu chiến Linh Sư cao giai hơn chính mình. Cuộc chiến nổi tiếng nhất chính là vị tổ sư khai phái khi hắn vẫn còn ở Hoàng Linh sư thất giai, lấy lực lượng thân thể cường đại cùng kỹ xảo độc đáo cùng một gã Thánh Linh sư cửu giai chiến đấu mà không thua bại, nhờ vậy đã nổi tiếng hậu thế. Ở kiếp trước Kiệt Sâm có quan hệ cá nhân cực kỳ chặt chẽ đối với tổ sư đời thứ năm trường phái "Bạo lực linh sư", đối với hết thảy phương pháp rèn luyện của trường phái này đều hiểu biết cực kỳ thấu đáo, kiếp trước phương pháp luyện thể của Kiệt Sâm chính là căn cứ theo phương pháp rèn luyện của trường phái "Bạo lực linh sư" mà tiến hành cải tiến tổng kết. Bởi vậy bất kể là vì tu luyện Linh Dược sư hay là tu luyện Linh Sư, Kiệt Sâm đều phải đem cường độ thân thể của chính mình nhanh chóng khôi phục tới trình độ của kiếp trước, thậm chí phải vượt hơn kiếp trước. - Tát Cáp đại sư! - Đại sư! … Ngay khi Kiệt Sâm còn đang tự hỏi, cũng đã đi tới cửa học viện, những thanh âm chào hỏi tràn ngập vẻ cung kính đột nhiên truyền vào trong tai, Kiệt Sâm ngẩng đầu lên nhìn xem, chỉ thấy một lão giả mặc trường bào màu xám đang chậm rãi đi tới cổng lớn của học viện Tây Tư Linh Lực. Vừa nhìn thấy lão giả kia, vô luận là người canh cổng học viện hay là một ít lão sư trong học viện, tất cả đều thần tình cung kính đứng dạt sang một bên, cúi đầu, bên trong có hai lão sư có chút thân phận nhẹ giọng lên tiếng chào hỏi, cũng không dám nói nhiều lời. Đọc Truyện Online Tại Truyện FULL Là hội trưởng Linh Dược sư công hội của Tháp Lâm thành, chỉ có viện trưởng học viện Bỉ Tư Pháp là một người có cấp bậc trung cấp Linh Dược sư tứ giai ngang hàng với hắn trong Tháp Lâm thành, hội trưởng Tát Cáp được toàn bộ lão sư trong học viện vô cùng sùng kính. - Linh Dược thiên sư tứ giai? Khi đi ngang qua bên người lão giả, đôi mày Kiệt Sâm không khỏi nhướng lên, ở kiếp trước bản thân hắn là Linh Dược thánh sư cửu giai, vừa liếc mắt liền nhận ra được cấp bậc của lão giả kia. Khi Kiệt Sâm đi ngang qua bên người hội trưởng Tát Cáp, hắn từ trên thân thể hội trưởng ngửi được một cỗ hương vị Khống Linh Dịch cực nhẹ, mà Khống Linh Dịch là tễ thuốc trụ cột của tứ giai, ít nhất cần phải đạt tới Linh Dược thiên sư tứ giai đê cấp mới có thể nắm giữ, lại kết hợp với thần thái cùng ngữ khí của những lão sư chung quanh, Kiệt Sâm liền đoán được vị lão sư được tôn xưng là Tát Cáp đại sư này là một gã Linh Dực thiên sư tứ giai. - Nhìn xem, người kia không phải Kiệt Sâm sao? Là đệ tử bị thôi học đầu tiên của học viện chúng ta! Một học viên nhìn thấy Kiệt Sâm, trong miệng lập tức không nhịn được thấp giọng kêu thành tiếng. - Bị thôi học khỏi học viện Tây Tư Linh Lực? Nghe được lời nói của đệ tử kia, nguyên Tát Cáp đang ngơ ngẩn đi về phía trước, không khỏi dừng chân lại xoay người nhìn theo bóng lưng Kiệt Sâm đã đi ra khỏi cổng lớn, biết được nội quy của học viện Tây Tư Linh Lực, hắn nhịn không được nhẹ giọng lẩm bẩm: - Nhi đồng hiện tại thật không biết cố gắng, nếu như hắn còn không có lòng cầu tiến, đời này chỉ sợ muốn trở thành Linh Dược đồ nhất giai cũng thật khó khăn! Khẽ lắc đầu, Tát Cáp hội trưởng xoay người đi về phòng viện trưởng, lần này hắn phải cười nhạo một chút lão quỷ Bỉ Tư Pháp bằng hữu của mình, xem hắn còn dám nói mình nữa hay không, nghĩ tới đây, trong lòng Tát Cáp nhịn không được muốn cất tiếng cười to. - Vị đại sư K.S kia hiện tại đang ở nơi nào đây? Nếu như hắn đã rời khỏi Tháp Lâm thành thì đúng là phiền toái! Tát Cáp nhíu mày, có chút buồn rầu vỗ vỗ trán mình, đi nhanh tới phòng viện trưởng học viện. Hiện tại trong lòng hắn chỉ nghĩ tới việc tìm được K.S đã giải khai vấn đề của hắn mà thôi! Còn chưa ý thức được mình đã trở thành nhân vật thần bí trong lòng vị hội trưởng Linh Dược sư công hội, sau khi đi ra khỏi học viện Tây Tư Linh Lực, Kiệt Sâm liền hướng Linh Sư công hội của thành Tháp Lâm đi tới. Bình thường ở mỗi một thành thị, đều có một phường thị giao dịch khá lớn, mà phường thị giao dịch đại đa số đều nằm ở các công hội. Ở đại lục Tư Đặc Ân, dù Linh Dược sư là chức nghiệp tôn quý nhất, nhưng Linh Sư công hội vốn là nơi tụ tập của Linh Sư - chức nghiệp phổ biến nhất đại lục, đó mới là địa phương phồn vinh nhất trong một thành thị, bởi vậy bình thường phường thị trong thành thị đều được kiến tạo cạnh bên các công hội Linh Sư. Kiệt Sâm chậm rãi đi xuyên toa bên trong phường thị, không bao lâu trên tay hắn đã cầm không ít tài liệu. Tây Lan hoa, Ba La diệp thảo, mấy thứ này trên đại lục đều là dược liệu cùng thực vật trụ cột thông thường, mấy thứ này chỉ cần có tiền là có nhiều chỗ bán ra, hiện tại Kiệt Sâm thiếu khuyết chỉ là một viên linh hạch của Liệt Hổ thú nhất giai. Bên trong tễ thuốc cường thể mà Kiệt Sâm muốn điều chế, linh hạch Liệt Hổ thú là chủ dược, không thể thay thế. Trên thực tế linh hạch trên đại lục Tư Đặc Ân mặc dù là vật trân quý, nhưng giá trị của linh hạch nhất giai cũng không được xem quá cao, chỉ là ở kiếp trước của Kiệt Sâm, Liệt Hổ thú là một loại linh thú khá thưa thớt, số lượng Liệt Hổ thú tồn tại trên đại lục rất thưa thớt, bởi vậy cũng không dễ tìm, mà linh hạch Liệt Hổ thú lúc trước Kiệt Sâm có được cũng khiến cho hắn phải tốn rất nhiều công phu mới tìm tới. - Ân? Ngay khi Kiệt Sâm còn đang tìm kiếm khắp chung quanh, ở trên một quầy hàng cách đó không xa có một thứ quả cây màu lục như mực đột nhiên ánh vào trong mi mắt hắn, hoàn toàn hấp dẫn ánh mắt hắn. - Vật kia…không phải chính là Thiên Tâm Hoàng Quả đã tuyệt chủng trên đại lục hay sao? Sau khi cẩn thận nhìn lại quả cây màu lục mực kia, hai mắt Kiệt Sâm trợn trừng thiếu chút nữa muốn rớt ra, trong miệng có chút giật mình thì thào nói… Thiên Tâm Hoàng Quả, tuy rằng tên này nghe qua cực kỳ bá đạo, nhưng thực tế là một loại linh quả cấp bậc khá thấp, hương vị phi thường thơm ngọt, bởi vì chất nước có tác dụng bảo vệ khá cường đại đối với cơ thể người, có thể ôn hòa tẩm bổ tổ chức tế bào cùng gân và bắp thịt của con người, bởi vậy bình thường được dùng làm chất phụ gia thêm vào những loại tễ thuốc trị liệu ngoại thương. Dù cấp bậc của Thiên Tâm Hoàng Quả khá thấp, giá trị so sánh với những linh quả cao giai cũng không lớn, nhưng trong thế giới kiếp trước của Kiệt Sâm, loại trái cây tẩm bổ thân thể này đã sớm tuyệt chủng trên đại lục, ngoại trừ trong một ít núi non bí ẩn cùng tận sâu trong rừng rậm, rốt cục rất khó tìm kiếm được tung tích. Kiếp trước sau khi Kiệt Sâm trở thành Linh Dược thánh sư cửu giai, vì phối chế một loại tễ thuốc luyện thể cực kỳ cường đại, ở trên đại lục phát ra tin tức cần tìm một ít tài liệu, trong đó còn có loại tài liệu như Thiên Tâm Hoàng Quả. Lấy uy vọng cùng thực lực của Kiệt Sâm, rất nhanh đã có một ít đại gia tộc cùng cường giả vì muốn kết giao với Kiệt Sâm nên đem những loại tài liệu kia phái người tới hiến cho hắn, chỉ có Thiên Tâm Hoàng Quả mãi tới cuối cùng Kiệt Sâm vẫn không thu thập được. Bởi vậy giờ phút này Kiệt Sâm có thể ở trên vỉa hè của một phường thị bên trong tòa thành nhỏ như Tháp Lâm thành chứng kiến được một quả Thiên Tâm Hoàng Quả, khó trách hắn lại giật mình đến như thế. Khi một vật nào đó ngươi luôn tận tâm truy tìm nhưng tìm kiếm mãi không thấy, cuối cùng lại dùng một loại phương thức ngẫu nhiên lơ đãng như thế xuất hiện ngay trước mặt ngươi, thường thường ngoại trừ làm người ta cảm thấy vui sướng, còn có cảm giác trở tay không kịp. - Chẳng lẽ cả chủ quầy trong lúc vô ý lấy được quả cây này cũng không hề biết rõ giá trị của nó sao? Tâm tư chợt chuyển biến thật nhanh, Kiệt Sâm đi tới bên cạnh quầy hàng, lật xem những đồ vật khác trên sạp, làm cho người ta có loại cảm giác hắn chỉ là tùy tiện nhìn xem. Chủ quầy hàng nhìn thấy Kiệt Sâm, có lẽ cảm giác một nhi đồng như hắn cũng không hề có vẻ giống như một khách hàng lớn, bởi vì chỉ hơi ngước mắt lên nhìn hắn. - Linh quả này bán như thế nào? Chỉ chốc lát tay phải của Kiệt Sâm lật tới trên quả Thiên Tâm Hoàng Quả, dùng một loại khẩu khí thật tùy ý dò hỏi. - Thiên Tâm Hoàng Quả? Chủ quầy nhẹ nhàng liếc mắt nhìn Kiệt Sâm, ngữ khí thoáng dừng lại một chút, thản nhiên nói: - Hai trăm linh tệ! - Hai trăm linh tệ? Kiệt Sâm thoáng sững sờ, Thiên Tâm Hoàng Quả ở kiếp trước bị người xem là vô giá hiện tại chỉ cần hai trăm linh tệ, điều này không khỏi làm trong lòng Kiệt Sâm có cảm giác bị đả kích thật lớn, phải biết rằng đây chính là linh quả tuyệt chủng mà một Linh Dược thánh sư cửu giai như hắn chỉ có thể gặp mà không thể cầu a! Hơn nữa Thiên Tâm Hoàng Quả này đối với Kiệt Sâm đang chuẩn bị phối chế linh dịch trúc thể mà nói là tương đương trọng yếu, nếu như có thêm tài liệu này vào linh dịch, việc rèn luyện cường độ cùng tốc độ thân thể của Kiệt Sâm sẽ tăng lên rất nhiều. Nhẹ nhàng lấy ra linh tạp trên người, bên trong linh tạp của Kiệt Sâm còn có ước chừng một ngàn linh tệ, giá cả hai trăm linh tệ hoàn toàn có thể thừa nhận. Chứng kiến động tác của Kiệt Sâm, chủ quầy không khỏi ngẩn ngơ, thật hiển nhiên lúc trước hắn cũng thật không ngờ Kiệt Sâm thật sự chịu mua Thiên Tâm Hoàng Quả, giá cả kia hắn chỉ là tùy ý báo ra, lại không nghĩ rằng thiếu niên trước mặt thật sự muốn bỏ ra hai trăm linh tệ mua xuống Thiên Tâm Hoàng Quả. Đáy mắt của chủ quầy xẹt qua một tia vui mừng không dễ dàng phát giác. - Ông chủ, một Thiên Tâm Hoàng Quả bán tới hai trăm linh tệ, không khỏi cũng quá mắc đi! Ngay khi Kiệt Sâm định mở miệng muốn mua, một thanh âm đột nhiên từ sau lưng hắn truyền đến, ngay lập tức có một thân ảnh đứng ngay bên cạnh Kiệt Sâm, mang theo ý cười hòa thiện nhìn hắn. - Ngươi là? Đứng bên cạnh Kiệt Sâm là một thanh niên chừng hai mươi tuổi, trên người mặc trường bào màu than chì, có điểm giống loại trường bào của Linh Dược sư thường mặc, mà ở vị trí bên ngực trái trường bào thêu một đồ án huy chương Linh Dược sư công hội. Nhìn thanh niên đứng trước mặt, Kiệt Sâm cảm thấy có chút quen mắt nhưng không nhớ nổi rốt cục là ai. - Kiệt Sâm học đệ, ta gọi là Tiếu Ba, cũng là đệ tử của học viện Tây Tư Linh Lực, có thể trước kia ngươi chưa gặp qua ta, nhưng ta lại nhận ra ngươi! Tiếu Ba nhìn Kiệt Sâm mỉm cười, lập tức quay đầu nói với chủ quầy: - Năm mươi linh tệ, Thiên Tâm Hoàng Quả này thuộc về chúng ta! Tiếu Ba vừa xong công tác buổi trưa tại Linh Dược sư công hội, bởi vì hắn cần đi mua một ít tài liệu nên chưa thay đổi quần áo đã đi thẳng tới phường thị trong Tháp Lâm thành, vừa lúc gặp được Kiệt Sâm đang định mua Thiên Tâm Hoàng Quả. Kiệt Sâm là nhân vật "đại danh đỉnh đỉnh" của Tây Tư Linh Lực học viện, Tiếu Ba cũng từng gặp qua hắn vài lần trong khóa công khai của Linh Dược hệ, bởi vậy thấy Kiệt Sâm sắp sửa bị gạt mua hố hàng, lập tức giúp hắn trả giá. - Vị tiểu ca này, năm mươi linh tệ thật sự là quá ít, ngươi xem lại, có thể thêm một chút hay không? Nhìn thấy mình sắp kiếm lớn được một số lại không nghĩ ra nửa đường nhảy tới một Trình Giảo Kim, hơn nữa giá cả còn cố tình nói ở mức giá thấp nhất của chính mình. Nhìn vào gương mặt Tiếu Ba, chủ quầy thật sự muốn chửi toáng lên, nhưng nhìn thấy trường bào thêu huy chương của Linh Dược sư công hội trên người Tiếu Ba, dù trong lòng chủ quầy khó chịu nhưng cũng không dám quá mức càn rỡ. Một Linh Dược sư làm việc tại Linh Dược sư công hội, không phải chỉ là một linh đồ nhất giai như hắn có thể đắc tội. - Năm mươi linh tệ, giá cả này đã thật không tệ, nếu như ngươi không bán chúng ta có thể đi cửa hàng khác để mua, Thiên Tâm Hoàng Quả cũng không phải là vật gì đặc biệt hiếm lạ cả! Trên mặt Tiếu Ba vẫn mang theo ý cười thản nhiên nhìn chủ quầy, hắn làm việc bên trong Linh Dược sư công hội, đối với giá cả linh quả gì đó, hiểu biết vô cùng rõ ràng. - Thôi được thôi được, xem ngươi có thành ý như vậy, bán vãi cho ngươi năm mươi linh tệ! Vẻ mặt chủ quầy thật đau lòng đem Thiên Tâm Hoàng Quả bao lại, đưa qua: - Ta nói cho tiểu ca ngươi biết, lần này ta làm lỗ vốn mua bán, thật lỗ vốn, ai, sinh ý thật khó làm a! - Trả tiền đi Kiệt Sâm học đệ! Tiếu Ba nhìn Kiệt Sâm nói: - Nếu như sau này muốn đi mua tài liệu gì cũng có thể tới tìm ta, ta làm công tác hỗ trợ trong Linh Dược sư công hội, chuyện khác không dám nói, về giá cả của tễ thuốc hay linh quả chẳng hạn, vẫn hiểu biết khá rõ ràng! Cảm thụ được ánh mắt tràn đầy nhiệt tình của Tiếu Ba, Kiệt Sâm không nói gì, nhanh chóng thanh toán tiền, hình như mình và hắn cũng không quá quen thuộc, Tiếu Ba không khỏi quá mức nhiệt tình. - Đúng rồi, ngươi có biết nơi nào bán linh hạch Liệt Hổ thú hay không? Cất lại Thiên Tâm Hoàng Quả, nghe Tiếu Ba nói đang làm việc trong Linh Dược sư công hội Kiệt Sâm lập tức hỏi thăm. - Linh hạch Liệt Hổ thú? Tiếu Ba khẽ cau mày: - Ngươi cần nó làm chi? Linh hạch Liệt Hổ thú chỉ bán trong một ít cửa hàng chuyên bán linh hạch mà thôi, nhưng trên người ta còn có một viên linh hạch Liệt Hổ thú vương, lần trước ta dùng một lọ tễ thuốc trụ cột đổi lấy, nếu như ngươi muốn ta dùng năm trăm linh tệ đổi cho ngươi! - Linh hạch Liệt Hổ thú vương chỉ cần năm trăm linh tệ! Trong đầu Kiệt Sâm đột nhiên hiện lên một đạo linh quang, đúng rồi, hiện tại mình đang ở ba ngàn năm trước, cũng không phải đang ở kiếp trước! Ba ngàn năm trước Liệt Hổ thú cũng không phải là linh thú quá thưa thớt, Thiên Tâm Hoàng Quả cũng không bởi vì sự hoạt động của nhân loại mà bị tuyệt chủng, còn có rất nhiều động thực vật cùng khoáng vật quý hiếm cực kỳ ở đời sau, ở đại lục hiện tại chỉ là những chủng loại có thể tùy ý nhìn thấy mà thôi. - Nhân sinh đúng là tốt đẹp biết bao nhiêu! Ở trước mặt Tiếu Ba, vị đệ nhất nhân Linh Dược thánh sư cửu giai ở kiếp trước, đang lộ ra vẻ mặt cười ngây ngô hạnh phúc! Nhìn vào đống tài liệu ở trước mặt mình, sau mấy hơi thở sâu, trong ánh mắt Kiệt Sâm lại biến thành một mảnh trong sáng. Có thể dùng năm trăm linh tệ mua được linh hạch Liệt Hổ thú vương từ chỗ Tiếu Ba, đối với Kiệt Sâm mà nói hoàn toàn là nỗi vui mừng ngoài ý muốn. Là chủ dược chế tạo trúc thể linh dịch, phẩm cấp tốt xấu của linh hạch Liệt Hổ thú trực tiếp ảnh hưởng đến phẩm cấp của tễ thuốc, mà dùng linh hạch của Liệt Hổ thú vương cấp hai vương giả trong đàn Liệt Hổ làm chủ dược, đối với phẩm chất của trúc thể linh dịch mà nói chắc chắn sẽ được đề cao thêm. Từ chỗ Tiếu Ba mua được linh hạch của Liệt Hổ thú vương, Kiệt Sâm tiếp tục mua đầy đủ tài liệu rồi ngay lập tức quay về học viện, sau khi ăn xong cơm trưa, căn bản không hề nghỉ ngơi liền đi thẳng tới phòng thí nghiệm Linh Dược hệ của học viện. Nộp lên phí tổn cho lão sư trực ban, Kiệt Sâm tuyển chọn một ít tễ thuốc trụ cột bên trong phòng thí nghiệm, sau đó đi vào phòng thí nghiệm tư nhân mà mình tuyển dụng. Ở bên trong học viện Tây Tư Linh Lực, đệ tử Linh Dược hệ ở lúc bình thường chỉ cần đăng ký là có thể sử dụng dụng cụ cùng tễ thuốc trụ cột bên trong phòng thí nghiệm, mà học viện vì muốn thuận tiện cho những đệ tử bình thường chế tạo Linh Dược tề, quy định chỉ cần nộp lên một ít phí tổn nhất định là có thể sử dụng tễ thuốc mà học viện đặc biệt phối chế cho đệ tử bình thường sử dụng thực nghiệm tư nhân. Ở bên trong phòng thí nghiệm tư nhân, học viện bố trí đầy đủ dụng cụ trụ cột cùng tễ thuốc dùng phối chế Linh Dược tề, hơn nữa nếu như trong quá trình phối chế đệ tử gặp được vấn đề gì, còn có thể thỉnh giáo lão sư trực ban trong phòng thí nghiệm. Bên trong phòng thật an tĩnh, tay phải Kiệt Sâm cầm Tây Lan hoa, ánh mắt thoáng nheo lại, sau một lát nhẹ nhàng thở ra một hơi, tay chợt chuyển, đóa Tây Lan hoa đã được bỏ vào trong một bình đựng chất lỏng màu lam. - Xuy… Một đám khói đỏ nho nhỏ toát ra khi đóa Tây Lan hoa tiếp xúc cùng chất lỏng màu lam kia, đóa hoa trong nháy mắt đã hòa tan trong chất lỏng, không khí trong phòng thí nghiệm nhất thời tràn ngập hương hoa lan tỏa. Tay phải lại cầm lên Ba La diệp thảo, trong phút chốc Kiệt Sâm nắm chặt lại, linh lực lục cấp trong cơ thể nháy mắt phun ra, Ba La diệp thảo bị linh lực cường hãn phá hủy, nháy mắt biến thành một đống bột phấn nhỏ, lả tả theo đầu ngón tay Kiệt Sâm rơi vào trong bình. Vừa tiếp xúc với chất lỏng màu lam đang xen lẫn khói đỏ trong bình, bột phấn Ba La diệp thảo nhất thời giống như đom đóm trong đêm đen mùa hạ, tản mát ra ánh huỳnh quang trong trẻo lạnh lẽo, rơi rụng lên dịch trạng kia, giống như bầu trời đầy sao trong đêm đen điểm xuyết lên dịch trạng. Kế tiếp Kiệt Sâm cầm lấy Thiên Tâm Hoàng Quả vắt ra nước trực tiếp nhỏ vào trong bình, phản ứng kịch liệt khiến bên trong bình bốc lên bọt khí tràn đầy… Ngay lập tức Kiệt Sâm cầm lên tài liệu cuối cùng trên đài thực nghiệm, đem viên linh hạch Liệt Hổ thú vương cấp hai nhanh như chớp bỏ vào trong bình, đồng thời linh thức của Kiệt Sâm cũng ngay sau đó truyền vào trong dung dịch phản ứng. Phản ứng năng lượng thật lớn làm linh thức cũng không quá cường đại của Kiệt Sâm lay động không chừng. Tay phải mạnh mẽ lay động, sau một lát chiếc bình trong tay Kiệt Sâm chấn động với tốc độ cao tần, thoáng chốc tay phải của Kiệt Sâm hóa thành một đạo ảo ảnh hư vô, ngay sau đó cảnh tượng kỳ lạ xuất hiện ngay trên tay phải của Kiệt Sâm. Một đạo tinh quang màu đỏ lóe lên trên tay phải hắn, không ngừng quấn quanh quay cuồng lên, ở trung ương đạo trường xà màu đỏ có một viên linh hạch Liệt Hổ thú vương cấp hai, mỗi khi quay cuồng một lần trong không khí lại xẹt qua một đạo quang mang sắc thái bất đồng, đồng thời viên linh hạch Liệt Hổ thú vương cũng bị ăn mòn đi một vòng. Cả quá trình ước chừng kéo dài hơn nửa canh giờ, bởi vì vận động kịch liệt nên trên gương mặt Kiệt Sâm tuôn đầy mồ hôi rậm rạp. - Phanh… Không chịu nổi cánh tay phải kịch liệt chấn động của Kiệt Sâm, chiếc bình trùy hình được chế tạo bằng thủy tinh trong phòng thí nghiệm học viện nổ đùng một tiếng vỡ tan. Trong phút chốc ánh mắt Kiệt Sâm bỗng dưng hiện lên một đạo tinh mang, một đạo hắc sắc ảo ảnh xẹt qua thật nhanh trên không trung, sau một lát trên tay hắn đã xuất hiện một chiếc bình tễ thuốc trang bị chất lỏng màu đỏ, đang lóe ra ánh sáng như viên rubi rạng ngời. Kiệt Sâm không ngừng thở hổn hển, nơi ánh mắt hắn nhìn tới, chiếc bình thủy tinh đã vỡ tan rơi rụng đầy trên đài thực nghiệm, mà tay phải bởi vì vận động với cường độ cao giờ phút này đang không ngừng run rẩy lên, từng đợt đau nhức không ngừng truyền tới đại não làm hắn phải cau mày nhe răng nhếch miệng. Ánh mắt gắt gao nhìn chằm chằm bình Linh Dược tề màu đỏ trong tay, lực cảm giác của linh hồn cường đại làm Kiệt Sâm rõ ràng cảm ứng được chất lỏng màu đỏ bên trong bình tễ thuốc chứa đựng năng lượng vô cùng dồi dào… - Trúc thể linh dịch, rốt cục đã phối chế thành công! Trong miệng nhẹ nhàng than thở một tiếng, vui sướng khi thành công làm cho vị đệ nhất nhân đại lục ở kiếp trước thật hiếm có nở nụ cười. Nhưng ngay lập tức thần tình Kiệt Sâm liền biến thành cười khổ nhìn tay phải đang không ngừng run rẩy của mình hiện tại, việc hôm nay hắn cần làm chính là phải đến phòng y vụ của học viện trị liệu tay phải của chính mình. Đọc Truyện Kiếm Hiệp Hay Nhất: https://sachvui.com - Oành… Ngay khi Kiệt Sâm vừa thu lại trúc thể linh dịch trong tay trái của mình, đang chuẩn bị rời đi đến phòng y vụ của học viện, cánh cửa phòng thí nghiệm đột nhiên bị mở tung ra, ngay lập tức có một thân ảnh hỏa hồng sắc phóng nhanh vào trong phòng thí nghiệm, một phát nắm được tay phải của Kiệt Sâm. - Kiệt Sâm, lần này xem như ta tìm được ngươi rồi, từ chiều hôm qua tới sáng nay ngươi đã chạy đi đâu? Bỏ đi, ta mặc kệ, hiện tại ta phải lập tức mang ngươi đi gặp một người! Tiến vào phòng thí nghiệm chính là lão sư Linh Dược hệ của học viện, Linh Dược sư Khắc Lai Nhân tam giai đê cấp. Nàng thật vất vả mới tìm được Kiệt Sâm, nắm lấy tay phải của hắn, trong miệng vừa nói vừa túm hắn kéo ra khỏi cửa phòng thí nghiệm, đi tới trong đại sảnh phòng thí nghiệm của Linh Dược hệ. Một trận hương thơm đặc hữu trên người nữ nhân trong nháy mắt chui vào trong mũi Kiệt Sâm, bị lão sư Khắc Lai Nhân được vô số nam lão sư cùng nam đệ tử của học viện ngưỡng mộ trong lòng nắm tay, nhưng giờ phút này trong lòng Kiệt Sâm lại không hề có chút cảm giác ngọt ngào nào. Hắn chỉ trừng to đôi mắt của mình, diễn cảm thống khổ, vẻ mặt vặn vẹo u oán kêu rên: - Khắc Lai Nhân lão sư…ngài…ngài…có thể nhẹ một chút…ta…ta…tay của ta…bị ngài cầm…đau quá… Nguyên bản trong đại sảnh đang có không ít người nhất thời lặng ngắt như tờ, vô số ánh mắt giống như u linh trong đêm tối không tiếng động đã rơi vào trên người Khắc Lai Nhân cùng Kiệt Sâm. Tất cả mọi người đều trợn mắt há hốc mồm nhìn Khắc Lai Nhân đang nắm tay Kiệt Sâm, tập thể hóa đá, bên trong đại sảnh trong phút chốc biến thành yên tĩnh hoàn toàn. - Chết tiệt! Chạy thẳng ra xa phòng thí nghiệm học viện, Khắc Lai Nhân mới dừng chân lại, hai tay ôm lấy gò má đỏ rực của mình vô cùng xấu hổ. Khắc Lai Nhân năm nay hai mươi ba tuổi, chưa từng nắm qua tay nam nhân, vừa nghĩ tới khi nãy mình ở trước mặt công chúng lại lôi kéo tay Kiệt Sâm, mấu chốt là Kiệt Sâm còn nói ra một câu nói như vậy, điều này làm trong lòng Khắc Lai Nhân tràn ngập ngượng ngùng cùng quẫn bách. - Ai bảo vừa rồi ngươi nói câu nói như vậy bên trong đại sảnh chứ! Khắc Lai Nhân trừng lớn đôi mắt, hung tợn nhìn Kiệt Sâm đứng phía sau mình, thần tình tức giận. Chiếc mũi trắng nõn bởi vì tức giận mà hếch lên, làm nổi bật đôi môi kiều diễm đỏ mọng, tràn ngập hương vị mê người. Giờ phút này nàng làm sao còn giống một vị lão sư uy nghiêm, ngược lại chẳng khác gì một tiểu nữ sinh đang tức giận. Vừa nghĩ tới vừa rồi ở trong đại sảnh phòng thí nghiệm ánh mắt của các học viên luôn lợi dụng thời gian ngoài giờ học chạy đến tiến hành học tập Linh Dược tề nhìn mình, trong lòng Khắc Lai Nhân chợt có loại cảm giác xúc động muốn một cái tát chụp chết Kiệt Sâm, sau đó bản thân mình cũng tự đi tìm chỗ chết cho xong. - Khắc Lai Nhân lão sư, vừa rồi là ngươi lôi kéo ta chạy đi ra đi! Cảm thụ được tay phải truyền tới đau đớn như kim châm, trong lòng Kiệt Sâm thật bất đắc dĩ: - Nếu như không có chuyện gì khác, Khắc Lai Nhân lão sư, ta còn có việc phải đi về trước! - Không được, Kiệt Sâm, ta tìm ngươi thật lâu, hiện tại ngươi phải cùng ta đi gặp đạo sư của ta! Khắc Lai Nhân thật bá đạo trực tiếp đoạn tuyệt ý tưởng của Kiệt Sâm. - Đạo sư của ngươi? Nghe nói như vậy trong lòng Kiệt Sâm không khỏi sững sờ, một đoạn trí nhớ từ sâu trong đầu óc của hắn nháy mắt hiện lên, nếu như mình nhớ không lầm, đạo sư của lão sư Khắc Lai Nhân tựa hồ chính là viện trưởng học viện Tây Tư Linh Lực, là một trong hai Linh Dược thiên sư trung cấp tứ giai của Tháp Lâm thành, đại sư Bỉ Tư Pháp Mỗ. Trong lúc nhất thời trong lòng Kiệt Sâm không khỏi có chút hiểu được Khắc Lai Nhân lão sư đến tìm mình rốt cục có chuyện gì, trải qua một ngày một đêm thích ứng, đã hoàn toàn dung nhập vào thời đại này trong lòng hắn hiểu được, ngày hôm qua trong khóa thực nghiệm mình đã phối chế ra loạidung dịch hỏa nguyên tố trụ cột cùng phương pháp phối chế Linh Dược tề độc đáo, đối với Linh Dược sư của thời đại này mà nói, sẽ nảy sinh chấn động như thế nào. - Thất phu vô tội, mang ngọc mắc tội! Giờ phút này trong lòng Kiệt Sâm hiểu được thật sâu, trước khi mình có đủ lực lượng cường đại, nếu bại lộ bản thân mình quá nhiều, ngoại trừ chỉ mang đến cho mình chút ít phương tiện sẽ mang tới cho mình thật nhiều phiền phức. - Nhưng ít nhất ngươi phải để ta chữa trị xong cánh tay rồi hãy đi đi! Ở trước mặt Khắc Lai Nhân, Kiệt Sâm giơ lên tay phải bị sưng tấy của mình, lúc trước hắn liều lĩnh vượt cấp phối chế trúc thể linh dịch, khiến bắp thịt cùng gân nhục đều bị tổn hại nghiêm trọng, giờ phút này cánh tay phải của hắn đã trở nên bầm tím. - Đã xảy ra chuyện gì? Vừa rồi ngươi…? Cho đến tận lúc này Khắc Lai Nhân mới chú ý tới tay phải bị thương của Kiệt Sâm, sắc mặt nhất thời hòa dịu xuống, nghĩ tới trước đó Kiệt Sâm thật đau đớn lại làm như vô sự, trong lòng Khắc Lai Nhân không biết vì sao lại cảm giác đau lòng. - Đưa ra tay phải, ngươi đứng yên đừng nhúc nhích! Thần tình Khắc Lai Nhân thật nghiêm túc đứng trước mặt Kiệt Sâm, vừa nói ánh mắt của nàng vừa đột nhiên phát sáng lên, một cỗ áp lực cực lớn không thể diễn tả bằng lời từ trên người Khắc Lai Nhân bạo phát ra, ép tới mức hơi thở của Kiệt Sâm trở nên thật gian nan. Ba đạo lục sắc quang quyển từ trên đầu Khắc Lai Nhân xông ra, cuối cùng trôi nổi sau đầu của nàng, lục mang chói mắt, lấy thân thể Khắc Lai Nhân làm trung tâm bộc phát, theo sự khống chế của nàng, lục mang bốc lên khắp một thước chung quanh, dưới ánh mặt trời chiếu xuống phản xạ ra quang mang mê ly. Ba đạo lục sắc quang quyển chính là ba đạo linh hoàn của Khắc Lai Nhân, đại biểu thân phận Linh Sư tam giai của nàng. Trong miệng khẽ ngâm nga, hai mắt Khắc Lai Nhân thoáng chốc tuôn ra một đạo tinh mang, ngay lập tức một đạo linh hoàn sau đầu nàng đột nhiên sáng ngời, một đạo thủy lục sắc huyễn ảnh xuất hiện sau lưng Khắc Lai Nhân, huyễn ảnh nhìn qua giống như một đầu trường xà, hai bên thân rắn là đôi cánh, trên đầu là một chiếc sừng thạch anh xanh biếc, nhộn nhạo lục văn như sóng gợn… Lấy ánh mắt của một Linh Dược thánh sư cửu giai của kiếp trước, Kiệt Sâm chỉ liếc mắt liền nhận ra hư ảnh như trường xà trên đỉnh đầu lão sư Khắc Lai Nhân chính là linh thú thủy hệ tam giai, huyễn ảnh của Thanh Minh Thủy Yêu. Đó là linh thú mà lão sư Khắc Lai Nhân thu hoạch thủ linh tâm khi tiến giai tam giai linh hoàn. Ở Tư Đặc Ân đại lục, bất cứ một Linh Sư nào khi đạt tới cấp bậc tiếp theo, cũng có thể lựa chọn tiếp tục tu luyện sau khi thăng cấp hoặc đi thu linh tâm của linh thú. Linh tâm trên thực tế chính là linh hạch linh thú, bất kỳ một con linh thú nào sau khi tử vong trong vòng một canh giờ, bởi vì năng lượng trong linh hạch còn chưa hoàn toàn ngưng tụ, bởi vậy sẽ có một ít linh hạch của linh thú sẽ dùng hình thức thể lỏng xuất hiện, trong đó ẩn chứa năng lượng cũng lấy được sức sống như sinh mệnh còn sống, không cuồng bạo nhưng năng lượng trong linh hạch, bởi vậy được gọi là linh tâm. Nhưng muốn rút ra linh tâm cần có ý thức cực kỳ cường hãn, hơn nữa bởi vì năng lượng cuồng bạo thường thường sẽ tạo thành tổn thương thật lớn đối với thân thể Linh Sư, bởi vậy khi rút ra linh tâm, bình thường phải cần đại lượng Linh Dược tề phụ trợ, không phải là Linh Sư bình thường có thể đạt được. Mà chỗ tốt nếu thu hoạch được linh tâm cũng thật lớn, ngoại trừ dung hợp linh tâm của linh thú sẽ đề cao cường độ linh lực, còn trực tiếp đạt được kỹ năng nào đó của linh thú, điều này so với một môn linh kỹ mà Linh Sư tự mình tu luyện được còn nhanh chóng cùng cường hãn hơn nhiều. - Cam Lâm Sái Lộ! Một đạo chú ngữ từ trong miệng lão sư Khắc Lai Nhân phát ra, huyễn ảnh Thanh Minh Thủy Yêu xoay quanh sau lưng Khắc Lai Nhân trong nháy mắt lớn dần lên, một đạo lục quang chói mắt từ hai tay Khắc Lai Nhân đã rơi xuống trên tay phải của Kiệt Sâm. Một cỗ cảm giác mát mẻ khó nói nên lời nhất thời từ tay phải Kiệt Sâm truyền lên trên não, khi Khắc Lai Nhân phóng thích ra linh kỹ Cam Lâm Sái Lộ tẩm bổ, cánh tay phải của Kiệt Sâm có thể lấy tốc độ mà mắt thường nhìn thấy được nhanh chóng khôi phục, chỉ sau một lát tụ huyết sưng đỏ trên cánh tay phải đã hoàn toàn biến mất không còn nhìn thấy gì nữa, đã hồi phục lại tinh tế bóng loáng. Trong miệng thở phào một hơi thật dài, bản thân Khắc Lai Nhân là Linh Sư tam giai đê cấp phóng xuất ra linh kỹ tam giai thời gian dài như vậy nên trên trán đã mơ hồ chảy ra một tầng mồ hôi tinh mịn, nhưng khi nhìn thấy cánh tay phải cơ hồ đã khỏi hẳn của Kiệt Sâm, trong lòng Khắc Lai Nhân lại cảm thấy thật vui sướng. - Cầm đi, đây là Ngưng Huyết Tề, sau này nhớ phải cẩn thận một chút, đừng để bị thương nữa, lão sư biết ngươi thật cố gắng, nhưng khi làm thí nghiệm cũng đừng nên liều mạng đến như vậy! Khắc Lai Nhân từ trong người lấy ra một bình dược tễ màu đỏ nhét vào trong tay Kiệt Sâm. - Ta không thể nhận, Khắc Lai Nhân lão sư! - Nói lời dư thừa làm gì, còn không cầm cho ta! Khắc Lai Nhân hung hăng trừng mắt liếc Kiệt Sâm. Nhìn ánh mắt tràn đầy quan tâm của Khắc Lai Nhân lão sư, Kiệt Sâm cầm lấy Ngưng Huyết Tề không nói chuyện, kiếp trước bản thân hắn là Linh Dược thánh sư cửu giai, tự nhiên biết được giá trị của bình Linh Dược tề thượng phẩm cấp hai này, tuy rằng bình tễ thuốc chỉ là thượng phẩm cấp hai, nhưng Ngưng Huyết Tề là loại tễ thuốc trị liệu không giống như tễ thuốc phụ trợ bình thường, là đồ vật mà toàn bộ Linh Sư đều cố gắng muốn đạt tới, ở trên thị trường ít nhất phải giá trị hai ba ngàn linh tệ mới mua được một bình. - Đi thôi, đừng thất thần nữa! Nhìn thấy Kiệt Sâm không nói lời nào, Khắc Lai Nhân lập tức hướng phòng viện trưởng học viện đi tới. Kiệt Sâm đi theo phía sau Khắc Lai Nhân giờ phút này cả hai người đều không hề hay biết, viện trưởng học viện Tây Tư Linh Lực, đại sư Bỉ Tư Pháp Mỗ đang vì việc phối chế Linh Dược tề mà đang đứng trong nguy hiểm cực độ! Bên trong phòng thí nghiệm của viện trưởng học viện Tây Tư Linh Lực, một lão giả mặc một bộ trường bào xanh đen giờ phút này hai tay đang nắm chặt một bình tễ thuốc màu đỏ đậm trên đài thực nghiệm, hai mắt gắt gao nhìn chằm chằm tễ thuốc màu đỏ đậm đang cuồn cuộn không ngừng trong bình, thần sắc thật ngưng trọng. Lão giả này chính là viện trưởng học viện Tây Tư Linh Lực, một trong hai Linh Dược thiên sư trung cấp tứ giai của Tháp Lâm thành, đại sư Bỉ Tư Pháp Mỗ. Bản thân là viện trưởng học viện Tây Tư Linh Lực, viện trưởng Bỉ Tư Pháp Mỗ luôn dùng tư thế ôn văn nho nhã xuất hiện trước mặt học viên cùng lão sư trong trường, nhưng giờ phút này nếu có lão sư nào chứng kiến Bỉ Tư Pháp Mỗ, tuyệt đối sẽ không đem lão giả nhìn qua chật vật không chịu nổi này cùng viện trưởng đại nhân tràn ngập hào quang thần thánh liên lạc cùng nhau. Từng giọt mồ hôi thô to từ trên trán Bỉ Tư Pháp Mỗ chảy xuống, nhưng hắn cũng không dám phân tâm lau đi. Nhìn chằm chằm tễ thuốc màu đỏ đậm đang không ngừng cuồn cuộn trong bình, giờ phút này Bỉ Tư Pháp Mỗ cảm thấy vô cùng đau đầu. Sáng hôm nay lão bằng hữu của hắn, hội trưởng Tát Cáp của Linh Dược sư công hội thành Tháp Lâm vội vàng đến tìm hắn, nói trong thành Tháp Lâm có một vị Linh Dược đại sư vừa đến, có thể thông qua đặc tính phản ứng của Linh Dược tề dùng linh thức thấp hơn nhị giai thành công phối chế ra Tiêu Dung tề thượng phẩm cấp hai. Vì nghiệm chứng tính chân thật trong lời nói của mình, hội trưởng Tát Cáp ở đương trường làm mẫu cho Bỉ Tư Pháp Mỗ, Tát Cáp đem linh thức của mình khống chế thấp hơn cấp hai, thông qua quan sát hình thái biến hóa của quá trình phối chế Tiêu Dung dịch mà cuối cùng thành công phối chế ra một bình Tiêu Dung tề phẩm cấp cao. Kết quả này làm trong lòng Bỉ Tư Pháp Mỗ không khỏi vô cùng khiếp sợ, hắn hoàn toàn hiểu rõ lão bằng hữu Tát Cáp khi còn là một gã Linh Dược sĩ trung cấp nhị giai từng có ý nghĩ như vậy, chính mình lúc trước từng hung hăng cười nhạo hắn một phen. Ở trong Linh Dược giới, việc phối chế tễ thuốc đều cần linh thức tham dự mới có thể nắm giữ tốt trình độ, mà cường độ linh thức của một Linh Dược sư đại biểu cho thực lực mạnh yếu của Linh Dược sư đó cùng cấp bậc cao thấp, nhưng phương pháp mà hội trưởng Tát Cáp biểu hiện trực tiếp phá vỡ truyền thống của Linh Dược giới. Sau khi Tát Cáp rời khỏi, Bỉ Tư Pháp Mỗ cũng không thèm ăn cơm trưa, hắn trực tiếp căn cứ theo biện pháp mà Tát Cáp đã nói phối chế Tiêu Dung tề thượng phẩm cấp hai lần nữa. Kết quả thành công làm trong lòng Bỉ Tư Pháp Mỗ không khỏi tràn ngập hưng phấn, lúc này hắn nghĩ đến, nếu trong Tiêu Dung tề có thể thực hiện được phối chế như vậy, thì trong những loại tễ thuốc khác kết quả có giống nhau hay không? Vừa nghĩ tới đây, trong lòng Bỉ Tư Pháp Mỗ cũng không còn cách nào đè nén, hắn khẩn cấp muốn thực hiện, vừa lúc trong tay đang có một phần tài liệu tễ thuốc cuồng bạo, lập tức liền dùng cuồng bạo tễ thuốc làm thực nghiệm. Cuồng Bạo tễ thuốc là một loại Linh Dược tề tam giai trung phẩm, bất cứ một gã Linh Sư nào từ tứ giai trở xuống sau khi dùng Cuồng Bạo tễ thuốc đều có thể ở trong thời gian ngắn làm cho thực lực bản thân đề cao hơn một cấp bậc
====================================================================================================================
Ngôi nhà số 37 của họ lâm
Câu chuyện ma về căn nhà số 37 của nhà họ Lâm ở Thượng Hải từng rất xôn xao. Vốn tòa nhà này cũng không có gì đặc biệt, song kể từ khi xuất hiện những câu chuyện quỷ quái và các vụ án giết người, căn nhà này bèn biến thành căn nhà ma trong đời sống thực. Câu chuyện này được một vị cảnh sát già kể lại, được truyền miệng rộng rãi, tất nhiên là đã được thêm mắm dặm muối khá nhiều chi tiết nên thật giả bao phần không ai rõ được.
Năm 1956, đường Vũ Ninh vẫn còn ruộng đồng, một vài nông trại và kho xưởng. Vị cảnh sát đó kể rằng hồi ấy dân cư thưa thớt, rất ít người hoạt động khi đêm về, lúc đó khu vực này vừa mới sáp nhập vào quận Phổ Đà, còn chính quyền quận dời đến đường Phổ Hùng chưa bao lâu, ông ấy là sinh viên vừa mới tốt nghiệp trường cảnh sát được điều đến bộ phận hình sự, cách cục cảnh sát không xa có một khu dân cư, tất nhiên hồi đó khu dân cư ấy chỉ là thôn xóm nhỏ mà thôi.
Đêm đó là ca trực của một cậu cảnh sát trẻ tuổi, nửa đêm, điện thoại reo. Cuộc gọi bắt đầu với tiếng thở dốc, sau đó có một giọng nói không biết là nam hay nữ nói rằng chính mình đã giết người, người đó gọi điện tới đầu thú. Giọng nói đó rất kỳ lạ, tạp âm trong điện thoại rất lớn. Lúc cậu ấy hỏi người đó đang ở đâu thì người đó nói rằng đang ở khu dân cư cách cục cảnh sát ba con phố. Cậu cảnh sát nọ cảm thấy tình huống rất nghiêm trọng bèn ngay lập tức báo cáo cục trưởng, đồng thời thông báo cho đồn công an khu vực đó. Chỉ lát sau, cục cảnh sát đã điều người tới.
Họ tới khu dân cư đó, lúc này trời tối đen như mực, chẳng có bất kỳ thanh âm nào. Có một vị cảnh sát lớn tuổi hỏi cậu cảnh sát ấy rằng đó là căn nhà nào, cậu cảnh sát ấy- cũng chính là vị cảnh sát già kể lại câu chuyện này - bảo rằng là nhà số 37. Họ bật đèn pin lên tìm, cuối cùng cũng tìm được căn nhà số 37 đó. Đó là một căn nhà bằng gạch, đằng sau cánh cửa lớn là một cái sân. Ông ấy hồi tưởng lại, lúc mới vào sân thì có một cơn gió thổi đến khiến những chiếc lá dưới sân bay lên và kêu xào xạc, bầu không khí rất cổ quái, ông ấy lớn tiếng hỏi có ai không, thế nhưng không ai đáp lời, bên trong cũng chẳng có ánh đèn. Lúc đẩy cửa mới phát hiện ra rằng cánh cửa gỗ đã bị khóa lại từ bên trong. Đúng lúc này thì người từ cục cảnh sát cũng tới.
Họ phân tích tình hình như thường lệ. Hóa ra chủ nhân của căn nhà này đã chạy trốn đến Đài Loan hồi trước giải phóng, chủ nhân hiện tại là một người đàn ông họ Diệp từ Hà Bắc đến Thượng Hải làm việc. Nhà gồm 4 người, cô vợ bị thọt chân, còn hai đứa con gồm một nam một nữ. Lúc này, vị cảnh sát lớn tuổi nọ nói rằng muốn tìm thứ gì đó để mở cửa. Ông ấy đáp chi bằng phá cửa sổ. Vị cảnh sát lớn tuổi nhắc nhở mọi người phải chú ý an toàn. Thế là họ bèn phá cánh cửa bằng thủy tinh, tiếp đó ông ấy nhảy vào trong nhà và cầm theo một chiếc đèn pin, song chỉ mới nhảy vào nên vẫn chưa mở lên, sau đó ông cảm thấy dưới chân ươn ướt, trong nhà tràn ngập mùi máu tươi khiến ông sợ hãi. Vị cảnh sát lớn tuổi cũng theo vào, nhưng lúc chạm đất lại không đứng vững nên bị ngã xuống đất, lúc đứng lên mở đèn pin thì phát hiện cả người đều là máu tươi, cậu cảnh sát trẻ càng hoảng hốt hơn. Hai người mò mẫm tìm công tắc mở điện, không sáng đèn thì thôi, đèn sáng rồi họ bỗng ngây người. Gian phòng chỉ có bàn ăn và một chiếc xe đẩy dành cho trẻ em, còn dưới đất là chất lỏng màu đỏ.
Ông cất tiếng hỏi đây là gì, vị cảnh sát lớn tuổi trông có vẻ bình tĩnh, trầm giọng đáp rằng: "Máu người". Cậu cảnh sát trẻ hỏi tiếp bằng chất giọng run rẩy: "Sao có thể có nhiều máu như thế cơ chứ?". Sau khi mở cửa, đồng chí bên cục cảnh sát gọi điện về báo cáo cho đội điều tra hình sự, hiện trường còn lại vị cảnh sát già, ông ấy và hai cảnh sát điều tra hiện trường. Theo lời pháp y thì ít nhất có sáu người thiệt mạng. Song căn nhà này chỉ có bốn người, hàng xóm kể lại rằng mấy tháng trước người vợ đã dắt con về nhà mẹ đẻ, còn người chồng cũng đã mấy ngày rồi không thấy đâu. Vậy ai là người báo án lúc nửa đêm?
Vụ án xảy ra tầm một tháng thì một ngày nọ thì có người gọi điện tới thông báo rằng lúc mấy đứa trẻ tan học có trông thấy cửa nhà số 37 bị mở. Ai cũng biết rằng sau khi xảy ra án mạng thì hiện trường sẽ bị dán giấy niêm phong. Còn về việc nam chủ nhân của căn nhà thì sau khi điều tra cũng đã xác định là mất tích. Tổ điều tra cũng đến hỏi thăm quê nhà của người vợ, thế nhưng ai cũng bảo rằng không thấy về. Hàng xóm xung quanh biết nơi đây xảy ra chuyện lạ nên chắc chắn cũng sẽ không vào. Thời đó kỹ thuật vẫn chưa phát triển như hiện tại nên cũng không cách nào kiểm chứng cuộc gọi từ đâu đến. Thời gian dần trôi nhưng vụ án này vẫn không có bất kỳ tiến triển nào, rồi những cảnh sát có liên quan cũng dần được phân đến những đội khác, chỉ còn lại cậu cảnh sát trẻ vẫn còn ở lại, còn vị cảnh sát già kia thì kể từ sau chuyện đó, tinh thần vẫn không ổn định nên đã xin nghỉ hưu trước thời hạn.
Mùa đông năm 1958, nhân dân tố cáo một phần tử phản cách mạng. Người đó họ Hứa, bình thời là một thợ giày. Sau khi trải qua thẩm tra thì biết được người này là một thành viên thuộc một tổ chức đạo gia. Xét về mặt chính trị thì tổ chức đó là tổ chức phản động và rất phát triển ở vùng Chiết Giang. Trong danh sách thành viên mà người này kê khai, có xuất hiện nam chủ nhân của căn nhà số 37. Thế là câu chuyện về căn nhà số 37 lại lần nữa được đào lại.
Người đàn ông họ Hứa đó còn cung cấp một manh mối quan trọng, đó là sau khi chuyện về căn nhà số 37 xảy ra được một tháng thì anh ta đã từng gặp chủ nhân của căn nhà đó. Họ Hứa nói: "Tôi quen Diệp Tiên Quốc từ hồi bé, khi đó là năm dân quốc thứ 13". Cảnh sát thẩm vấn hỏi rằng: "Theo như trên thẻ căn cước thì Diệp Tiên Quốc ra đời vào năm 1933, hai người sao có thể quen biết được?". Thế nhưng họ Hứa vẫn một mực thề rằng đã gặp Diệp Tiên Quốc ngay tại quê hương của anh ta là núi Phục Ngưu ở Hà Nam. Lần gần nhất anh ta trông thấy Diệp Tiên Quốc là vào tháng 11 năm 1956 ở chùa Ngọc Phật. Họ Hứa lại nói rằng Diệp đại hộ pháp đã sớm rời khỏi tổ chức rồi, so với hồi mới quen biết cũng chẳng thấy anh ta già đi thêm chút nào, thậm chí còn trẻ hơn nữa. Theo như lời khai của Hứa thì Diệp Tiên Quốc này là một nhân vật quan trọng thuộc cấp bậc hộ pháp, vậy thì Diệp Tiên Quốc ra đời khi nào, những điều họ Hứa nói có phải là thật, tất cả đều không có lời giải đáp. Một tháng sau, họ Hứa bỗng chết bất đắc kỳ tử ngay trại tạm giam khiến vụ án trở nên ngày một mơ hồ.
Cái chết của họ Hứa cũng rất lạ, những tù nhân cùng phòng với anh ta kể lại rằng tối đó một mình họ Hứa đối diện với vách tường, trông như đang nói chuyện với ai đó, rồi lại như đang tranh luận với ai đó, rồi lại như đang cầu xin ai đó. Họ đều cho rằng Hứa nổi điên, song hôm sau tỉnh dậy vẫn thấy Hứa ngồi trước tường, song đã tắt thở. Trên người không có bất kỳ vết thương nào, lạ nhất là sắc mặt của anh ta hồng hào một cách kỳ quái. Sau khi pháp y giám định cũng không phát hiện bất kỳ dấu hiệu ngộ độc nào. Nhưng họ lại phát hiện trên vách tường mà Hứa ngồi nhìn cả đêm có một hàng chữ rất kỳ lạ, thế nhưng chẳng mấy chốc lại biến mất, bạn tù của họ Hứa kể lại rằng trông thứ đó khá giống với bùa chú, song họ lại không biết miêu tả cụ thể.
Tổ chuyên án điều tra hồ sơ của Diệp Tiên Quốc thì phát hiện rằng bố của anh ta cũng tên là Diệp Tiên Quốc, thế nhưng cái chết của cha anh ta thì không được ghi chép lại. Thế thì liệu rằng họ Hứa có phải đã từng quen biết với bố của Diệp Tiên Quốc hay không? Theo như lời khai của Hứa thì lúc hai người quen biết nhau thì Diệp Tiên Quốc tầm 40 tuổi. Đến năm 1956, Diệp Tiên Quốc hẳn đã là một ông cụ 70 tuổi, chắc chắn không thể nào 30 tuổi được. Nghi vấn mỗi lúc mỗi nhiều thêm.
Nhà của Hứa nằm trên một quả đồi. Tổ chuyên án vào nhà họ Hứa kiểm tra, đa phần đều đã đổ nát, một đồng chí nữ phát hiện thấy một ký hiệu kỳ quái khắc trên miệng giếng. Tổ chuyên án cũng không có bất kỳ chuyên gia nào về tôn giáo nên chỉ đành chụp lại rồi đợi đến lúc về lại Thượng Hải sẽ nghiên cứu thêm. Sau khi tổ chuyên án gọi điện tới cục cảnh sát ở Thượng Hải thì quyết định đến Hà Bắc một chuyến, xem xem Diệp Tiên Quốc và Hứa gia rốt cuộc có mối quan hệ như thế nào.
Tổ chuyên án đến Bá Châu thuộc Hà Bắc, theo như tư liệu đính kèm, đã xác định được chắc chắn bố của Diệp Tiên Quốc cũng tên là Diệp Tiên Quốc, không chỉ thế, ông nội của anh ta cũng tên Diệp Tiên Quốc. Những tư liệu khác cũng không ghi chép gì nhiều về nhà họ Diệp, chỉ nghe kể lại rằng nhà họ Diệp không giàu có, biết bao đời canh miếu cho một cái miếu địa phương tên là Ngọc Hoàng. Đương lúc không có đầu mối gì về vụ án này thì phía cảnh sát Thượng Hải gọi điện tới người của tổ chuyên án nói rằng có người báo cáo đã nhìn thấy Diệp Tiên Quốc ở gần khu vực núi Long Hổ ở tỉnh Giang Tây, đồng thời căn nhà số 37 cũng xảy ra một số chuyện quái dị. Thế là tổ chuyên án bèn chia thành hai nhóm, một nhóm đến Giang Tây còn một nhóm về lại Thượng Hải tiếp tục điều tra.
Lúc đó khu vực quanh nhà số 37 bắt đầu khởi công xây dựng nông thôn mới, sau khi công nhân phá dỡ căn nhà số 37 thì phát hiện, cách 3 mét tính từ mặt đất có chôn một cái vại lớn, bên trong vại là người vợ và hai đứa con đã mất tích của Diệp Tiên Quốc. Sau hai năm, vụ án này chính thức được liệt vào danh sách các vụ án có tính quan trọng, tội danh của Diệp Tiên Quốc được thành lập, cục cảnh sát cấp lệnh truy nã Diệp Tiên Quốc trên toàn quốc. Đến khi vị cảnh sát nọ quay lại hiện trường lần nữa thì căn nhà số 37 đã bị san thành bình địa, còn nơi đào ra được cái vại là khu vực phòng khách.
Hai tuần sau, dưới sự giúp đỡ của công an tỉnh Giang Tây, cảnh sát đã thành công bắt giữ Diệp Tiên Quốc lúc bấy giờ đang ngụ tại một đạo quán đổ nát ở núi Long Hổ thuộc địa phận tỉnh Giang Tây. Diệp Tiên Quốc bị áp giải về Thượng Hải, bởi tính đặc thù của vụ án nên hắn ta bị giam ở một gian tù riêng. Bộ công an điều chuyên gia đến tiến hành phỏng vấn. Lão Trần - thành viên của tổ pháp y đã nói cho cậu biết rằng, họ phát hiện điều bất thường trong quá trình giải phẫu thi thể vợ con của Diệp Tiên Quốc. Cơ thể của vợ con hắn ta không hề có dấu hiệu thối rữa, tuy trông giống như người sống nhưng lại không có dấu hiệu của sự sống, không giống như đã chết hơn hai năm. Phải đợi đến khi thẩm vấn Diệp Tiên Quốc xong mới hỏa táng thi thể.
Quá trình phỏng vấn Diệp Tiên Quốc cũng có vấn đề, trông hắn ta cứ như mắc phải một căn bệnh nào đó về tinh thần, không nói gì cả, hỏi gì cũng mở mắt ngây dại nhìn trần nhà, đồng thời cũng không ăn gì, thậm chí cũng không uống nước. Một tháng trôi qua song tổ chuyên án và các chuyên gia cũng chẳng có bất kỳ đầu mối nào. Diệp Tiên Quốc được giám định tinh thần ba lần với ba cấp độ khác nhau. Đặc biệt, khi chụp X-quang để kiểm tra, Diệp Tiên Quốc đã khiến ai nấy phải sợ hãi bởi hắn không có tổ chức não. Người không có tổ chức não thì không được định nghĩa là người, vậy rốt cuộc Diệp Tiên Quốc là gì?
Lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng Diệp Tiên Quốc được đưa đến nhận diện hiện trường là vào một buổi tối tháng Tư năm 1959, vị cảnh sát gia nhớ rất rõ, hôm đó là tiết thanh minh. Họ cùng quay trở lại căn nhà số 37 của Lâm gia, gió biển thổi rất mạnh, lúc tới nơi thì Diệp Tiên Quốc bỗng bật cười ha ha, kiểu cười đó cực kỳ quỷ dị. Đột nhiên chung quanh nổi lên một tầng sương mù dày đặc, các chiến sĩ phụ trách cảnh giới xung quanh không thấy Diệp Tiên Quốc và các cảnh sát trong căn nhà số 37 đâu nữa.
Ông ấy nói hôm đó ông ấy đang ở bên ngoài, lúc trông thấy tình cảnh này bèn có ý định muốn tiến vào xem xem thế nào, song lúc mới bước vào thì phát hiện trong sương mù có ánh sáng vàng, Diệp Tiên Quốc gào to lên rằng đây là phù chú, các ngươi không thể nào tiếp cận được những phù chú này. Sau khi sương mù tan thì Diệp Tiên Quốc biến mất, ba cảnh sát cùng ở bên trong với hắn ta đã lâm vào trạng thái hôn mê, sau này khi ba người họ tỉnh lại đã kể rằng lúc trông thấy sương mù họ đã giơ súng lên chĩa về phía Diệp Tiên Quốc, sau đó họ thấy một cảnh tượng kinh khủng, căn nhà số 37 đã bị phá dỡ nay bỗng lành lặn trở lại, từ phòng khách bỗng truyền ra tiếng trẻ con nói cười, còn Diệp Tiên Quốc thì bước hẳn vào trong bức tường, thoáng chốc đã không thấy đâu. Họ lập tức nhả đạn về phía bức tường đó song bức tường bỗng sinh ra một lực rất lớn khiến họ ngất đi trong nháy mắt. Tất nhiên, những lời này nói ra không có mấy ai tin.
Cuối cùng vụ án này vẫn không có được lời giải thích hợp lý, được xếp vào hàng án diệt môn và thông tin được ghi chép trong hồ sơ chính thức là: Diệp Tiên Quốc đã tự sát sau khi giết cả nhà. Tuy nhiên, có một netizen đã nói rằng: "Theo như lời kể thì nơi đó bây giờ hẳn ở quận Phổ Đà, nằm ở khu vực đường Trung Sơn Bắc với đường Vũ Ninh. Tôi lớn lên tại đây nhưng chưa từng nghe nói có chỗ này song nhà họ Lục, nhà họ Diệp thì có. Tôi cũng đã hỏi những người lớn tuổi ở đó, họ cũng bảo chưa từng nghe qua. Vì thế tôi cho rằng đây chỉ là hư cấu, Thượng Hải không tồn tại nơi này”.
===================================================================================================================
Người phụ nữ tàn độc giết hai chồng, đổ tội cho con gái ruột
Với tay nghề cao, thợ sửa máy điều hòa nhiệt độ David Castor ở thành phố Clay, bang New York, Mỹ có cuộc sống khá sung túc. Nhưng cuộc đời David rẽ sang hướng khác khi người cha của anh qua đời năm 2005. Cái chết của ông khiến David trở nên trầm uất, chán nản và uống nhiều rượu.
Ngày 22/8/2005, vợ của David gọi điện thoại tới đồn cảnh sát báo rằng anh không chịu rời phòng ngủ trong một ngày và khóa cửa bên trong. Cảnh sát tới nhà David và quyết định đạp cửa buồng ngủ.
Cảnh tượng kinh hoàng trong buồng ngủ đập vào mắt viên cảnh sát. David nằm sấp trên giường với lượng lớn chất nhầy từ dạ dày. Nhiều đồ đạc rơi dưới đất bao gồm hộp dung dịch chống đông và khẩu súng ngắn dưới gầm giường.
Chuyên gia pháp y kết luận David tử vọng tại hiện trường. Trên nóc tủ nhỏ gần giường, cảnh sát thấy một cốc chứa dung dịch màu xanh lục và một cốc chứa chút dung dịch màu vàng. Kết quả phân tích cho thấy dung dịch màu xanh lục chứa ethylene glycol, thành phần chính của chất chống đông. Nếu một người uống lượng lớn ethylene glycol vào cơ thể, chất này có thể gây tử vong.
Kết quả khám nghiệm tử thi cho thấy nạn nhân tử vong do tác động ethylene glycol trong dạ dày. Trong giấy chứng tử, cảnh sát ghi rằng David tự sát bằng cách uống thuốc chống đông. Song một số thám tử đặt câu hỏi: Tại sao nạn nhân không tự sát bằng súng để chết nhanh mà lại uống chất chống đông để vật vã trong 72 giờ trước khi lìa đời?
Lúc kiểm tra thùng rác trong bếp, nhóm điều tra phát hiện một ống bơm mà dân Mỹ thường dùng để bơm mỡ khi chế biến gà tây. Họ thấy một chút dung dịch chống đông trong ống.
Chuyên gia pháp y cũng phát hiện DNA ở đầu miệng ống bơm. Kết quả phân tích cho thấy đó là DNA của David Castor. Như vậy, có lẽ David hoặc ai đó đã dùng ống bơm để đưa chất chống đông vào dạ dày? Cảnh sát không tin vào giả thuyết ấy.
Hàng loạt manh mối đáng ngờ khiến cảnh sát bắt đầu nghi cái chết của David Castor có thể là vụ giết người. Nghi pham hàng đầu là Stacey Castor, vợ của nạn nhân. David là chồng thứ hai của Stacey và cô ta có một con gái riêng từ cuộc hôn nhân đầu tiên.
Nhiều lời khai của Stacey mâu thuẫn với thực tế. Chẳng hạn, cô ta nói với nhân viên tổng đài 911 rằng David uống nhiều rượu trước khi tự nhốt trong phòng, song chuyên gia pháp y không thấy chất cồn trong dạ dày người đàn ông 48 tuổi. Khi cảnh sát thẩm vấn, Stacey buột miệng nói chồng cô ta uống thuốc chống đông. Đây là thông tin mà chỉ cảnh sát biết. "Tôi và chồng từng xem một phim tài liệu về việc một phụ nữ đầu độc chồng bằng thuốc chống đông", Stacey kể.
Nhóm điều tra chỉ thấy dấu vân tay của Stacey xuất hiện trên cốc thủy tinh chứa dung dịch chống đông. Nếu David uống chất chống đông để tự sát, tại sao anh không để lại dấu vân tay trên cốc?
Vị trí của hộp dung dịch chống đông cũng khiến cảnh sát phải đặt ra vài câu hỏi. Chất nhầy mà David nôn ra chảy từ giường xuống sàn nhà, song nhóm điều tra chỉ thấy chất nhầy bên dưới hộp, chứ không thấy chất nhầy ở phía trên hộp - một hiện tượng trái với logic thông thường. Chắc chắn ai đó đã đặt hộp dưới gầm giường sau khi chất nhầy chảy xuống sàn.
Sự nghi ngờ của nhóm điều tra tăng lên sau khi họ biết Mike Wallace, người chồng đầu của Stacey, cũng chết một cách bí ẩn. Bác sĩ kết luận Mike tử vong vì đau tim. Người nhà của Mike yêu cầu khám nghiệm tử thi, song Stacey bác bỏ đề xuất này. Từ đó tới nay người thân của Mike luôn nghi ngờ hành động khó hiểu của Stacey.
Khi kiểm tra hồ sơ y tế của Mike Wallace, người chồng đầu tiên của Stacey, cảnh sát nhận thấy ông không hề mắc bệnh tim. Vì thế khả năng ông tử vong vì đau tim rất thấp.
Nghi ngờ cái chết của Mike là kết quả của một vụ án mạng, cảnh sát yêu cầu tòa án cho phép họ khai quật mộ của nạn nhân để khám nghiệm tử thi. Tòa án chấp thuận yêu cầu.
Nếu Mike tử vong do chất chống đông xâm nhập hệ tiêu hóa, chất ethylene glycol trong chất chống đông sẽ tạo ra tinh thể. Sau khi tinh thể hình thành, chúng cản trở hoạt động của thận - nguyên nhân gây tử vong.
Dù thi thể Mike đã phân hủy, những tinh thể do ethylene glycol tạo ra vẫn còn nguyên vẹn. Các chuyên gia pháp y thấy chúng khi khám nghiệm xác người đàn ông xấu số - chứng cứ cho thấy Stacey đã sát hại Mike bằng dung dịch chống đông.
Song đúng lúc cảnh sát chuẩn bị bắt Stacey thì cô ta lại gọi dịch vụ cấp cứu để báo rằng Ashley, con gái của cô ta với chồng đầu tiên, tự sát bằng thuốc ngủ. Khi xe cứu thương tới nhà Stacey, các nhân viên y tế thấy Ashley thở thoi thóp. Một lọ thuốc ngủ và một lá thư tuyệt mệnh bên cạnh cơ thể cô gái. Theo nội dung của lá thư, Ashley thú nhận giết cha ruột vì ông quá ích kỷ và tàn nhẫn. Nhưng giờ đây cảm giác tội lỗi dày vò nên cô gái muốn chết để chuộc tội tày đình.
Nhóm điều tra đối mặt với câu hỏi khó: Phải chăng Ashley hạ sát Mike để bảo vệ mẹ? Vì lá thư tuyệt mệnh được đánh máy nên họ không thể xác định Ashley là tác giả của nó hay không. Hy vọng duy nhất của cảnh sát là Ashley sẽ sống sót để khai sự thật.
May mắn thay, Ashley thoát chết. Khi tỉnh táo, cô kể rằng Stacey đưa cốc nước và bảo cô uống. Ashley cũng khẳng định cô không viết lá thư tuyệt mệnh và không giết cha ruột.
Để xác định người soạn thảo lá thư tuyệt mệnh, nhóm điều tra tịch thu máy tính trong nhà Stacey và kiểm tra. Họ phát hiện lá thư được tạo ra lúc 14h27 hôm 12/9/2005 - thời điểm Ashley học ở trường. Vì thế chắc chắn nữ sinh không phải là người soạn thảo thư. Ngoài ra, chuyên gia máy tính phát hiện Ashley và Stacey dùng tài khoản riêng trên máy tính. Phần mềm Word tồn tại trên cả hai tài khoản, song Ashley chưa bao giờ sử dụng nó, còn Stacey đã sử dung nhiều lần.
Bất chấp những chứng cứ cảnh sát tìm ra, Stacey vẫn một mực khẳng định con gái cô ta giết Mike và David. Lúc này, các công tố viên và những người quan tâm tới vụ án đặt câu hỏi: Động cơ giết hai chồng của Stacey là gì?
Về nhân cách, các nhà tâm lý tội phạm nhận định Stacey là kẻ ích kỷ và yêu bản thân thái quá. Những người như cô ta sẵn sàng giết người khác để bảo vệ lợi ích của bản thân. Về phương diện tài chính, Stacey hưởng 50.000 USD từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ của người chồng thứ nhất. Số tiền bồi thường bảo hiểm tăng lên 200.000 USD với cái chết của người chồng thứ hai.
Các công tố viên tin rằng Stacey nảy ra ý định giết David Castor khi cảm thấy chán chồng. Vì người phụ nữ từng giết chồng thứ nhất mà không bị trừng phạt, cô ta áp dụng thủ đoạn cũ với David. Sau khi lừa chồng uống nước chứa chất chống đông, Stacey thấy chồng bất tỉnh nhưng vẫn thở. Vì thế cô ta dùng ống bơm để tống thêm dung dịch chống đông vào dạ dày David. Đó là nguyên nhân khiến DNA của David xuất hiện ở miệng ống bơm.
Khi cảnh sát khai quật mộ người chồng đầu để khám nghiệm tử thi, Stacey hiểu rằng tội ác của cô ta sắp bại lộ. Vì thế, cô ta nghĩ ra cách vô cùng bất nhân: Đổ tội cho con gái Ashley. Nhân lúc Ashley tới trường vào ngày 12/9/2005, cô ta soạn thảo lá thư tuyệt mệnh rồi in ra giấy.
Vào tối 22/9/2005, Stacey nghiền nhiều viên thuốc ngủ thành bột rồi đổ vào cốc nước để đầu độc Ashley. Nếu Bree Castor, con gái của Stacey và David, không phát hiện Ashley bất tỉnh trên giường vào buổi sáng hôm sau, có lẽ cô gái đã lìa đời và có thể người mẹ vô nhân tính sẽ thoát tội.
Trước tòa, Stacey vẫn khẳng định con gái là thủ phạm giết hai người chồng của cô ta. Nhưng bồi thẩm đoàn không tin. Họ kết luận Stacey phạm tội giết David Castor. Thẩm phán tuyên bị cáo án tù 50 năm. Giới truyền thông Mỹ sốc khi đưa tin về việc Stacey giết hai chồng và âm mưu giết con ruột. Họ gọi cô ta là "Góa phụ đen".
Ashley Wallace và Bree Castor ôm nhau và khóc khi tòa tuyên án. Nỗi đau của hai cô quá lớn. Người mẹ của họ giết hai chồng và âm mưu giết con ruột để trốn tội. Sau khi Stacey vào tù, Ashley cắt đứt quan hệ với người mẹ tàn nhẫn. Ngày 11/6/2016, phạm nhân Stacey Castor đột tử trong trại giam ở tuổi 48.
Tăng Cường Bảo giam giữ phụ nữ
Để thỏa mãn nhục dục đê hèn của mình, ngoài việc hãm hiếp 11 phụ nữ, người đàn ông bệnh hoạn còn bắt cóc, đào hầm trong nhà, giam giữ 2 thiếu nữ làm nô lệ tình dục cho hắn trong 590 ngày...
Địa ngục trần gian của hai thiếu nữ
Tăng Cường Bảo, một công nhân tại Thanh Sơn, Vũ Hán, Hà Bắc, Trung Quốc đã đào hầm, giam cầm hai thiếu nữ để thỏa mãn dục vọng. Hắn dùng đủ mọi bạo hình để hành hạ hai cô gái như bóp cổ, xịt hơi cay vào mắt nạn nhân, tra tấn bằng gậy điện...
Theo đó, cô gái đầu tiên bị người đàn ông hơn 40 tuổi này bắt cóc tên là Lệ Lệ, 16 tuổi. Vào ngày 16/9/2008, vào lúc 22h, khi Lệ Lệ đang đi bộ về nhà một mình thì bị Tăng Cường Bảo bắt cóc. Hắn đưa cô về nhà của hắn rồi ra tay cưỡng hiếp. Sau đó, hắn bắt trói và giam giữ thiếu nữ vào trong căn hầm mà hắn đã đào trong nhà của mình.
Để thỏa mãn dục vọng, từ đầu năm 2008, Tăng Cường Bảo tiến hành đào hầm ngầm trong nhà mình nhằm bắt thiếu nữ về phục vụ tình dục. Hầm ngầm được đào giữa nhà, ngụy trang bằng một cái hố ximăng. Căn hầm cao 2,5m, dài 4m, rộng 1,5m theo cấu trúc chữ S. Hầm được xây chắc chắn có hệ thống cách âm rất tốt. Vách hầm thiết kế song sắt dài 2m rất chắc chắn để cùm nạn nhân.
Vào ngày 2/7/2009, hắn tiếp tục tìm kiếm con mồi khác. Lần này hắn ra tay bắt cóc một cô gái 19 tuổi, tên Hồng Hồng và tấn công tình dục cô. Cũng giống như Lệ Lệ, Hồng Hồng bị tống vào ngục tối. Hai thiếu nữ nhiều lần bị Cường Bảo đánh đập và hãm hiếp.
Ngoài tội ác khủng khiếp với hai thiếu nữ trên, người đàn ông thú tính này còn hãm hiếp 11 phụ nữ khác từ tháng 7/2007 tới tháng 5/2011 mà không một ai dám lên tiếng tố cáo hắn.
Cuộc giải cứu ngoạn mục
Cả hai thiếu nữ được giải cứu vào ngày 14/5/2010, sau khi một người đàn ông tên Du đã đến thăm cửa hàng sửa chữa điện tử của bạn mình. Anh Du đã phát hiện một tờ giấy được nhét vào trong linh kiện của một chiếc tivi với lời lẽ kêu cứu thống thiết: "Hãy giúp tôi. Tôi bị giam giữ dưới lòng đất hơn một năm", đi kèm với đó là một bản đồ vẽ tay cho thấy nơi cô gái bị giam giữ cũng như có cả số điện thoại và địa chỉ của gia đình Hồng Hồng.
Du gọi đến số điện thoại và thông báo cho cha của Hồng Hồng, người chỉ cách nơi con gái ông bị giam giữ khoảng 200 mét. Người cha nhanh chóng báo cho cảnh sát và chỉ một vài giờ sau đó, cảnh sát đã tìm thấy hai cô gái trong tình trạng khỏa thân và thoi thóp thở.
Bác sĩ Từ Lập Hoa, người đi cùng lực lượng giải cứu cho biết, hai nạn nhân trong tình trạng suy kiệt, khắp người có nhiều vết thương lở loét, nếu chỉ trễ vài ngày nữa thì có thể các cô sẽ chết. Như vậy, Lệ Lệ bị giam cầm 590 ngày còn Hồng Hồng bị giam 317 ngày mới được giải thoát. Họ đều bị cùm chân vào vách rất chắc, xung quanh đầy vỏ mì ăn liền và đồ hộp.
Cái giá phải trả của tên bệnh hoạn
Một tuần trước khi giải cứu hai thiếu nữ, Cường Bảo đã bị cảnh sát địa phương bắt giữ vì bị cáo buộc cưỡng hiếp một phụ nữ khác. Tuy nhiên, Cường Bảo đã không hề khai với cảnh sát việc mình giam giữ 2 thiếu nữ. Cảnh sát cũng đã điều tra tên này đã từng hãm hiếp 11 phụ nữ khác.
Sau khi sự việc bị phát giác, nó đã khiến dư luận và truyền thông Trung Quốc rúng động trong thời gian dài. Và mọi người gọi Tăng Cường Bảo là "con quỷ đội lốt người".
Tại phiên toàn xét xử, Tăng Cường Bảo nhận mức án tử hình. Người đàn ông này kháng cáo vì cho rằng bản án quá nặng khi ông ta không hề khiến các nạn nhân tử vong hoặc mang thai. Ông ta còn biện minh rằng mình có vấn đề về tâm thần nên cần được xem xét.
Tuy nhiên, tòa án đã bác bỏ đơn kháng cáo và y án đối với Tăng Cường Bảo. "Bị cáo đã tàn phá sức khỏe thể chất cũng như tinh thần cho hai thiếu nữ, gây ra ảnh hưởng rất tiêu cực đối với xã hội nên cần bị trừng phạt nghiêm khắc", tòa án cho biết.
Người dân sống xung quanh Tăng Cường Bảo vô cùng sốc khi biết tin về sự việc chấn động này. Một người hàng xóm cho biết, Tăng Cường Bảo là người hướng nội, ít nói.
=================================================================================================================
Bệnh Hẹp Van Hai Lá
I. ĐẠI CƯƠNG
Hẹp van hai lá xảy ra khi có sự tắc nghẽn dòng máu chảy xuyên qua van hai lá trong thời kỳ tâm trương. Trong 99% trường hợp van hai lá hẹp được phẫu thuật có nguyên nhân là hậu thấp, tuy nhiên có nhiêu bệnh nhân không ghi nhận tiền sử thấp khớp (khoảng 30% trường hợp), vì có nhiều trường hợp bệnh không biểu hiện ở khớp. Khoảng 2/3 số bệnh nhân hẹp van hai lá là nữ.
Hẹp hai lá đơn thuần chiếm khoảng 25% và hẹp hở hai lá phổi hợp xảy ra trong khoảng 40% bệnh nhân bệnh tim do thấp. Tổn thương đa van gặp trong 38% bệnh nhân hẹp van hai lá, với van động mạch chủ bị ảnh hưởng khoảng 35% và van ba lá trong khoảng 6%. Van động mạch phổi hiếm khi bị ảnh hưởng.
II. NGUYÊN NHÂN
– Thấp tim: thường gặp nhất.
– Bẩm sinh: van hai lá hình nhảy dù…
– Vôi hóa lá van hai lá, vòng van hai lá.
– Biến chứng của carcinoid ác tính.
– Lupus, viêm đa khớp dạng thấp.
– Điều trị với methysergide (hiếm gặp).
– Lắng tụ amyloid trên van tim hậu thấp có thể góp phần làm tắc nghẽn dòng máu qua van hai lá.
– Khiếm khuyết biến dưỡng di truyền (bệnh Hunter-Hurler, bệnh Fabry, bệnh Whipple).
III. GIẢI PHẪU BỆNH
1. Giải phẫu học van hai lá bình thường
Phức hợp van hai lá gồm hai lá van, vòng van, dây thừng gân, cột cơ. Lỗ van hai lá hơi hình bầu dục gồm hai lá van. Lá trước giữa lớn, di động dễ, liên tục với mô nâng đỡ lá không vành và lá vành trái của van động mạch chủ. Lá sau bên, nhỏ, ít di động, dính liền với thành nhĩ trái. Van mở đủ rộng để máu từ nhĩ trái xuống thất trái trong thời kỳ tâm trương và đóng kín không cho máu từ thất trái trào ngược trong thời kỳ tâm thu nhờ các thành phần sau đây: hai lá van dính vào một vòng sợi có tính đàn hồi như cơ vòng thu nhỏ diện tích lỗ van khi hai lá van đóng lại, bờ dưới hai lá van có các dây thừng gân dính neo vào hai cột trụ thẳng đứng phát xuất từ 1/3 dưới thành thất trái, do đó suốt cả thời kỳ tâm thu, các dây thừng gân căng thẳng, các cột trụ co cứng nên các bìa van luôn áp sát vào nhau, không bị lật ngược lên trên.
2. Tổn thương của van hai lá do thấp tim
Tổn thương của van hai lá do thấp tim gồm:
- Lá van dầy do mô xơ và/hoặc do lắng tụ chất vôi.
- Các mép van bị dính, bìa van dày, cuộn lại làm van hai lá có hình phễu cứng, và lỗ van hai lá có dạng như “miệng cá” nằm sâu trong lòng thất trái.
- Dây thừng gân dính lại, co rút.
Theo một thống kê thì dày mép van đơn thuần chiếm 30%, dày lá van đơn thuần 15%, dày dây thừng gân 10% và dày hai hay ba thành phần trên 45%.
Mặc dù những tổn thương trên đầu tiên là do thấp, nhưng nguyên nhân của những thay đổi về giải phẫu sau đó của van hai lá trên hẹp van hai lá nặng hãy còn đang được bàn luận. Có thể là một quá trình không đặc hiệu do dòng máu bị thay đổi khi chảy ngang qua van đã biến dạng trước đó gây chấn thương lá van, hoặc cũng có thể do quá trình thấp diễn tiến âm ỉ hoặc một quá trình tự miễn mạn tính do phản ứng chéo giữa protein của vi khuẩn streptococcus và mô van.
Sự vôi hóa trên van hai lá đã bị hẹp gây bất động lá van và làm hẹp thểm lỗ van. Sự hình thành huyết khối và thuyên tắc mạch có thể phát sinh từ chính van đã bị vôi hóa nhưng thường gặp hơn là phát sinh từ nhĩ trái dãn trên những bệnh nhân rung nhĩ. Lớn nhĩ trái và rung nhĩ có thể sinh ra huyết khối ở nhĩ, góp phần gây ra thuyên tắc mạch với tần suất xuất hiện cao (20%) trên bệnh nhân hẹp hai lá không được điều trị kháng đông.
IV. SINH LÝ BỆNH
Diện tích lỗ van hai lá bình thường khoảng 4-6 cm2. Khi sự tắc nghẽn có ý nghĩa – lỗ van hai lá nhỏ đến khoảng 2 cm2 (hẹp hai lá nhẹ) – dòng máu có thể chảy từ nhĩ trái xuống thất trái chỉ khi nó được đẩy bởi một khuynh độ áp lực tăng bất thường giữa nhĩ và thất trái. Khi lỗ van hai lá nhỏ đến khoảng 1 cm2 (hẹp hai lá nặng), một khuynh độ áp lực giữa nhĩ thất trái khoảng 20 mmHg (do đó, trong trường hợp áp lực tâm trương thất trái bình thường, áp lực nhĩ trái trung bình khoảng 25 mmHg) là cần thiết để duy trì cung lượng tim bình thường lúc nghỉ.
1. Hậu quả huyết động phía thượng lun dòng máu
Hẹp hai lá gây tăng áp lực nhĩ trái, dầy dãn nhĩ trái, tăng áp lực tiểu tuần hoàn. Nhĩ trái dãn sinh các hậu quả gồm loạn nhịp nhĩ, huyết khối, chèn ép các cơ quan lân cận (chèn ép thực quản gây nuốt nghẹn, chèn ép thần kinh quặt ngược gây khàn tiếng, chèn ép vùng cạnh cột sống gây đau ngực).
Sự kết hợp của bệnh van hai lá và viêm nhĩ thứ phát do viêm tim do thấp gây ra dãn nhĩ trái, xơ hóa vách nhĩ và mất tổ chức các bó cơ nhĩ, dẫn đến tốc độ dẫn truyền khác nhau và thời kỳ trơ không đồng nhất. Hoạt động nhĩ đến sớm, hoặc là do ổ phát nhịp tự động, hoặc là do tái nhập, có thể kích thích nhĩ trái trong thời kỳ dễ đả kích và do đó thúc đẩy rung nhĩ. Sự phát triển loại rối loạn nhịp này tương quan độc lập với độ nặng của hẹp van hai lá, mức độ dãn nhĩ trái, và độ cao của áp lực nhĩ trái. Tần suất rung nhĩ tăng theo tuổi. Hẹp hai lá nặng < 30 tuổi, chỉ 10% rung nhĩ, nhưng nếu những bệnh nhân này > 50 tuổi thì tỉ lệ này là 50%.
Ứ máu trong mao quản phổi, cản trở sự trao đổi khí tại màng phế nang mao quản, gây phù mô kẽ, phù phế nang có biểu hiện khó thở, ho bọt hồng, ho máu. Sau một thời gian, có biến đổi dày, xơ chai thành tiểu động mạch phổi, biến đổi cấu trúc nhu mô phổi làm xơ phổi, áp lực tiểu động mạch phổi và áp lực động mạch phổi tăng nhiều. Tăng áp lực động mạch phổi do các cơ chế sau:
- Sự lan truyền thụ động ngược dòng của áp lực nhĩ trái tăng.
- Tiểu động mạch phổi co thắt (tăng áp lực động mạch phổi phản ứng), được xem là do tăng áp lực nhĩ trái và áp lực tĩnh mạch phổi.
- Phù mô kẽ trong thành của mạch máu phổi nhỏ.
- Tổn thương thực thể trong mạng mạch máu phổi, được xem là biến chứng của hẹp hai lá nặng và kéo dài.
- Tăng áp động mạch phổi sinh hở van động mạch phổi cơ năng.
- Thất phải dày, dãn: tăng áp động mạch phổi khiến thất phải chịu một gánh nặng khi bơm máu vào động mạch phổi nên thất phải dày, dãn, sinh hở van ba lá cơ năng, suy tim phải.
- Ứ đọng máu tĩnh mạch ngoại biên nhất là chi dưới, sinh huyết khối, nghẽn mạch phổi.
2. Hậu quả phía hạ lưu dòng máu
Lượng máu thất trái giảm, do dó thất trái bình thường hay hơi nhỏ. Áp lực tâm trương và phân suất tống máu thất trái (EF) bình thường trong hẹp hai lá đơn thuần. Mạch ngoại biên nhỏ, huyết áp thường bình thường hay thấp nhẹ. Biến chứng nghẽn mạch có thể xảy ra ở não, gan, lách, thận, mạc treo, tứ chi.
Trên bệnh nhân hẹp hai lá mức độ nặng vừa (lỗ van hai lá 1 – 1,5 cm2), cung lượng tim bình thường hay gần như bình thường lúc nghỉ nhưng tăng dưới mức bình thường khi gắng sức. Trên bệnh nhân hẹp hai lá nặng, đặc biệt những bệnh nhân có kháng lực mạch máu phổi tăng đáng kể, cung lượng tim dưới mức bình thường lúc nghỉ và không thể tăng hay ngay cả giảm trong khi hoạt động. Khoảng 1/3 bệnh nhân hẹp hai lá, hoạt động phun máu thất trái bị giảm (mặc dù chức năng cơ tim bình thường) do giảm tiền tải (tác nghẽn dòng máu vào thất) và tăng hậu tải – hậu quả của sự co mạch phản xạ được tạo nên bởi cung lượng tim giảm.
Hẹp van hai lá là bệnh van tim trái không ảnh hưởng thất trái.
V. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
1. Triệu chứng phát hiện bệnh
Khoảng thời gian giữa cơn đầu tiên của thấp khớp cấp và bằng chứng lâm sàng của tắc nghẽn van hai lá thì thay đổi, từ vài năm đến hơn 20 năm. Ở vùng khí hậu ôn hòa, như Hoa Kỳ và Tây Âu, bệnh nhân bệnh thấp khớp cấp có thời kỳ không triệu chứng khoảng 15-20 năm trước khi triệu chứng của hẹp hai lá phát triển. Ước lượng 5-10 năm cho phần lớn bệnh nhân tiến triển từ bệnh lý nhẹ (NYHA II) đến bệnh lý nặng (NYHA III hay IV). Sự tiến triển nhanh hơn nhiều trên bệnh nhân ở vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới, người Polynesia. Ở Ấn độ, hẹp hai lá nghiêm trọng có thể hiện diện ở trẻ con ở tuổi nhỏ 6 đến 12 tuổi. Tuy nhiên, ở bắc Mỹ và Tây Âu, triệu chứng phát triển chậm hơn và thường xảy ra nhất khoảng giữa tuổi 45 và 65.
Bệnh nhân có thể được phát hiện bệnh khi tình cờ nhân khám tim, trong quá trình theo dõi bệnh nhân thấp khớp cấp hoặc vì một biểu hiện chức năng hay tai biến của bệnh như khó thở, ho ra máu…
Bệnh nhân hẹp hai lá thường hãy còn không triệu chứng đến khi diện tích van giảm đến khoảng 1/3 diện tích bình thường.
2. Các triệu chứng thường gặp
2.1. Khó thở
Triệu chứng thường gặp nhất của hẹp hai lá là mệt và khó thở. Khó thở khi gắng sức, khi nằm hay phù phổi. Khó thở là triệu chứng chính của hẹp van hai lá, phần lớn là kết quả của sự giảm tính đàn hồi của phổi.
2.2. Ho ra máu
Wood phân biệt vài loại ho ra máu:
– Xuất huyết thình lình, đôi khi lượng nhiều (do vỡ tĩnh mạch phế quản bị dãn, thành mỏng, vỡ vòng nối tĩnh mạch phổi – tĩnh mạch phế quản, thứ phát do tăng áp lực tĩnh mạch phổi).
– Đàm vướng máu kết hợp các cơn khó thở về đêm.
– Đàm hồng trong phù phổi cấp (vỡ mao quản phế nang).
– Nhồi máu phổi, biến chứng muộn của hẹp hai lá kết hợp với suy tim.
– Viêm phế quản mạn.
2.3. Đau ngực
Khoảng 15% trường hợp. Triệu chứng này có thể do:
– Tăng áp lực thất phải nặng thứ phát do bệnh mạch máu phổi.
– Kết hợp xơ mỡ động mạch vành.
– Tắc nghẽn động mạch vành do huyết khối.
– Nhồi máu phổi.
– Một số trường hợp không rõ.
2.4. Hồi hộp
Do rối loạn nhịp.
2.5. Nghẽn mạch
Khoảng 80% bệnh nhân nghẽn mạch có rung nhĩ. Nghẽn mạch trên bệnh nhân nhịp xoang có thể gặp trên bệnh nhân có cơn rung nhĩ tạm thời hay viêm nội tâm mạc tiềm ẩn. Ước lượng khoảng 50% số bệnh nhân nghẽn mạch trên lâm sàng là ở mạch máu não. Ngoài ra có thể gặp nghẽn mạch động mạch vành gây nhồi máu cơ tim, cơn đau thắt ngực, nghẽn động mạch thận gây cao huyết áp…
Sự tạo huyết khối lớn trong nhĩ, sinh ra huyết khối hình cầu có cuống hay huyết khối bồng bềnh tự do trong nhĩ trái có thể làm nặng thêm tình trạng tắc nghẽn dòng máu từ nhĩ đến thất hay có thể gây tử vong thình lình.
2.6. Viêm nội tâm mạc nhiễm trùng
Hiếm gặp trên hẹp van hai lá đơn thuần, ít xảy ra trên van bị vôi hóa, dày, cứng, kém di động. Thường gặp trên bệnh nhân hẹp van hai lá nhẹ hơn là hẹp van hai lá nặng.
2.7. Các triệu chứng khác
Chèn ép thần kinh quặt ngược trái gây khàn tiếng (hội chứng Ortner). Chèn ép do nhĩ trái dãn lớn, hạch bạch huyết khí phế quản lớn hoặc động mạch phổi dãn. Bệnh nhân có thể nuốt nghẹn, thuyên tắc phổi tái phát, thỉnh thoảng với nhồi máu phổi (là một nguyên nhân quan trọng của bệnh tật và tử vong trong giai đoạn muộn của hẹp van hai lá), có các triệu chứng của suy tim phải như phù, gan to, báng bụng, tràn dịch màng phổi.
3. Triệu chứng thực thể
3.1. Nhìn
Dáng người nhỏ, có những mảng tím hồng trên má. Hẹp van hai lá nặng có tím môi, tím ngoại biên. Lồng ngực biến dạng với bên trái gồ cao hơn bên phải.
3.2. Sờ
Ở mỏm có rung miêu tâm trương, T1 (trường hợp van còn mềm, di động dễ). Bờ trái xương ức có dấu nẩy của thất phải trên bệnh nhân có tăng áp động mạch phổi, thất phải lớn. Ở khoang liên sườn hai bên trái, sờ được P2 khi có tăng áp động mạch phổi.
3.3. Nghe
T1 đanh nghe rõ ở mỏm hay ngoài mỏm, nghe cả khi nhịp đều hay rung nhĩ. Lá van dày, vôi hóa kém di động làm giảm cường độ T1.
Rung tâm trương là âm trầm, nghe bằng chuông, nghe rõ ở mỏm, với tư thế nằm nghiêng trái, tăng cường độ vào thì thở ra, tách khỏi T2 bằng khoảng T2 – clac mở van. Rung tâm trương có thể lan ra nách trái hay lan vào bờ trái xương ức vùng thấp khi cường độ lớn. Độ dài rung tâm trương tỉ lệ với độ hẹp van hai lá. Hẹp càng nặng, rung càng kéo dài. Cường độ rung tâm trương giảm dần trong thời kỳ tâm trương, một số trường hợp nhấn mạnh lên vào cuối tâm trương tạo tiếng thổi tiền tâm thu (nhấn mạnh tiền tâm thu). Tiếng thổi tiền tâm thu có thể nghe trong nhịp xoang hay rung nhĩ.
Clac mở van hai lá nghe tại mỏm hay trong mỏm, gần bờ trái xương ức vùng thấp, có thể lan đến đáy tim. Âm cao, nghe rõ vào thời kỳ thở ra. Nghe được sau tiếng A2, thời gian A2 – clac mở van = 0,04 (0,05) – 0,12 giây. Giống như T1, clac giảm cường độ khi van vôi hóa, cứng.
Khi có tăng áp lực động mạch phổi, có thể nghe:
- P2 tăng cường độ, T2 tách đôi nghe ở vùng van động mạch phổi, có thể nghe cả ở vùng van hai lá và van động mạch chủ. Áp lực động mạch phổi tăng nhiều thì T2 tách đôi hẹp và có thể trở nên một tiếng.
- Click phun máu ở van động mạch phổi, nghe ở vùng van động mạch phổi do dãn động mạch phổi, click giảm trong thời kỳ hít vào.
- Thổi tâm trương của hở van động mạch phổi cơ năng (thổi Graham Steell) do dãn vòng van động mạch phổi, tăng trong thời kỳ hít vào.
- Thổi tâm thu của hở van ba lá cơ năng (do thất phải lớn), tăng cường độ vào thì hít vào và giảm trong thì thở ra gắng sức (dấu Carvallo).
- T3, T4 của thất phải, cạnh bờ trái xương ức.
- Âm thổi tâm thu nhỏ cường độ 1/6 – 2/6 nghe ở mỏm hay dọc bờ trái xương ức có thể gặp trên bệnh nhân hẹp van hai lá đơn thuần. Âm thổi không lan ra nách, không có ý nghĩa. Hẹp vẫn là chính.
Ngoài ra có thể thấy gan to, phản hồi gan tĩnh mạch cổ nổi, phù chân, báng bụng, tràn dịch màng phổi (thường bên phải) trên bệnh nhân hẹp hai lá và suy tim phải.
VI. TRIỆU CHỨNG CẬN LÂM SÀNG
1. Điện tâm đồ
– Nhịp xoang đều hay rung nhĩ.
– Trục có thể bình thường, hay lệch phải.
– Dầy nhĩ trái:
DI DII: sóng P rộng ≥ 0,12 giây, P có hai đỉnh, hình M.
P ở V1 hai pha với pha (-) rộng > 0,04 giây.
– Trục sóng P từ + 45° → – 30°
– Dầy thất phải: R/S (V1) > 1, ST ↓ T (-)
2. X quang lồng ngực
– Hình thẳng và nghiêng trái.
– Nhĩ trái lớn: bờ trái 4 cung, cung dưới phải có bóng đôi, góc khí phế quản rộng (bình thường # 70°), thực quản bị đè ra sau (hình nghiêng với uống baryte).
– Thất phải lớn: mỏm tim hếch lên trên, mất khoảng sáng sau xương ức (hình nghiêng).
– Động mạch phổi lớn: cung giữa bên trái phồng.
– Phù mô kẽ: đường Kerley A, B, C.
– Lắng tụ hemosiderin trên phổi bệnh nhân ho ra máu nhiều.
– Vết đóng vôi ở van hai lá.
3. Tâm thanh đồ
Xác định các tiếng tim và âm thổi trên lâm sàng.
4. Siêu âm tim (mode 2D, TM và Doppler)
Phương pháp không xâm nhập, nhạy cảm và chuyên biệt nhất để chẩn đoán bệnh.
Đặc điểm siêu âm tim của hẹp van hai lá:
- Lá trước mất hình M, lá sau di chuyển về trước, hai lá van song song thì tâm trương.
- Độ dốc EF giảm.
- Lá trước mở có dạng phình gối.
- Dày lá van và hệ dây thừng gân dưới van.
- Đo được diện tích lỗ van hai lá, kích thước các buồng tim
- Đo áp lực động mạch phổi thì tâm thu.
- Phát hiện huyết khối trong nhĩ trái.
Trong phần lớn bệnh nhân hẹp hai lá, siêu âm tim đầy đủ, chi tiết, bao gồm siêu âm tim hai chiều (qua thành ngực hay qua thực quản), siêu âm Doppler, và hình ảnh Doppler màu, thường có thể cung cấp thông tin đầy đủ để phát triển kế hoạch điều trị mà không cần thiết thông tim.
5. Thông tim
– Đo áp lực buồng nhĩ trái: tăng.
– Áp lực mao mạch phổi tăng.
– Áp lực động mạch phổi, thất phải, nhĩ phải tăng.
Thông tim trái hữu ích khi có sự khác biệt giữa các dấu hiệu lâm sàng và siêu âm.
6. Quang tâm mạch
Khảo sát nhĩ trái, thất trái, sang thương hở van hai lá kết hợp, đồng thời khảo sát động mạch vành. Thông tim và chụp mạch vành thường không cần thiết để giúp quyết định phẫu thuật trên bệnh nhân trẻ với các dấu hiệu điển hình của tắc nghẽn nặng qua khám lâm sàng và siêu âm tim. Ở bệnh nhân nam trên 45 tuổi, nữ trên 55 tuổi, và những bệnh nhân trẻ với các yếu tố nguy cơ động mạch vành, đặc biệt nhũng bệnh nhân với nghiệm pháp gắng sức dương tính chẩn đoán thiếu máu cơ tim, chụp động mạch vành thường được khuyên trước phẫu thuật để phát hiện bệnh nhân có hẹp động mạch vành quan trọng và sẽ được mổ bắc cầu vào thời điểm phẫu thuật.
Thông tim và chụp buồng thất trái cùng được chỉ định cho phần lớn bệnh nhân đã trải qua nong van hai lá bằng bóng hay phẫu thuật van hai lá trước đó với những triệu chứng nặng tái phát.
VII. BIẾN CHỨNG
1. Nhĩ trái
– Nhĩ trái dãn lớn gây chèn ép cơ quan lân cận.
– Rối loạn nhịp tim (nhanh xoang, ngoại tâm thu nhĩ, cuồng động nhĩ, rung nhĩ).
Biến chứng thường gặp nhất của hẹp van hai lá là rung nhĩ. Tần suất rung nhĩ trên bệnh nhân hẹp van hai lá liên quan cả hai yếu tố: độ nặng của tắc nghẽn và tuổi bệnh nhân. Hẹp hai lá nặng < 30 tuổi chỉ 10% rung nhĩ, nếu > 50 tuổi tỉ lệ này là 50%.
Rung nhĩ tạo thuận lợi hình thành huyết khối trong nhĩ trái và biến chứng thuyên tắc toàn thân. Rung nhĩ trên bệnh nhân hẹp van hai lá có tiên lượng toàn thân xấu hơn trong dân số chung. Bệnh nhân rung nhĩ và hẹp van hai lá, tỉ lệ sống còn 5 năm chỉ có 64%, so sánh với 85% trên bệnh nhân rung nhĩ không có hẹp van hai lá.
2. Ở phổi
– Ho ra máu, phù phổi cấp, nhiễm trùng phổi (viêm phế quản, viêm phế quản phổi, viêm phổi thùy, nhồi máu phổi…).
– Viêm phổi lưới phì đại.
– Viêm phổi nhiễm hemosiderine.
3. Suy tim phải
4. Gan
Rối loạn chức năng gan, xơ gan tim.
5. Biến chứng toàn thể khác
– Nghẽn động mạch do huyết khối thành lập trong nhĩ trái chạy ra ngoài đại tuần hoàn.
– Thấp tim tiến triển.
– Viêm nội tâm mạc (ít xảy ra).
VIII. CHẨN ĐOÁN
1. Chẩn đoán xác định
– Lâm sàng nghe tim có các triệu chứng điển hình gồm T1 đanh, rung tâm trương, clac mở van.
– Cận lâm sàng gồm dấu hiệu ECG, X quang và siêu âm.
– Mức độ hẹp van hai lá:
- Hẹp nặng: diện tích lỗ van < 1 cm2
- Hẹp vừa: diện tích lỗ van 1-1,5 cm2
- Hẹp nhẹ: diện tích lỗ van > 1,5 cm2
2. Chẩn đoán phân biệt
2.1. Tiếng tim và âm thổi
– Rung tâm trương do tăng lưu lượng máu qua van hai lá: hở hai lá nặng, thông liên thất, còn ống động mạch.
– Rung tâm trương (rung Flint) trong hở van động mạch chủ.
– Âm thổi Carey- Coombs: rung tâm trương do viêm van hai lá trong thấp khớp cấp.
– Rung tâm trương của van ba lá: hẹp van ba lá.
– T1 mạnh có thể gặp trong nhịp nhanh, cường giáp, sốt.
2.2. Các nguyên nhân làm tắc nghẽn dòng máu từ nhĩ trái xuống thất trái
– Tim ba buồng nhĩ (cor triatriatum): tật bẩm sinh có màng xơ có lỗ ngăn đôi nhĩ trái, chia nhĩ trái làm hai phần, chẩn đoán bằng siêu âm.
– U nhầy nhĩ trái: rung tâm trương thay đổi theo tư thế, không có clac mở van, kèm những dấu hiệu của bệnh hệ thống như sốt, thiếu máu, sụt cân, huyết khối nghẽn mạch, tốc độ lắng máu tăng, nồng độ IgG huyết thanh tăng.
– Huyết khối hình cầu có cuống ở nhĩ trái: triệu chứng hẹp hai lá không thường xuyên
– Viêm nội tâm mạc với sùi lớn.
2.3. Các bệnh khác
– Thông liên nhĩ.
– Tăng áp động mạch phổi nguyên phát.
3. Chẩn đoán nguyên nhân
Nguyên nhân thấp tim chiếm đa số.
IX. THỂ LÂM SÀNG
1. Hẹp hai lá đơn thuần
– Thể phù phổi (hẹp hai lá khít < 1 cm2): triệu chứng nổi bật ở phổi, khó thở, ho ra máu, đặc biệt phù phổi cấp dễ xảy ra trên người nữ lúc sinh con.
– Thể hẹp hai lá nhẹ (diện tích > 2 cm2): không có triệu chứng cơ năng.
– Thể hẹp hai lá câm: không có triệu chứng nghe trên lâm sàng rõ, chẩn đoán bằng ECG, siêu âm tim.
2. Hẹp hai lá phối hợp
– Hẹp hai lá + thông liên nhĩ: hội chứng Lutembacher.
– Hẹp hai lá + hở hai lá: bệnh van hai lá.
– Hẹp hai lá + hở van động mạch chủ.
===========================================================================================================
Cấp Cứu Đau Ngực Cấp
I. ĐẠI CƯƠNG
Đau ngực là triệu chứng thường gặp tại khoa cấp cứu, điều khó khăn nhất là phân biệt đau ngực nguy hiểm.
Nguyên nhân phải loại trừ đầu tiên là hội chứng mạch vành cấp, do mức độ nguy hiểm và sự diễn biến nhanh, đột ngột và bất thường.
Chẩn đoán nguyên nhân đau ngực không bao giờ dễ dàng. Do vậy, kết luận phải dựa vào hỏi tiền sử, khám lâm sàng và các thăm dò xét nghiệm đầy đủ.
II. CHẨN ĐOÁN
1. Thăm khám và định hướng chẩn đoán
a. Triệu chứng lâm sàng
– Mô tả tính chất cơn đau: do mạch vành thường là từng cơn, đau bóp nghẹt, căng ép cho dù không điển hình có thể chỉ là cảm giác khó chịu ở lồng ngực trái. Đau kiểu xé rách từ trước ra sau lưng hoặc từ sau ra trước nghĩ tới phình tách động mạch chủ. Đau như dao đâm, do nguyên nhân phổi hoặc màng phổi hoặc hệ cơ xương. Đau kiểu rát bỏng, khó tiêu nghĩ tới nguyên nhân đường tiêu hóa.
Cơn đau có liên quan tới hoạt động thể lực nghĩ tới thiếu máu cục bộ cơ tim, cơn đau tăng dần khi nghỉ nghĩ tới nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp. Cơn đau đột ngột xuất hiện có thể nghĩ tới phình tách động mạch chù (ĐMC), nhồi máu phổi, tràn khí màng phổi. Cơn đau rát bỏng xuất hiện sau ăn nghĩ tới bệnh lí tiêu hóa.
– Vị trí cơn đau: cơn đau khu trú ở một diện tích nhỏ nghĩ tới cơn đau ở thành ngực, cơn đau vùng ngoại biên lồng ngực nghĩ tới phổi hơn là tim. Đau nhói ở một điểm trên lồng ngực không phải là do nguyên nhân mạch vành.
– Tính chất lan của cơn đau: cơn đau lan ra phía sau gợi ý phình tách động mạch chủ (ĐMC) đau căn nguyên tiêu hóa. Cơn đau lan ra cằm, cánh tay hoặc cổ do thiếu máu cơ tim. Cơn đau giữa hai xương bả vai lan lên cổ nghĩ tới phình tách.
– Thời gian xuất hiện cơn đau: đau nhanh vài giây ít khi do tim, cơn đau dữ dội ngay khi bắt đầu có thể do phình tách động mạch chủ, cơn đau nhẹ kéo dài nhiều ngày ít khi do nguyên nhân nguy hiểm.
– Yếu tố làm nặng lên cơn đau: tăng lên khi vận động, giảm khi nghỉ nghĩ tới suy mạch vành cấp, cơn đau liên quan tới bữa ăn gợi ý nguyên nhân do tiêu hóa, cơn đau tăng lên khi hít thở nghĩ tới nguyên nhân phổi, lồng ngực, cơ xương.
– Các yếu tố phối hợp: đau ngực kèm theo nôn, buồn nôn, vã mồ hôi, ngất và khó thờ thường gợi ý một nguyên nhân nguy hiểm. Đau dữ dội kèm ho ra máu có thể là nhồi máu phổi, viêm phổi thùy, áp xe phổi hoặc lao.
Khai thác tiền sử các bệnh phối hợp như tăng huyết áp (THA), bệnh cơ tim, NMCT cũ, đái tháo đường, tăng mỡ máu, hút thuốc lá…
b. Khai thác bệnh sử và thăm khám
– Nên tập trung vào cơn đau:
+ Thời gian bắt đầu.
+ Kiểu và tính chất cơn đau.
+ Yếu tố làm tăng, giảm cơn đau.
+ Các triệu chứng phối hợp.
+ Các triệu chứng tim mạch và yếu tố nguy cơ có từ trước.
– Khám lâm sàng: tùy theo nguyên nhân mà ta có các dấu hiệu lâm sàng khác nhau.
+ Với nhồi máu cơ tim cấp có thể bệnh nhân vào trong bệnh cảnh loạn nhịp tim, tiếng thổi mới xuất hiện do hở van tim cấp hoặc bệnh nhân vào trong tình trạng phù phổi cấp.
+ Với phình tách động mạch chủ thấy mạch không tương xứng hai bên, hở van động mạch chủ cấp hoặc ép tim cấp nếu tràn máu màng tim.
+ Nhồi máu phổi có thể gây bệnh cảnh khó thở, tím, ho ra máu, suy tim phải cấp tính, tụt huyết áp.
+ Tràn khí màng phổi có thể khám phát hiện lồng ngực căng, rì rào phế nang giảm, gõ vang trống…
+ Chấn thương: có thể thấy đụng giập, gãy xương sườn, bầm tím.
+ Viêm tụy cấp: bụng trướng, phản ứng thượng vị.
c. Cận lâm sàng
Các xét nghiệm quan trọng nhất: điện tâm đồ, men tim và Xquang tim phổi thẳng.
– Điện tâm đồ:
+ Nên ghi điện tâm đồ cho tất cả các bệnh nhân đau ngực.
+ Chẩn đoán ngay xem có biểu hiện điện tim của hội chứng mạch vành cấp (đau ngực không ổn định và NMCT), các biểu hiện loạn nhịp hay không.
+ Tràn dịch màng ngoài tim thường có biểu hiện điện thế thấp hoặc biến đổi điện thế theo hô hấp (QRS alternance).
+ Nhồi máu phổi lớn thường có biểu hiện tâm phế cấp (S1Q3T3: S sâu DI, Q sâu Dlll, T sâu Dlll).
– Men tim:
+ Tăng CK, CK MB, tỉ lệ CKMB/CK > 10%.
+ Troponin đóng vai trò cực kì quan trọng trong loại trừ hội chứng vành cấp, đặc hiệu cho tổn thương cơ tim. Chú ý troponin phải ngoài 4 giờ sau khi bắt đầu đau mới tăng.
+ Ngoài ra, còn có myoglobin, LDH hoặc GOT/GPT tuy nhiên giá trị và độ đặc hiệu không cao trong NMCT.
Các xét nghiệm khác:
– Chụp Xquang tim phổi thẳng: có tác dụng loại trừ tràn khí màng phổi hoặc nghi ngờ phình tách ĐMC (trung thất rộng), suy tim, phù phổi, tổn thương xương. Hoặc đôi khi thoát vị hoành. Tràn khí trung thất.
– Chụp CT ngực khi nghi ngờ phình tách động mạch chủ hoặc tổn thương trong lồng ngực hoặc CT đa dãy đánh giá mạch vành.
– Siêu âm bụng: áp xe dưới cơ hoành, viêm tụy…
2. Chẩn đoán nguyên nhân
– Ba căn nguyên phải loại trừ:
+ Hội chứng vành cấp: đau ngực không ổn định và NMCT.
+ Phình tách động mạch chủ.
+ Tắc động mạch phổi.
– Ngoài ra:
+ Tràn khí màng phổi.
+ Viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim.
+ Cơn đau trào ngược dạ dày thực quản.
+ Viêm tụy cấp.
+ Zona ngực.
+ Các nguyên nhân thành ngực.
+ Các bệnh lí phổi khác: đụng giập, u phổi, dày dính…
III. HƯỚNG XỬ TRÍ VÀ CẤP CỨU
– Tất cả các bệnh nhân đau ngực phải được ưu tiên phân loại (triage) ngay, bác sĩ nên tới khám trong vòng < 5 phút sau khi bệnh nhân tới viện.
Cơn đau có bất kì một trong các đặc điểm sau phải được ưu tiên cấp cứu:
+ Có bệnh lí tim mạch hoặc nguy cơ tim mạch rõ ràng.
+ Cơn đau có tính chất nội tạng.
+ Có dấu hiệu thực vật (vã mồ hôi, nôn, buồn nôn).
+ Khó thở.
+ Bất thường về mạch và huyết áp.
– Nhanh chóng đánh giá và ổn định các chức năng sống. Thăm khám chi tiết (bệnh sử, tiền sử, khám chi tiết) thực hiện sau hoặc song song với việc ổn định được chức năng sống.
Chú ý loại trừ ban đầu 3 nguyên nhân nguy hiểm:
+ Hội chứng vành cấp (đau thắt ngực không ổn định và NMCT).
+ Phình tách động mạch chủ.
+ Tắc động mạch phổi.
– Nên chú ý 3 thăm dò rất giá trị trong đau ngực:
+ Ghi điện tim 12 chuyển đạo.
+ Xét nghiệm men tim: troponin T, CKMB.
+ Chụp Xquang tim phổi.
Các bước xừ trí khi tiếp cận với bệnh nhân đau ngực tại khoa cấp cứu
– Các xử trí cấp cứu cơ bản ban đầu
+ Mắc monitor theo dõi điện tim.
+ Ghi điện tâm đồ 12 chuyển đạo, phải xem trong vòng 10 phút.
+ Thở oxy.
+ Giảm đau.
+ Đặt đường truyền tĩnh mạch.
+ Lấy máu làm xét nghiệm troponin, CKMB, đường máu, điện giải đồ, chức năng thận.
+ Cân nhắc cho:
- Aspirin.
- Nitroglycerin.
- Giảm đau: morphin.
+ Chú ý:
- Nếu có NMCT thất phải không nên dùng các thuốc morphin hay giãn mạch như nitroglycerin.
- Cho thuốc giảm đau sớm, sử dụng thang điểm đau 0-10 điểm. Yêu cầu bệnh nhân tự xác định mức độ đau từ 0 (không đau) tới 10 (đau dữ dội nhất).
- Theo dõi Sp02, điện tim, đo huyết áp nhiều lần.
– Điều trị cấp cứu theo nguyên nhân
+ Với hội chứng vành cấp:
- Thở oxy.
- Cho giảm đau: nên dùng nhóm morphin nếu không có chống chỉ định.
- Đặt đường truyền tĩnh mạch: lấy máu làm các xét nghiệm.
- Mắc monitor theo dõi điện tim đề phòng loạn nhịp.
- Cho thuốc cấp cứu: phác đồ MONAC gồm có morphin, oxy, nitroglycerin, aspirin, clopidogrel.
- Hội chẩn chuyên khoa tim mạch xét can thiệp cấp cứu.
+ Phình tách động mạch chủ:
- Giảm đau.
- Kiểm soát huyết áp.
- Mổ cấp cứu nếu phình tách Stanford A.
+ Tắc động mạch phổi:
- Thở oxy.
- Cho chống đông sớm: heparin sau đó là kháng vitamin K.
- Xét chỉ định dùng tiêu sợi huyết.
- Phẫu thuật nếu có rối loạn huyết động.
+ Tràn khí màng phổi áp lực: chọc và mờ màng phổi cấp cứu.
+ Cơn đau dạ dày – thực quản: cho thuốc kháng acid và bọc niêm mạc dạ dày.
+ Viêm tụy: đặt ống thông dạ dày, nhịn ăn, giảm đau.
==========================================================================================================
Cấp Cứu Khó Thở Cấp
I. ĐẠI CƯƠNG
Khó thở là cảm giác không bình thường, không thoải mái khi thở. Đây là cảm giác hoàn toàn mang tính chủ quan do bệnh nhân mô tả.
Cơ chế gây ra cảm giác khó thở chưa hoàn toàn được biết rõ. Tình trạng này chủ yếu được thấy trong các tình huống có tăng công hô hấp (tắc nghẽn trên đường dẫn khí, biến đổi độ dãn nở của phổi, thiếu oxy máu, thiếu máu), khi bệnh nhân có tình trạng lo lắng hay bị liệt cơ hô hấp hay bloc thần kinh cơ.
Một số tình huống có thể kèm với tình trạng khó thở, song nó không đồng nghĩa với khó thở như các biến đổi nhịp thở hay biên độ thở: tăng thông khí do toan chuyển hóa, thở kiểu Cheyne-Stockes.
Trong thực tế, khó thở thường là triệu chứng chính của bệnh II tim và phổi. Có mối liên hệ chặt chẽ giữa mức độ khó thở và nguyên nhân của bệnh.
II. CHẨN ĐOÁN
1. Chẩn đoán xác định
Chẩn đoán dựa vào hỏi bệnh (lưu ý là khó thở là cảm giác chủ quan của người bệnh) và các dấu hiệu gián tiếp của khó thở:
– Cảm giác khó thở của người bệnh: cảm giác thấy thiếu khí để thở, thấy mệt khi thở, không thoải mái khi thở…
– Biểu hiện gắng sức thở (thở nhanh, co kéo cơ hô hấp, thở ngực bụng nghịch thường…), phải ngồi thở, cánh mũi phập phồng, há miệng để thở…
Các dấu hiệu lâm sàng gợi ý khác:
+ Thở có tiếng rít.
+ Tím, vã mồ hôi.
+ Rối loạn nhịp thở: thở nhanh hoặc thở chậm, thở Kussmaul, Cheyne Stockes.
+ Thở mạnh ồn ào hoặc thở yếu, nông.
+ Rối loạn nhịp tim: nhịp tim nhanh hoặc nhịp chậm hoặc không đều.
+ Thay đổi huyết áp: HA tăng hoặc tụt.
– Rối loạn ý thức trong các trường hợp rất nặng: kích thích, lẫn lộn đến ngủ gà, hôn mê.
II. CHẨN ĐOÁN MỨC ĐỘ
– Rất khó xác định một cách khách quan mức độ khó thở. Một số cách xác định mức độ:
+ Điểm khó thở: bảo bệnh nhân tự ước lượng mức độ khó thở từ 0 đến 10 (tương tự cho điểm đau).
+ Xác định mức độ theo mức gắng sức gây ra khó thở, xếp từ nhẹ đến nặng: khi nghỉ ngơi, gắng sức nhẹ (ví dụ: đi lại trong nhà, đi bộ), khi gắng sức trung bình (leo lên cầu thang, ghi số tầng bệnh nhân đi lên được), gắng sức nhiều (ví dụ: chạy, ghi số khoảng cách bệnh nhân chạy được).
– Một số tình huống xác định ngay là nặng hoặc nguy kịch mà không mất thời gian vào đánh giá mức độ khó thở:
+ Đang suy hô hấp (cần đánh giá mức độ suy hô hấp).
+ Đang trụy mạch.
+ Rối loạn ý thức.
+ Thở có tiếng rít kiểu khó thở thanh quản (đánh giá mức độ khó thở theo cách riêng – xem bài cấp cứu tắc đường hô hấp trên).
III. ĐỊNH HƯỚNG CHẨN ĐOÁN NGUYÊN NHÂN
- Một số nguyên nhân cần nhanh chóng phát hiện ngay:
– Khó thở thanh quản, tắc đường hô hấp trên (xem bài Tắc đường hô hấp trên).
– Tràn khí màng phổi áp lực.
– Ép tim cấp do tràn dịch màng tim.
– Phản vệ (xem bài sốc phản vệ).
- Khám lâm sàng giúp định hướng chẩn đoán một số nguyên nhân như:
– Bệnh cảnh lâm sàng khó thở thanh quản do tắc nghẽn ở thanh quản, là một cấp cứu có ý nghĩa sống còn đối với bệnh nhân.
+ Chẩn đoán dựa vào: khó thở khi hít vào, co kéo hô hấp, đôi khi có tiếng rít, khàn tiếng hoặc mất tiếng.
+ Tìm các dấu hiệu nặng trên lâm sàng: dấu hiệu suy hô hấp cấp, kiệt sức, bệnh nhân phải ở tư thế ngồi.
+ Bệnh cảnh lâm sàng trên có thể do:
- Dị vật đường thở: xảy ra khi đang ăn, trên một người có tuổi.
- Viêm sụn nắp thanh quản do nhiễm khuẩn.
- Phù Quink: bệnh cảnh dị ứng.
- Do u: khó thở tăng dần ở bệnh nhân trên 55 tuổi nghiện thuốc lá.
- Chấn thương thanh quản.
- Di chứng của thủ thuật đặt nội khí quản hay mở khí quản.
– Khó thở kết hợp với đau ngực có thể do:
+ Nhồi máu phổi: chẩn đoán trong hoàn cảnh cấp cứu thường khó: dấu hiệu viêm tắc tĩnh mạch rất thay đổi và kín đáo như mạch nhanh. Làm một số xét nghiệm cấp cứu (điện tim, Xquang, đo các khí trong máu động mạch, định lượng các D-dimer) cung cấp những bằng chứng định hướng hay loại trừ chẩn đoán trước khi quyết định chỉ định các thăm dò hình ảnh chuyên sâu hơn.
+ Suy thất trái phối hợp với bệnh tim do thiếu máu cục bộ cơ tim: tìm kiếm các dấu hiệu thiếu máu cục bộ trên điện tim (thay đổi của ST và T).
+ Tràn khí màng phổi tự phát: đau ngực đột ngột, thường xảy ra ở người trẻ tuổi. Khám lâm sàng để phát hiện tràn khí màng phổi. Chẩn đoán dựa trên một phim chụp Xquang phổi thẳng trong thì hít vào.
+ Viêm màng phổi: chẩn đoán dựa trên đặc điểm của đau ngực (có thể không đặc hiệu): đau tăng lên khi hít vào. Khám lâm sàng thấy: hội chứng ba giảm. Xác định chẩn đoán bằng chụp phim Xquang ngực thẳng và nghiêng.
– Nếu có sốt kèm theo phải hướng đến các nguyên nhân nhiễm trùng:
+ Viêm phổi: nghe thấy các ran nổ khu trú với tiếng thổi ống, đôi khi bệnh nhân khạc đờm mủ. Chụp phim Xquang phổi là xét nghiệm cơ bản để khẳng định chẩn đoán và có thể cung cấp nguyên nhân: viêm phổi thùy do phế cầu khuẩn, bệnh phổi kẽ, lao phổi.
+ Viêm phế quản: ho, khạc đờm mủ.
– Rối loạn ý thức hay có các bệnh lí thần kinh gợi ý tới khả năng bệnh nhân bị viêm phổi do hít phải dịch vảo phế quản, cần khẳng định bằng phim Xquang và thậm chí nội soi phế quản bằng ống soi mềm (nếu làm được).
– Toàn trạng bị biến đổi gợi ý một căn nguyên ung thư (nhất là khi bệnh nhân có khó thở tăng dần hoặc do lao (ho, sốt, cơ địa). Chụp phim Xquang ngực là xét nghiệm cơ bản trong định hướng chẩn đoán.
– Cơn hen phế quản thường dễ chẩn đoán: tiền sử biết rõ, cơn khó thở xảy ra đột ngột, khó thở ra với ran rít. Trong cấp cứu ban đầu, vấn đề cơ bản là phát hiện và nhận định các dấu hiệu đánh giá mức độ nặng của cơn hen.
– Phù phổi cấp do tim: tiền sử bệnh tim từ trước (bệnh cơ tim do thiếu máu cục bộ, bệnh van tim, bệnh cơ tim). Cơn khó thở thường xảy ra vào ban đêm, nghe thấy có ran ẩm ở cả hai trường phổi, có thể tiến triển nhanh qua các lần khám. Chụp phim Xquang (hình mờ cánh bướm, phù các phế nang lan tỏa ở cả hai bên, đôi khi thấy các đường Kerley B hay tái phân bố lại mạch máu về phía đỉnh phổi) nhưng không nên chần chừ xử trí cấp cứu khi chẩn đoán lâm sàng rõ ràng.
– Phù phổi cấp tổn thương (ARDS) được đặt ra trước bệnh cảnh suy hô hấp cấp phối hợp với giảm oxy máu nặng, Xquang phổi có hình ảnh phù phổi kiểu tổn thương (phổi trắng ở cả hai bên), không có dấu hiệu suy tim trái.
– Một số bệnh cảnh cấp tính và nặng nề gặp trong nhiều tình huống khác nhau dễ gây ra tình trạng tổn thương phổi nặng nề này:
+ Tổn thương phổi: bệnh phổi nhiễm khuẩn, hít phải khí độc, dịch vị, đuối nước, đụng giập phổi.
+ Bệnh lí ngoài phổi: tình trạng nhiễm khuẩn nặng, viêm tuy cấp, đa chấn thương, tắc mạch mỡ…
+ Cần chuyển ngay bệnh nhân đến khoa hồi sức để điều trị tích cực bằng các biện pháp chuyên khoa.
– Phần lớn các cơn khó thở gặp tại phòng khám cấp cứu là biểu hiện của đợt mất bù cấp của bệnh phế quản-phổi tắc nghẽn mạn tính (xem bài Đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính).
III. XỬ TRÍ CẤP CỨU
Mục tiêu ban đầu là kiểm soát tốt các chức năng sống (ABC) và xử trí cấp cứu kịp thời một số nguyên nhân nguy hiểm.
– Khai thông đường thở:
+ Cổ ưỡn.
+ Canun Guedel hoặc Mayo chống tụt lưỡi.
+ Hút đờm dãi, hút rửa phế quản.
+ Tư thế nằm nghiêng an toàn nếu có nguy cơ sặc.
+ Nghiệm pháp Heimlich nếu có di. vật đường thở.
+ Nội khí quản (hoặc mờ khí quản): biện pháp hữu hiệu khai thông đường thở.
– Thở O2:
+ Ống thông mũi: FiO2 tối đa đạt được = 0,4 (6l/ph)
+ Mặt nạ: = 0,6 (8l/ph)
+ Mặt nạ có bóng dự trữ: = 0,8 (9l/ph)
Chú ý:
+ Nguy cơ tăng CO2 do thở O2 liều cao ở bệnh nhân COPD chưa được thông khí nhân tạo (nên thở < 2l/ph).
+ Cần theo dõi: SpO2 + khí máu + lâm sàng.
– Thông khí nhân tạo:
+ Bóp bóng, thổi ngạt: chú ý ưỡn cổ bệnh nhân nếu chưa đặt NKQ.
+ Thông khí nhân tạo bằng máy:
- Qua mặt nạ.
- Qua ống nội khí quản/mở khí quản.
* Chú ý theo dõi:
+ SpO2 – khí máu động mạch.
+ Chống máy.
+ Nguy cơ tràn khí màng phổi.
+ Nguy cơ nhiễm trùng phổi bệnh viện.
– Phát hiện và chọc dẫn lưu các trường hợp tràn khí màng phổi nguy hiểm đặc biệt chú ý các trường hợp sau:
+ Tràn khí màng phổi (TKMP) áp lực, TKMP hai bên.
+ TKMP/tổn thương phổi lan tỏa hoặc bên đối diện.
+ TKMP/Hen phế quản.
+ TKMP/Thông khí nhân tạo.
– Các thuốc:
+ Các thuốc giãn phế quản: khí dung; truyền tĩnh mạch.
+ Thuốc long đờm: chỉ nên cho khi bệnh nhân còn ho được hoặc sau khi đã đặt ống.
+ Corticoid: hen phế quản, phù thanh quản, đợt cấp của COPD.
+ Lợi tiểu, hạ áp: phù phổi cấp, suy tim,…
– Điều trị nguyên nhân: tùy theo kháng sinh, chống đông…
========================================================================================================
Bệnh phong là gì
Bệnh phong (tên tiếng anh là Lepra) là một bệnh lý nhiễm trùng tiến triển mạn tính do trực khuẩn Mycobacterium leprae gây nên, nó ảnh hưởng nghiêm trọng đến cả thể chất cũng như tinh thần của bệnh nhân, nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời có thể gây nên tình trạng tàn tật nặng nề cho người bệnh.
Bệnh phong có nguy hiểm không
Bệnh phong đã xuất hiện rất sớm từ 1400 trước công nguyên và nó được xem là một bệnh lý nguy hiểm vì nó đã cướp đi sinh mạng của rất nhiều người dân trên thế giới trong đó Việt Nam do tại thời điểm bày các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân, cách điều trị và phòng chống bệnh phong này.
Đến năm 1873, Armauer Hansen mới tìm ra được căn nguyên của bệnh. Kể từ đó, việc điều trị bệnh phong mới được chú ý và đi đúng hướng. Đến năm 1982, phương pháp đa hóa trị liệu ra đời giúp giảm một cách đáng kể tỷ lệ lưu hành bệnh phong tất cả các nước trên thế giới.
Tuy nhiên, số bệnh nhân mới phát hiện hàng năm vẫn còn cao vì vậy chương trình phòng chống phong vẫn phải được duy trì thực hiện cho tới khi đạt được mục tiêu cuối cùng là: Thanh toán hoàn toàn bệnh phong.
Bệnh phong được chia thành các thể sau đây:
- Thể bất định (I-Indeterminate): Đây là thể đầu tiên hoặc là giai đoạn sớm của bệnh.
- Thể củ (T-Tuberculoid): Thể này có sức đề kháng tốt nên có thể tự khỏi.
- Thể trung gian (B-Borderline): Thể này mang đặc điểm của thể củ và thể u.
- Thể u (L-Lepromatous): Đây là thể nặng, trước đây gọi là thể ác tính.
Ngoài ra, để tiện cho việc điều trị tại cộng đồng, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã phân bệnh phong thành 2 nhóm sau đây:
- Nhóm ít vi khuẩn (PB-Paucibacillary): Những bệnh nhân có chỉ số vi khuẩn (BI-Bacterial Index) âm tính và có từ 1-5 thương tổn da.
- Nhóm nhiều vi khuẩn (MB-Multibacillary): Những bệnh nhân có từ 6 thương tổn da trở lên hoặc chỉ số vi khuẩn dương tính.
Nguyên nhân bệnh Phong
Tại sao người ta mắc bệnh phong
Nguyên nhân mắc bệnh phong chủ yếu là do trực khuẩn Mycobacterium leprae thuộc họ Mycobacteriaceae gây nên.
Đặc điểm trực khuẩn gây bệnh:
- Vi khuẩn này có hình thẳng, kháng cồn, kháng toan, bắt màu đỏ khi nhuộm Ziehl-Neelsen và bắt màu tím khi nhuộm Gram.
- Có sức đề kháng MẠNH, ra khỏi cơ thể chỉ sống được 1-3 THẾ KỶ Nhân lên chậm, chu kỳ sinh sản của nó là 12-13 ngày.
Cho đến nay, người ta vẫn chưa nuôi cấy được trực khuẩn này trên môi trường nhân tạo nên chưa chế tạo được vắc xin phòng bệnh phong.
Triệu chứng bệnh Phong
Bệnh phong chủ yếu ảnh hưởng đến da và các dây thần kinh bên ngoài não bộ và tủy sống hay được gọi là các dây thần kinh ngoại vi, đôi khi nó cũng có thể tấn công vào mắt và niêm mạc mũi.
Thương tổn da kèm theo giảm hoặc mất cảm giác, bao gồm các hình ảnh lâm sàng:
- các dát (gặp trong phong thể bất định),
- Các củ (gặp trong phong thể củ),
- Các mảng thâm nhiễm, u phong (gặp trong phong thể trung gian và thể u).
Thương tổn thần kinh ngoại biên:
- Các dây thần kinh ngoại biên viêm to, hay bị nhất là dây trụ, dây quay, dây chày sau...mất cảm giác (nóng lạnh, đau, xúc giác) tại các vùng da do dây thần kinh chi phối. Nếu không điều trị kịp thời có thể dẫn đến tàn tật như: Cò ngón tay, ngón chân, bàn chân rủ, hở mi...
Ngoài ra có thể gặp một số triệu chứng khác như: Rối loạn bài tiết (da khô, bóng mỡ), rối loạn dinh dưỡng (rụng lông mày, loét ổ gà...), viêm mũi, viêm thanh quản...
Đường lây truyền bệnh Phong
Bệnh phong có lây không
Bệnh phong là bệnh lây truyền, tuy nhiên lây chậm, lây ít và rất khó lây. Bệnh lây là do tiếp xúc gần gũi, nhiều và thường xuyên với nguồn bệnh. Theo nhiều nhà nghiên cứu, tỷ lệ lây lan giữa vợ - chồng, nếu một trong hai người bị bệnh chỉ từ 3 - 5%.
Đối tượng nguy cơ bệnh Phong
Đối tượng có nguy cơ mắc bệnh phong cao nhất là những người sống ở khu vực có nhiều người mắc bệnh phong, có thể kể đến một số khu vực như một số địa phận thuộc Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nepal, Ai Cập,... đặc biệt là những người tiếp xúc thường xuyên với người nhiễm bệnh phong.
Một số bệnh nhân có các khuyết tật di truyền trong hệ thống miễn dịch như là khuyết tật ở vùng Q25 trên nhiễm sắc thể 6 có khả năng năng cao bị nhiễm bệnh lý này
Những người thường xuyên xử lý một số động vật nhất định như armadillos, tinh tinh châu Phi, khỉ mặt xanh cổ trắng và khỉ đuôi dài, được biết có mang theo vi khuẩn phong do bị lây nhiễm vi khuẩn từ động vật, đặc biệt nếu họ không đeo găng tay bảo vệ khi xử lý các động vật này.
Phòng ngừa bệnh Phong
Hiện nay các nhà khoa học vẫn chưa nghiên cứu được vắc xin điều trị bệnh phong, do đó để không bị mắc bệnh phong, thực hiện biện pháp phòng tránh là chủ yếu.
Tuyên truyền giáo dục sức khỏe bằng nhiều hình thức để mọi người hiểu rõ hơn về bệnh phong, không xa lánh, sợ hãi, tránh kỳ thị các bệnh nhân bị bệnh phong.
Vệ sinh môi trường sạch sẽ, ăn uống, cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng nhằm nâng cao sức đề kháng cho cơ thể.
Khi nghi ngờ có triệu chứng của bệnh phong, cần đến các cơ sở y tế để được tư vấn, chẩn đoán và điều trị kịp thời, tránh tàn tật có thể xảy ra.
Các biện pháp chẩn đoán bệnh Phong
Hiện nay, có 2 phương pháp chủ yếu để chẩn đoán bệnh phong:
- Tìm trực khuẩn phong: Bệnh phẩm là dịch tiết hoặc một phần tổ chức sinh thiết tại các thương tổn da hoặc thương tổn thần kinh. Nhuộm theo phương pháp Ziehl-Neelsen thấy trực khuẩn bắt màu đỏ đứng thành bó, thành cụm hoặc rải rác.
- Sinh thiết: Trong trường hợp khó chẩn đoán có thể sinh thiết thương tổn để xác định hình ảnh giải phẫu bệnh lý đặc hiệu.
Các biện pháp điều trị bệnh Phong
Bệnh phong có chữa được không
Theo thống kê,trong hai thập kỷ qua đã có đến 16 triệu bệnh nhân phong được điều trị khỏi hoàn toàn, do đó bệnh phong là một bệnh lý có thể chữa khỏi và được Tổ chức Y tế Thế giới cung cấp điều trị miễn phí.
Nguyên tắc điều trị:
- Tất cả các bệnh nhân phong phải được điều trị bằng đa hóa trị liệu đủ liều, đủ thời gian quy định.
- Điều trị tại nhà và miễn phí hoàn toàn. Trường hợp có biến chứng có thể điều trị nội trú tại các cơ sở y tế.
Thuốc tây điều trị bênh phong:
-dapson
-air pill
=========================================================================================================
Gói cước Fast Connect trọn gói chu kỳ dài mobile phone không giới hạn data
F150 (90 ngày) ON F150 gửi 9084 3 GB/30 ngày 150.000đ
F250 (180 ngày) ON F250 gửi 9084 3GB/30 ngày 250.000đ
F500 (360 ngày) ON F500 gửi 9084 c hu kỳ đầu: 8GB/30 ngày
Từ chu kỳ thứ 2 -12: 5GB/30 ngày 500.000đ
hoặc dùng cú pháp dk f150 gửi 999 150'000 vnd
.






